Ngày 11-07-2010
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Tình thương và trách nhiệm
Linh mục Phêrô Hồng Phúc
05:27 11/07/2010
TÌNH THƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM

Đoạn đường từ Jerusalem xuống Jericho toàn là rừng núi hiểm trở. Đức Giêsu đã kể cho người thông luật một hình ảnh thường xảy ra trong thực tế (Lc 10,30-37). Vì đoạn đường đó hiểm trở nên hay có cướp. Một người kia không may bị rơi vào tay bọn cướp. Chúng đánh người này nửa sống nửa chết, cướp hết của cải rồi bỏ đi. Câu chuyện về một người bị cướp ở dọc đường xem ra không có gì đáng nói ở rừng núi và những chuyện cướp bóc xảy ra trong khung cảnh giữa đường như vậy là rất bình thường. Nhưng Đức Giêsu đã chú ý tới hình ảnh của những người đi qua đoạn đường đó.

Trước hết là một thầy tư tế, là người lãnh đạo trong dân, và vào thời Đức Giêsu, những người lãnh đạo tôn giáo thường bao quát cả vấn đề xã hội, vì trong một đất nước quốc giáo thì vai trò lãnh đạo của người tư tế là rất lớn. Có thể người tư tế này sợ bị mắc nhơ nên đã nhắm mắt bỏ qua. Rồi thầy trợ tế cũng là một người có thế giá, cũng cùng một cách ứng xử như thầy tư tế là nhắm mắt đi qua chỉ có người Samaria đi đến với nạn nhân. Từ lâu trong mắt của những người Do Thái thì người Samaria là người ngoại đạo, được coi là những thành phần không tốt. Vậy mà chính người Samaria này lại tỏ lòng thương xót với nạn nhân. Nói theo từ ngữ hiện đại, ông sơ cứu cho người bị nạn, là bóp dầu và cho dìu nạn nhân này vào quán trọ gần đó. Ông có một tình thương như thế nhưng ông còn có một trách nhiệm lớn lao đáng khâm phục đó là ông đưa ra hai quan tiền và nói với chủ nhà “Ông hãy săn sóc người này, ngoài ra còn hơn bao nhiêu, khi trở về tôi sẽ thanh toán”(Lc 10.35). Với một thái độ như vậy của người Samaria đã cho chúng ta thấy ông là người vừa động lòng thương lại có tinh thần trách nhiệm rấtcao đối với người gặp nạn.

Khung cảnh mà Đức Giêsu đưa ra cho người thông luật để lựa chọn xem ai là người anh em có tình yêu thương đích thật. Dường như khung cảnh ấy không còn trong thời đại hiện đại của chúng ta, vì chỉ cần một cuộc điện thoại di động thì cảnh sát giao thông đã nhanh chóng có mặt, nhưng những nhân vật được kể đến trong câu chuyện thì ở thời đại của chúng ta lại còn có nhiều và nhiều gấp bốn lần nữa so với thời Đức Giêsu:

- Thứ nhất, thời đại của chúng ta vẫn còn có những nạn nhân hay những người nghèo khổ bên vệ đường. Một cái nghèo khổ về vật chất thật sự của những người chỉ còn biết ngửa tay ăn xin; Công đồng Vatican II nhận định: “Chưa bao giờ nhân loại dồi dào của cải, khả năng và quyền lực kinh tế như ngày nay, nhưng một phần lớn nhân loại lại đói ăn và mù chữ” (Lumen gentium No 4)

- Thứ hai, thời đại của chúng ta vẫn còn có những người nghèo về tinh thần. Bởi vì chúng ta đang sống trong thời đại không chỉ có nền văn minh tình thương mà còn có cả “nền văn minh sự chết”. Đó là cách hưởng thụ và người giàu đục khoét trên chính của cải của người nghèo làm cho người nghèo càng nghèo hơn. Cái cách hưởng thụ ích kỷ đó đã đưa bao nhiêu con người phải chết về tinh thần và văn hóa. Chúng ta gọi đó là nền văn minh của sự chết. Hiến chế Công đồng nhận định: “Thế giới ngày nay tỏ ra vừa mạnh vừa yếu, có khả năng thực hiện những điều tốt đẹp nhất hoặc xấu xa nhất. Đang khi ấy, trước mắt nó là con đường dẫn tới tự do hoặc nô lệ, tiến bộ hoặc thoái hoá, huynh đệ hoặc đố kỵ.” (Sđd No 9).

- Thứ ba, thời đại của chúng ta có những người nghèo về tình thương. Người ta bóc lột nhau chưa đủ, người ta còn làm hại nhau. Bởi vì có làm hại nhau như thế thì người này chìm xuống người kia mới nổi lên, thời đại của chúng ta xuất hiện nhiều người nghèo tình thương. Mà những người nghèo về tình thương lại giàu có về vật chất. Đó là một sự đảo lộn rất tương phản. Vào thời Đức Giêsu có những Da-kêu sẵn lòng chia một nửa gia tài cho người nghèo khó, dám đền bù gấp bốn lần những gì mà mình làm thiệt hại cho người khác (x. Lc 19, 1-10). Nhưng thời đại của chúng ta thì không có đâu! Những người giàu là những người phải tích trữ, là những người phải hưởng thụ và đó lại là những người nghèo tình thương. Số những người nghèo tình thương này trong thời đại của chúng ta đang ngày càng xuất hiện nhiều.

- Thứ bốn, thời đại của chúng ta nghèo về sự sống. Bởi vì người ta phá thai từ trong lòng mẹ, phá những thai nhi vô tội. Người ta coi sự sống là một sự diễn tiến như những bức tranh sinh hoạt của tự nhiên. Từ thế kỷ XVIII xuất hiện thuyết vô thần, người ta không còn tin gì vào thần thánh, không còn tin vào linh thiêng, không có linh hồn gì hết. Con người cũng chỉ là một động vật cấp cao và người ta ứng xử với sự sống như một bức tranh thiên nhiên mà trong đó các loài động vật cấp cao và động vật bậc thấp sống chung với nhau, và vì thế người ta có thể giết thai nhi. Ở Trung Quốc người ta còn tung lên mạng những Clip video ăn thịt người, họ cũng thui, họ cũng mở bụng,cắt tiết... Như vậy, thời đại của chúng ta là thời đại nghèo về sự sống. Vì vào thời Đức Giêsu đâu có xảy ra những sự tàn nhẫn và dã man như vậy. Cho nên cái nghèo ở thời đại của chúng ta không những bốn lần mà còn cấp số nhân nữa vì người ta càng ngày càng quay lưng lại với tình thương của Chúa.

Tình thương của Chúa được biểu lộ cách nào? Trong cõi lòng của người Samaria, ông đã động lòng thương. Đó là cách duy nhất thể hiện nhân phẩm của con người, là cách thể hiện hình ảnh của Thiên Chúa vì Thiên Chúa là tình yêu. Chỉ có con người mới biết chảy nước mắt trước nỗi đau của người khác mà loài vật không có. Vì vậy, khi thấy nạn nhân, người Samaria đã động lòng thương. Đó là cách thức của Thiên Chúa. Và lòng thương ấy, không chỉ trong một lúc nhưng là với đầy tinh thần trách nhiệm, dù ông có phải đi xa thì ông vẫn để mắt tới:“Nhờ ông săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại ông”(Lc 10,35). Hình ảnh của người Samaria này khiến chúng ta bất giác nghĩ tới Đức Giêsu trong dụ ngôn người mục tử nhân lành bỏ chín mươi chín con chiên để đi tìm con chiên lạc, vác trên vai trở về (Lc 15,4-7). Có phải chăng sự động lòng thương và tinh thần trách nhiệm chính là lời mời gọi để các linh mục ngày nay trong cương vị chăm sóc đoàn chiên mà Chúa trao phó; lời mời gọi cho các gia trưởng ngày nay trong giữa gia đình mà Chúa giao trách nhiệm đều phải gắn bó với tình thương và trách nhiệm như vậy. Nếu bỏ tình thương thì không còn là một mái ấm gia đình. Nếu thiếu trách nhiệm thì không còn gì là chức vụ của gia trưởng hay người chủ chiên chăm sóc đoàn chiên nữa. Vì vậy, hình ảnh người chủ chiên phải phục vụ, người gia trưởng phải lo cho gia đình trong tinh thần trách nhiệm, quán xuyến và tất cả được diễn ra trong bầu khí gia đình như quán trọ kia được gọi là nơi săn sóc vết thương làm cho những vết thương đau được chữa khỏi. Đó chính là những lời mời gọi mà Thiên Chúa gửi vào trong thế giới của chúng ta hôm nay. Thế giới của chúng ta hôm nay có quá nhiều những chủ chiên, những nhà lãnh đạo đạo đời, những gia trưởng đã thiếu đi trách nhiệm và tình thương mà chỉ biết sống theo kiểu “hành chính – sự nghiệp”; có quá nhiều những người gia trưởng lẽ ra phải lấy tình thương mà thay thế cho quyền hành thì quyền hành lại lấn át hết cả tình thương khiến cho mái ấm gia đình không còn là gia đình nữa mà là nơi hành chính sự nghiệp. Tôi đã được nghe lại câu chuyện thương tâm, rằng xác chết kia trôi trên dòng sông, dạt vào bờ bên này, chính quyền địa phương cho đẩy sang bờ bên kia. Chính quyền bên kia lại cho đẩy sang bên này kẻo bị liên luỵ ! Sống đã vậy, đến cả xác chết cũng bị trôi dạt giữa dòng đời đưa đẩy của những người thiếu trách nhiệm !

Ngày hôm nay, Đức Giêsu đã kể cho người thông luật một hình ảnh thường xảy ra trong thực tế, người thông giáo này đã biết nhận ra người anh em chính là người tỏ lòng thương xót nạn nhân. Đức Giêsu kết luận “Ông cũng hãy đi và làm như vậy”. Nghĩa là không phải phân tích thêm điều gì, nhắn nhủ thêm điều gì nữa vì tình thương và trách nhiệm là đầy đủ cho cách ứng xử của con người, nhất là con người của thời nay.

Lạy Chúa Giêsu,

Xin Chúa trở lại với đàn chiên chúng con,
Xin Chúa trở lại với gia đình của chúng con
để dạy cho các gia trưởng
cũng như để dạy cho các linh mục ngày nay
bài học của tình thương và trách nhiệm.
Xin đừng để chúng con băng qua thế giới đang băng hoại
vì môi trường bị ô nhiễm
và vì tinh thần trách nhiệm bị xuống dốc,
nhưng xin cho chúng con nâng đỡ gia đình mình,
nâng đỡ thế giới của chúng con
bằng chính tình thương và trách nhiệm
như chính Chúa đã hiện diện trong thế giới của chúng con,
như Chúa đã làm gương cho chúng con,
trong vai trò của người mục tử,
vác chiên lạc trên vai trở về nhà săn sóc,
yêu thương và ban cho chiên lạc sự sống.
Không những sự sống đời này, nhưng nhất là đạt tới sự sống đời đời. Amen.


 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho năm 2011
Văn phòng TGM Bùi Chu
21:19 11/07/2010
THÁNG GIÊNG

Ý chung: Cầu cho việc bảo tồn những gì Thiên Chúa đã tạo dựng. Xin cho mọi người biết bảo tồn những gì đã được tạo dựng như món quà quý báu mà Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Ý truyền giáo: Cầu cho sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu. Xin cho các Kitô hữu đạt tới sự hiệp nhất trọn hảo, trở nên chứng nhân của Thiên Chúa giữa toàn thể nhân loại.

THÁNG HAI

Ý chung: Cầu cho vai trò của gia đình được tôn trọng. Xin cho mọi người nhận ra và tôn trọng vai trò của gia đình, cũng như những đóng góp không thể thay thế của gia đình đối với toàn thể xã hội.

Ý truyền giáo: Cầu cho các bệnh nhân tại các miền truyền giáo trên toàn thế giới. Xin cho các cộng đoàn Kitô hữu biết làm chứng cho sự hiện diện của Đức Kitô nơi những người đau khổ.

THÁNG BA

Ý chung: Cầu cho các dân tộc ở Châu Mỹ Latinh. Xin cho các dân tộc tại Châu Mỹ Latinh luôn trung thành với Tin Mừng, thực thi một xã hội công lý và hoà bình.

Ý truyền giáo: Cầu cho các Kitô hữu bị bách hại. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng và thêm sức mạnh cho các cộng đoàn Kitô hữu đang bị bách hại và bị phân biệt đối xử vì Tin Mừng.

THÁNG TƯ

Ý chung: Cầu cho việc rao giảng Tin Mừng trong thời đại mới. Xin cho mọi người trong thời đại mới này tìm ra những giải đáp của cuộc sống luôn biến đổi và niềm hy vọng nhờ việc rao giảng Tin Mừng.

Ý truyền giáo: Cầu cho các nhà truyền giáo. Xin cho các nhà truyền giáo, nhờ việc rao giảng Tin Mừng và chứng tá đời sống của họ, biết mang Chúa Kitô đến cho những ai chưa nhận biết Ngài.

THÁNG NĂM

Ý chung: Cầu cho những người đang hoạt động trong lãnh vực truyền thông. Xin cho họ luôn biết tôn trọng sự thật, tình liên đới và phẩm giá của mỗi người.

Ý truyền giáo: Cầu cho Giáo Hội tại Trung Quốc. Xin cho Giáo Hội tại Trung Quốc biết trung thành gìn giữ hạt giống Tin Mừng và phát triển tình hiệp nhất.

THÁNG SÁU

Ý chung: Cầu cho các linh mục. Xin cho các linh mục luôn kết hiệp mật thiết với Thánh Tâm Chúa, ngõ hầu trở nên những chứng tá đích thực của tình yêu và lòng thương xót Chúa.

Ý truyền giáo: Cầu cho ơn gọi truyền giáo. Xin Chúa Thánh Thần làm phát sinh dồi dào ơn gọi truyền giáo nơi các cộng đoàn Kitô hữu, để họ sẵn sàng dâng hiến trọn cuộc đời cho việc mở mang Nước Chúa.

THÁNG BẢY

Ý chung: Cầu cho các bệnh nhân AIDS. Xin cho các Kitô hữu bằng những đóng góp của mình có thể xoa dịu những gánh nặng về vật chất cũng như tinh thần của các bệnh nhân AIDS, nhất là tại những quốc gia nghèo khổ nhất.

Ý truyền giáo: Cầu cho các tu sĩ đang hoạt động tại những miền truyền giáo. Xin cho họ trở nên những chứng nhân của niềm vui Tin Mừng và trở nên dấu chỉ sống động của tình yêu Chúa Kitô.

THÁNG TÁM

Ý chung: Cầu cho Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức tại Madrid. Xin cho Đại Hội sẽ là dịp khích lệ các bạn trẻ trên toàn thế giới biết tìm về căn cội và nền tảng cuộc sống mình nơi Đức Kitô.

Ý truyền giáo: Cầu cho các Kitô hữu tại Âu Châu. Xin cho họ tìm lại được sự canh tân và lòng nhiệt thành đối với đức tin đã nhận được nhờ ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần.

THÁNG CHÍN

Ý chung: Cầu cho các nhà đào tạo. Xin cho họ biết chuyển tải tình yêu trong chân lý và giáo dục dựa trên nền tảng luân lý vững chắc và những giá trị tâm linh.

Ý truyền giáo: Cầu cho các cộng đoàn Kitô hữu tại Á Châu. Xin cho các cộng đoàn Kitô hữu tại khắp lục địa Á Châu biết rao giảng Tin Mừng với lòng nhiệt thành và nên nhân chứng của đức tin.

THÁNG MƯỜI

Ý chung: Cầu cho bệnh nhân đang trong giai đoạn cuối. Xin cho các bệnh nhân đang gặp đau đớn, được nâng đỡ trong tình yêu Chúa và nơi tha nhân.

Ý truyền giáo: Cầu cho ngày Khánh nhật Truyền giáo. Xin cho dân Chúa niềm hăng say rao giảng Tin Mừng và đóng góp cho hoạt động truyền giáo bằng lời cầu nguyện và sự trợ giúp tài chính cho các Giáo Hội nghèo nhất.

THÁNG MƯỜI MỘT

Ý chung: Cầu cho các Giáo Hội Đông phương. Xin cho giá trị truyền thống đáng kính của họ được nhận ra và được coi trọng như là một kho tàng tâm linh cho toàn thể Hội Thánh.

Ý truyền giáo: Cầu cho lục địa Phi Châu. Xin cho lục địa này tìm thấy nơi Đức Kitô sức mạnh để thực hiện tiến trình hoà giải và công lý, như đã được nêu ra trong Thượng Hội đồng Giám mục Phi Châu lần II.

THÁNG MƯỜI HAI

Ý chung: Cầu cho các dân tộc. Xin cho các dân tộc trên toàn thế giới biết tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau phát triển trong liên đới và hoà bình.

Ý truyền giáo: Cầu cho nạn bạo hành trẻ em chấm dứt. Xin cho các trẻ em và người trẻ trở nên sứ giả của Tin Mừng và phẩm giá của họ luôn được tôn trọng và bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo hành và xâm hại.

Dịch từ Agenzia Fides 23/01/2010
 
ĐTC nói: người Kitô hữu là ''một trái tim biết mở đôi mắt'' nhìn thấy ở đâu đang cần tình thương, và theo đó mà hành động
Bình Hòa
22:39 11/07/2010
Kinh Truyền tin chúa nhựt 11-7

Từ chiều thứ 4 tuần qua, Đức Thánh Cha đã về biệt thự Castel Gandolfo, cách Rôm khoảng 30 cây số để nghi hè. Chúa nhật hôam qua là lần ra mắt công cộng lần đầu tiên tại nơi này. Vì thế những lời mở đầu bài huấn dụ trước khi đọc kinh Truyền tin là chào thăm dân cư địa phương cũng như các khách hành hương, có thể đến gần bao lơn hơn là tại quảng trường thánh Phêrô. Chủ đề của bài suy niệm dựa theo bài Tin mừng chúa nhựt XV thường niên, về dụ ngôn người Samari nhân hậu, mẫu gương của kẻ đã trở nên thân cận đối với những ai đang cần giúp đõ, dù là kẻ vô danh tiểu tốt. Trong phần thứ hai của bài huấn dụ, đức Bênêđictô XVI cũng nhắc đến lễ kính vị thánh được chọn làm bổn mạng. Trong tiếng Việt, tên của vị thánh được dịch là Bênêđictô theo lối phiên âm Latinh Benedictus, theo nguyên ngữ có nghĩa là kẻ được Chúa chúc phúc. Trong quá khứ, thánh nhân được nhìn nhận như là tổ phụ của đời đan tu bên Tây phương, bởi vì suốt thời Trung cổ, các đan viện đều giử bản luật của ngài, còn các cộng đoàn giáo sĩ thì giữ luật thánh Augustinô. Vào năm 1964, sau khi đức thánh cha Phaolô VI đặt người làm bổn mạng của châu Âu, người ta đã đánh giá công trình của các đan sĩ trong việc bảo vệ văn minh châu Âu khỏi sự tàn phá của dân man di. Tuy nhiên ngày nay, đức đương kim Giáo hoàng muốn nêu bật việc kiến tạo một châu Âu thống nhất cần phải dựa trên một nền luân lý đạo đức, mà thánh Biển đức đã vạch ra. Sau đây là nguyên văn bài suy niệm

Anh chị em thân mến

Như anh chị em thấy, từ mấy bữa nay, tôi đã rời Rôma và đến nghỉ ở Castel Gandolfo. Tôi xin cám ơn Chúa đã ban cho tôi có dịp để nghỉ ngơi. Tôi xin gửi lời chào thăm đồng bào tại đây, nơi mà tôi rất thích thú được trở lại. Bài Tin mừng chúa nhựt hôm nay mở đầu với một thắc mắc do một luật gia đặt ra cho Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để thừa hưởng đời sống vĩnh cửu?" (Lc 10,25). Biết rằng ông ta là một chuyên gia về Kinh thánh, Chúa yêu cầu ông ta hãy tự tìm câu giải đáp. Thực vậy, ông ta đã trình bày rất chính xác khi tóm lược hai giới răn chính: Mến Chúa hết lòng, hết trí, hết sức và mến người thân cận như bản thân. Thế rồi ra như để tự biện minh, luật gia hỏi thêm: "Ai là người thân cận của tôi?" (Lc 10,29). Lần này Chúa Giêsu trả lời với dụ ngôn thời danh về người Samari nhân hậu (xc Lc 10,30-37), để chỉ cho chúng ta biết cách trở nên "thân cận" đối với bất cứ ai đang cần được giúp đỡ. Thực vậy, người Samari đã quan tâm đến thân phận của một kẻ vô danh đã bị quân cướp bỏ rơi nửa sống nửa chết bên vệ đường, đang khi một tư tế và một thầy cúng đã tránh né, có lẽ bởi vì họ sợ sẽ bị ô uế khi chạm đến máu me, dựa theo điều luật Mosê. Vì thế dụ ngôn này thôi thúc chúng ta hãy biến đổi não trạng của mình cho phù hợp với lý luận của Chúa Kitô, tức là lý luận của tình yêu: Thiên Chúa là tình yêu, và phụng thờ Chúa có nghĩa là phục vụ anh em với lòng yêu thương chân thành và quảng đại.

Trình thuật Tin mừng hôm nay cung cấp một "tiêu chuẩn đo lường", nghĩa là "tinh yêu đại đồng dành cho người túng thiếu mà ta gặp cách tình cờ" (xc Lc 10,31), bất cứ họ là ai (Thông điệp Deus caritas est số 25). Bên cạnh quy luật phổ quát đó còn có một yêu sách của Giáo hội nữa, đó là "trong Giáo hội, xét là một gia đình, không ai phải chịu đau khổ do sự túng thiếu". Chương trình của một người Kitô hữu, được đào tạo từ lời dạy của Chúa Giêsu, là "một trái tim biết mở đôi mắt" nhìn thấy ở đâu đang cần tình thương, và theo đó mà hành động.

Các bạn thân mến, tôi muốn nhắc nhớ rằng hôm nay Giáo hội kính nhớ thánh Bênêđictô Norcia - thánh Bổn mạng của triều giáo hoàng của tôi - là tổ phụ và nhà lập pháp của các đan sĩ Tây Phương. Thánh Grêgôriô Cả mô tả Người như là "một con người có cuộc đời thánh thiện do tên gọi và nhờ ơn thánh". Người đã viết một bản luật cho các đan sĩ, như tấm gương phản chiếu lời dạy phát ra từ con người của mình: thực vậy vị thánh không dạy điều gì khác với điều mà mình đã sống". Đức Thánh Cha Phaolô VI đã tuyên bố thánh Bênêđictô làm bổn mạng châu Âu ngày 24 tháng 10 năm 1964, nhìn nhận công trình to tác của Người đối với việc đào nặn văn minh châu Âu.

Chúng ta hãy ký thác cho đức Trinh nữ Maria con đường lữ hành đức tin, đặc biệt là trong thời gian nghỉ ngơi này, ngõ hầu tấm lòng chúng ta đừng bao giờ bỏ qua Lời của Chúa và những anh em đang túng thiếu.
 
Di sản của Rosmini
Vũ Văn An
22:54 11/07/2010
Rosmini là một linh mục, một tư tưởng gia, một triết gia, một nhà chính trị học, một chính khách, một nhà ngoại giao, một văn sĩ, để lại một di sản trước tác lớn lao gồm hơn một trăm cuốn về đủ mọi bình diện văn hóa, tôn giáo, chính trị và nhân bản, tạo ra một tổng hợp vĩ đại giữa lý trí và đức tin trong lịch sử Âu Châu và lịch sử Giáo Hội Kitô Giáo.

Bác Ái, một tu hội độc đáo

Nhưng đóng góp đáng chú ý đầu tiên phải kể là Tu Hội Bác Ái do ông sáng lập. Tu Hội này được tổ chức lần đầu năm 1830 và được Tòa Thánh chuẩn phê năm 1838. Tại Ý, các tu sĩ của Tu Hội thường được gọi là Các Cha Rosminian (Rosminiani), nhưng bên ngoài nước Ý, người ta quen gọi các ngài là các cha Dòng Bác Ái (I.C. = Insitute of Charity).

Mục tiêu của Tu Hội là đức ái trọn hảo. Tình yêu Thiên Chúa là sự viên mãn của luật lệ (plenitudo legis) vì từ chính bản chất của nó, đức ái vươn tới mọi con cái Thiên Chúa, đúng hơn tới toàn bộ Tạo Dựng. Bậc sống trước nhất hay ưu tuyển của một tu sĩ Bác Ái chính là điều “duy nhất cần thiết” (unum necessarium) như Chúa Kitô đã nói về Maria, hay cuộc sống chiêm niệm. Nhưng điều đó không có nghĩa loại bỏ hoạt động vì cầu nguyện dẫn ta tới nghiên cứu và cổ vũ công lý cũng như công ích.

Tinh thần của Tu Hội Bác Ái được biểu lộ một cách mạnh mẽ qua niềm tin cho rằng Thiên Chúa nói với con người nhiều cách; Người biểu lộ thánh ý Người tùy theo khả năng mỗi người. Tu Hội Bác Ái cũng cho rằng tuy bác ái là một nhưng được thể hiện qua ba phương diện. Có ba điều tốt liên quan đến bình diện thể lý, tri thức và luân lý thế nào, thì bác ái cũng được phân chia thành trần thế (temporal), tri thức và thiêng liêng như vậy. Bác ái trần thế là loại bác ái thấp nhất, cung cấp sự thiện thấp nhất. Cao hơn thế nhiều là loại bác ái nhằm gia tăng hiểu biết chân lý. Nhưng cao hơn cả là loại bác ái chăm lo các linh hồn. Đối với Tu Hội, đời sống tu trì và đời sống mục vụ phải gắn bó để trở nên một, đó chính là đỉnh cao của bác ái, khiến tu sĩ Rosmini chỉ đi tìm địa vị ‘binh nhì’, vô danh ẩn tánh, trong Giáo Hội. Nôn nao đi tìm vinh dự và quyền hành là phản bội lý tưởng của mình. Nói cách khác, phải thụ động trong cõi vô danh ẩn tánh cho tới khi việc công kêu mời, vẫy gọi. Lúc ấy, người tu sĩ Rosmini phải can đảm, tin tưởng, kiên tâm lãnh nhận và lao mình vào làm việc.

Giống phần lớn các dòng tu khác, Tu Hội Bác Ái gồm các hội viên nhận sống trọn kỷ luật của Tu Hội, khấn trọn đời sống theo ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời. Bên cạnh đó còn có các hội viên có gia đình hay độc thân, không sống đời sống tận hiến, ‘tu dòng’ nhưng cố gắng sống theo các đặc sủng của Tu Hội, cầu nguyện hằng ngày và gặp gỡ các hội viên khác khi có thể.

Người muốn sống các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời phải qua một thời kỳ tìm hiểu kỹ lưỡng. Sau 2 năm tập, sẽ được khấn tạm, được gọi là tu sinh (scholastic), nhưng chỉ được kể là hội viên chính thức của Tu Hội khi trở thành tu sĩ hậu bổ (coadjutor) sau một thời kỳ chuẩn bị về đời sống tu trì, về linh đạo và học tập. Các tu sĩ hậu bổ phải thêm lời hứa không được mưu cầu bất cứ chức tước nào, cả trong Tu Hội lẫn ngoài Tu Hội. Các lời khấn dòng được lặp lại vào lúc này, nhưng từ nay, trở thành vĩnh viễn. Các tu sĩ hậu bổ này được chia thành hai: tu sĩ hậu bổ nội viện sống trong các nhà của Tu Hội, tu sĩ hậu bổ ngoại viện sống tại các nơi khác. Các trưởng sĩ (presbyters) được chọn trong số các tu sĩ hậu bổ nội viện. Các vị này phải khấn thêm lời khấn đặc biệt vâng phục đức giáo hoàng. Tóm lại, các hội viên chính thức của Tu Hội bao gồm các tu sĩ hậu bổ và các trưởng sĩ. Các trưởng sĩ này là những người chủ trì đời sống và hoạt động của Tu Hội, được ủy nhiệm các công tác có tính phổ quát hơn.

Đối với tu sĩ Rosmini, khó nghèo không có nghĩa từ bỏ mọi sở hữu; đúng hơn, nó có nghĩa không bị chiếm hữu bởi các sở hữu của mình; chính vì thế, các thành viên của Tu Hội được phép có sở hữu riêng. Đây là nét khá đặc trưng của Tu Hội, một đặc trưng vốn không được Tòa Thánh hài lòng, cho rằng chỉ có tính xúc cảm chứ không hữu hiệu (affective, not effective). Nhưng Rosmini trả lời bằng cách ấn định ra các điều kiện cho quyền tư hữu này: nó chỉ là tối thiểu dưới mắt luật lệ dân sự và người tu sĩ phải sẵn sàng, vì đức vâng lời, mà từ bỏ cả thứ tư hữu nhỏ nhoi đó; đàng khác, không tu sĩ nào có thể mặc tình giữ, quản lý hay sử dụng một đồng xu. Ông cũng nói tới bản chất tư hữu, ví nó như bắp thịt cổ (complexus) của mọi thứ quyền; mà quyền lợi là tương quan và có thể phân chia; chúng có tương quan với Nhà Nước hay Giáo Hội; tu sĩ giữ sở hữu chỉ có tương quan với Nhà Nước, và không có tính tuyệt đối. Theo ông, sự nghèo khó tuyệt đối mới chống lại Phúc Âm, chứ không phải sự nghèo khó tương đối. Kể từ thời ông, việc để tư hữu dưới chủ quyền hợp pháp của các cá nhân này được nhiều người cho là sáng suốt. Hơn nữa, việc không ngừng đòi hỏi phải hy sinh quyền tư hữu kia đã mang lại nhiều ơn ích thiêng liêng.

Lời khấn khiết tịnh được hiểu theo nghĩa: không những không lập gia đình và phải tránh mọi sinh hoạt tính dục, mà còn phải biết cách cư sử với người khác một cách thích đáng. Lời khấn vâng lời có nghĩa phải lắng nghe các yêu cầu của người phụ trách, lưu ý tới lợi ích của Dân Chúa, và cầu nguyện để nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa trong các điều được yêu cầu.

Mục đích để hoạt động bác ái, nên Tu Hội chọn lối sống không làm cho các tu sĩ xa cách người khác. Họ không có tu phục hay lối hành xác nào đặc biệt, thay vào đó, họ sống nhiệm nhặt bằng cách chấp nhận các khắc khổ thường hằng trong thân phận tự chọn, không nhiều luật lệ, nhưng xác tín mạnh mẽ vào nguyên tắc để Tu Hội huấn luyện mình thành người Tu Hội muốn. Với Nhà Nước, Tu Hội không đòi hỏi bất cứ miễn trừ nào, chỉ là các quyền chung. Nếu quyền lập hội bị từ khước, Tu Hội vẫn sinh hoạt được một cách tư riêng và đầy chiêm niệm, nhờ thế vẫn đạt được mục tiêu của mình. Các thành viên của Tu Hội vẫn là các công dân, với đầy đủ mọi quyền lợi và nhiệm vụ. Đối với Giáo Hội, Tu Hội có mối tương quan chủ yếu này là sống cho Giáo Hội, không cho mình, không lẫn lộn quyền lợi của một tu hội với quyền lợi của Thế Giới Kitô Giáo, và được tổ chức sao cho luôn là đầy tớ của hàng giám mục. Tinh thần bè phái, phe nhóm bị luật Tu Hội loại bỏ vì đi ngược lại tinh thần của mình, bởi “nền tảng của Tu Hội là Sự Quan Phòng của Thiên Chúa Cha, đặt một nền tảng khác là hủy hoại nó”. Thay vì tìm cách làm cho mình lớn mạnh, khuynh hướng của Tu Hội là làm cho hiệp đoàn mọi tín hữu Công Giáo gần gũi nhau hơn và nhạy cảm với nhau hơn, giúp họ cảm nhận được sự vĩ đại của chính họ, cảm nhận mình mạnh hơn trần gian và là những người cùng làm việc với Đấng Quan Phòng trong kế hoạch đặt mọi sự dưới chân Chúa Kitô.

Hoạt động của Tu Hội phát triển khá nhanh. Ngay đầu thế kỷ 20, Tu hội đã phát triển mạnh tại Anh, tại Hoa Kỳ, Áo, Ái Nhĩ Lan. Từ Tu Hội, nhiều nhân tài đã xuất thân như Vincenzo de Vit, tác giả hai công trình giá trị: cuốn "Lexicon totius Latinitatis", và cuốn "Onomasticon", một cuốn từ điển về tên riêng; Giuseppe Calza, một triết gia tiếng tăm; Paolo Perez, trước đây là giáo sư tại Padua và là bậc thầy về lối văn Ý hết sức tinh tế; Gastaldi, sau làm Tổng Giám Mục Turin; Cardozo-Ayres, Giám Mục Pernambuco, qua đời tại Rôma lúc tham dự Công Đồng Vatican I, và xác không thối rữa sau đó được chuyền về giáo phận chính tòa của ngài và được nhiều người tôn kính. Tại Anh có Cha Richard Richardson, người tổ chức thánh chiến chống sự vô độ được 70,000 tham gia; và Cha Joseph Hirst, thành viên Viện Khảo Cổ Hoàng Gia. Hiện nay, ngoài các nước trên, Tu Hội còn hiện diện tại Ấn Độ, Tân Tây Lan, Tanzania, Kenya và Venezuela.

Chống chủ nghĩa toàn trị

Di sản đáng kể thứ hai là các trước tác về chính trị học của Rosmini. Như nguyên Tổng Thống Gronchi của Ý trước đây từng nói, Rosmini là người đã khai sinh “các định chế tự do của chúng ta”, “là bậc thầy của nguyên lý tự do”, người “đã mạnh mẽ tuyên xưng các bổn phận và quyền lợi” cần thiết của tự do, người mãi mãi “trung thành với lý tưởng tự do trong các trước tác triết học của mình, trong khi đó, về lãnh vực hoạt động chính trị, ông luôn nhất quán với nguyên lý cai trị theo hiến định”. Các đóng góp có tính nền tảng của ông trong phạm vi này đã được Đức Hồng Y Saraiva Martins, Bộ Trưởng Thánh Bộ Phong Thánh, Triết Gia Dario Antiseri và Đại Sứ Anh bên cạnh Tòa Thánh Francis Campbell nhắc tới.

Ngày 1 tháng 7 năm 2008, tại Nhà Thờ Chánh Tòa Westminster, nhân ngày lễ kính lần đầu Chân Phúc Rosmini, Francis Campbell đã lên tiếng ca ngợi vị chân phúc độc đáo này. Ông nhất trí với nhận định của nguyên Tổng Thống Gronchi khi cho rằng Rosmini đóng vai trò chính trong việc tạo ra ý thức quốc gia Ý mà cuối cùng đã dẫn tới việc thống nhất nước Ý vào năm 1870. Campbell cũng cho rằng xét theo nhiều phương diện, Rosmini đã đi trước thời đại của ông trong các trước tác chính rị, triết học và thần học của mình. Các trước tác chính trị ấy đã không được các thế lực thực dân đế quốc ở Bắc Ý hồi đó, tức Áo, tiếp nhận. Không những thế, Đế Quốc ấy còn có nhiều thái độ tiêu cực đối với sinh hoạt hằng ngày của Giáo Hội. Điều ấy khiến Rosmini, vào năm 1823, đã lên tiếng kêu gọi phài dành cho Giáo Hội một sự độc lập lớn hơn đối với sự can thiệp của Nhà Nước. Cùng một lúc, ông cũng kêu gọi việc tôn giáo tách rời khỏi nhà nước, và nói chung phải có tự do tôn giáo. Không ai ngày nay phủ nhận được sự kiện ông là vị tiền hô của văn kiện Dignitatis Humanae mà Công Đồng Vatican đã đúc kết về tự do tôn giáo như Đức Hồng Y Martins vốn nhận định. Đức Hồng Y cho rằng các ý niệm cũng như ý kiến chính trị không phải là yếu tố xác định ra việc phong chân phúc cho Rosmini, bởi một lẽ giản dị là Giáo Hội cũng đã phong chân phúc cho Đức Piô IX, người có quan điểm chính trị khác với Rosmini. Tuy nhiên, theo Đức Hồng Y, không ai chối cãi được sự kiện này là lịch sử sau ông đã đi theo những gì Rosmini từng chủ trương về phương diện chính trị. Sandro Magister thì cho rằng trong cuốn "Filosofia della politica [Triết Lý Chính Trị Học]", Rosmini ca ngợi cuốn “Nền Dân Chủ Mỹ” của người đồng thời là Alexis de Tocqueville, cha đẻ của chủ nghĩa tự do thân tôn giáo. Ông không mệt mỏi bênh vực các quyền tự do của công dân và các bộ phận trung gian (intermediate) chống lại các lạm dụng của nhà nước uy quyền. Một điều cần ghi nhận là những người hiện đang truyền bá tư tưởng của Rosmini đều là những người theo chủ nghĩa tự do thân tôn giáo này. Ở Âu Châu, ta thấy có trường phái Vienna gồm những người như Ludwig von Mises và Friedrich von Hayek.

Tuy nhiên, không ai làm nổi bật chủ nghĩa tự do của Rosmini bằng triết gia Antiseri, giáo sư tại Libera Università degli Studi "Guido Carli" ở Rome, và là tác giả cuốn “Lịch Sử Triết Học” được dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong một bài đăng trên nhật báo “Avvenire” của Hội Đồng Giám Mục Ý ngày 1 tháng 11 năm 2007, Antiseri cho rằng các lý thuyết chính trị của Rosmini là khía cạnh nói lên tính độc đáo của ông hơn cả, một tính độc đáo mà nhiều người Công Giáo hiện nay không hẳn ủng hộ, trong số ấy có nhiều giám mục và linh mục. Sợ rằng sau việc phong chân phúc cho ông, tư tưởng ông về phương diện này vẫn còn rất lâu mới trở thành ngôn ngữ được chấp thuận trong Giáo Hội Công Giáo. Ở đây, Antiseri đề cập tới một khía cạnh trong tư tưởng chính trị của Rosmini: thái độ chống chủ nghĩa toàn trị của ông.

Theo Antiseri, quan tâm hàng đầu và căn bản của Rosmini trong lãnh vực chính trị là thiết lập ra các điều kiện cần thiết để bảo đảm phẩm giá và tự do của con người nhân bản. Trong nhãn quan này, vấn đề quyền tư hữu trở thành cốt yếu. Để chống lại lý thuyết kinh tế của phe xã hội chủ nghĩa, Rosmini minh nhiên chủ trương mối liên kết giữa quyền tư hữu và tự do cá nhân. Trong ‘Filosofia del dirito” (Triết Lý Về Quyền Lợi), ông ciết: “Tư hữu thực sự diễn tả sự kết hợp mật thiết giữa sự vật và con người. […] Tư hữu là nguyên lý khởi sinh ra các quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp. Tư hữu tạo nên một khu vực bao quanh con người mà con người nằm ở trung tâm: không một ai khác được phép bước vào khu vực ấy”.

Tôn trọng tư hữu của một người là tôn trọng chính con người đó. Tư hữu là phương tiện để con người tự bênh vực mình chống lại sự xâm lấn của Nhà Nước. Đối với Rosmini, con người có thể sai lầm, nhưng Nhà Nước thì không bao giờ toàn hảo cả. Và câu nói bất hủ của Rosmini là câu sau đấy trích từ cuốn “Triết Lý Chính Trị Học”:

“Chủ nghĩa toàn hảo, với nghĩa một hệ thống tin rằng: trong sự việc nhân bản, người ta có thể đạt được sự toàn hảo, và cần phải hy sinh cái tốt hiện tại để đạt sự toàn hảo tưởng tượng trong tương lai, là kết quả của ngu dốt. Nó bao hàm một tiên kiến (prejudice) đầy ngạo mạn vốn phán đoán một cách quá thuận lợi về bản tính con người, tự dựa vào những suy đoán thuần túy, vào định đề vô giá trị, và hoàn toàn thiếu suy nghĩ về các giới hạn tự nhiên”.

Chủ nghĩa toàn hảo quên mất nguyên tắc sự vật có giới hạn; nó không để ý gì tới chân lý: xã hội đâu có bao gồm “các thiên thần đầy ân sủng” mà bao gồm “những con người có thể lầm lẫn”; nó cũng quên rằng mọi chính phủ đều “hợp thành với những con người, vì là người, nên thẩy đều có thể sai lầm”. Người duy toàn hảo không sử dụng mà cũng không lạm dụng lý trí. Và những người bị ý niệm ma mãnh của chủ nghĩa toàn hảo đầu độc thẩy đều không tưởng. Những “tiên tri của hạnh phúc vô bờ” này với lời hứa một thiên đường hạ giới, thực ra, đang bận bịu xây nên những hỏa ngục cho các đồng bào mình.

Rosmini khẳng định rằng không tưởng là “mồ chôn mọi chủ nghĩa tự do chân thực” và “thay vì làm con người hạnh phúc, nó đào ra cả một hố thẳm của bất hạnh; thay vì làm con người cao thượng, nó biến họ trở thành những con thú đáng khinh; thay vì làm họ được bình an, nó đem lại chiến tranh toàn diện, thay thế luật pháp bằng bạo lực; thay vì phân phối, nó tập trung của cải; thay vì điều hòa hóa quyền cai trị, nó làm cho quyền ấy trở thành tuyệt đối; thay vì mở ra việc cạnh tranh cho mọi người trên mọi lãnh vực, nó tiêu diệt mọi hình thức cạnh tranh; thay vì khuếch trương kỹ nghệ, nông nghiệp, nghệ thuật và thương mãi, nó tước hết mọi sáng kiến khỏi chúng, ngăn cản mọi sáng kiến và hoạt động tự phát của tư nhân; thay vì thúc đẩy các trí khôn tạo ra các sáng chế lớn lao và các trái tim đạt được các nhân đức anh hùng, nó bóp nghẹt và đập nát bất cứ sinh khí nào của linh hồn, biến bất cứ cố gắng cao thượng nào, bất cứ lòng hào hiệp nào, bất cứ hình thức anh hùng nào thành số không; chính nhân đức cũng bị ngăn cấm, và cả niềm tin vào nhân đức cũng bị tiêu diệt hết”.

Theo Antiseri, ở đây cần ghi nhận điều này: liên hệ tới chủ trương bài toàn trị của Rosmini là phê phán mạnh mẽ của ông đối với sự ngạo mạn của luồng tư duy tự cho mình chiến thắng trong các trước tác của Phong Trào Ánh Sáng, để rồi sau đó cho sổ lồng đủ thứ khủng khiếp rợn người của Cách Mạng Pháp. Nữ thần Lý Trí là biểu tượng cho tham vọng của con người muốn chiếm chỗ của Thiên Chúa để tạo ra một xã hội toàn hảo. Phán xét của Rosmini dành cho tham vọng của Phong Trào Ánh Sáng khiến ta nhớ tới những nhận định tương tự của những người như Edmund Burke và Friedrich A. von Hayek.

Trong tư cách một người chống lại chủ nghĩa toàn hảo dựa trên “thương tích tự nhiên của con người”, Rosmini một lần nữa nhấn mạnh, trong “Triết Lý Chính Trị Học”, rằng việc ông chống lại chủ nghĩa toàn hảo “không nhằm bác bỏ khả thể hoàn hảo hóa của con người và xã hội. Vì việc con người càng sống càng có thể liên tục trở nên hoàn hảo hơn là một thực tại qúy giá; nó chính là một tín điều của Kitô Giáo”.

Như thế, chủ nghĩa bài duy toàn hảo của Rosmini hàm nghĩa một cố gắng lớn hơn. Từ cố gắng này, ông chú tâm tới điều ông gọi là “cuộc tranh luận lâu dài, công khai và tự do”. Chính nhờ cuộc tranh luận đầy thân hữu này, con người sẽ rút ra được những điều tốt đẹp nhất và loại bỏ được các lầm lẫn khỏi các dự án và ý niệm của mình. Trong “Triết Lý Chính Trị Học”, ông viết thêm: “Các cá nhân tạo thành một dân tộc không thể nào hiểu được nhau nếu họ không năng nói với nhau; nếu họ không mạnh mẽ đối chất với nhau; nếu lầm lẫn không được rút ra từ tâm trí họ để rồi đánh phá chúng dưới mọi hình thức”.

Trong tư cách một người chống lại chủ nghĩa duy Nhà Nước, và do đó, bênh vực “các bộ phận trung gian” và trong tư cách người đấu tranh cho tự do, Rosmini rất chú tâm tới các đau khổ và vấn nạn của người bần cùng và thất thế nhất. Nhưng bổn phận liên đới theo tinh thần Kitô Giáo không cho phép ta nhắm mắt trước tác hại lớn lao của các chương trình trợ giúp do Nhà Nước quản trị. Ông quả quyết “Trong các tình huống khó khăn nghiêm trọng nhất, lòng ‘từ tâm’ của chính phủ rất được người ta trông mong. Nhưng thay vì điều tốt, lòng từ tâm ấy có thể tạo ra tác hại, không những cho quốc gia, mà còn cho chính giai cấp nghèo khó, giai cấp mà họ có ý định giúp đỡ; trong trường hợp này, thay vì từ tâm, nó đã trở thành ác tâm. Nó cũng thường ác tâm vì làm cạn kiệt mọi tài nguyên bác ái tư, không khuyến khích các công dân trợ giúp người nghèo, vì ai cũng nghĩ những người nghèo này đang nhận được trợ giúp của chính phủ, trong khi thực ra họ không nhận được và không thể nhận được sự trợ giúp ấy, ngoại trừ trong một phạm vi rất nhỏ”.
 
Top Stories
Vinh Long nuns keep fighting for justice and truth
Joseph Dang
17:14 11/07/2010
Their convent has already been bulldozed to build a public square but the defiant Sisters of Saint Paul of Chartres in Vinh Long still refuse to let themselves submitted to injustice.

“The local government of Vinh Long province must rectify its mistakes consistent with the moral tradition of the nation,” cried out Sister Patrick de la Croix Huynh Thi Bich Ngoc, the Superior of the congregation.

In her letter signed on July 3, sent to “every possible government office within the legality of the Socialist Republic of Vietnam, journalists and public figures”, the Superior continued to fight for justice in a battle seen by many as emblematic of the aspirations of Catholics in Vietnam for their dignity to be respected, and their rights be protected.

The Superior bravely requested an apology of the local government for false accusations against her congregation and a compensation of up to an equivalent of 6,376,400 USD for the illegal seizure of "a property of the Catholic Church in the diocese of Vinh Long built since 1871 by generations of nuns.”

The property mentioned by Sister Patrick de la Croix Huynh was her convent, of 10,235 m2, located at 3 Nguyên Truong Tô Street (Tô Thi Huynh Street).

Between 1871 and 1977, a period spanning more than a century, Sisters of Saint Paul of Chartres in Vinh Long had engaged in charity work—education for children, medical care for the sick and help for the poor—throughout the six province region, particularly in Vinh Long.

In the decades before 1975, the convent kept its doors open to the poor and orphans. This created a groundswell of sympathy for the nuns among locals who were grateful for their daily charitable and social activities.

On Sept. 7, 1977, without any warning, a military police regiment blockaded and raided on Holy Cross College, St. Paul monastery, and the Major Seminary, and arrested all those who were in charge of the premises. Seventeen nuns of the congregation were arrested and held at the Saint Paul School. A month later they were released only to be forced to give up their vocation ad return to their home villages.

Since then, all the three Catholic properties have seized by the government.

In 2008, the local government authorised the Saigon-Vinh Long Travel Agency to build a four-star luxury hotel but it faced fierce protests of the sisters. Applying a similar strategy that had shown its effectiveness in Hanoi, on Dec. 12, 2008, the People’s Committee decided to build a public square with gardens instead.

The local government carried out that decision with a rude and threatening tactic to intimidate the vulnerable, peace-loving nun. It falsely accused Sisters of Saint Paul of Chartres of having used “the orphanage on Nguyên Truong Tô Street, a social institution belonging to a foreign religious congregation, built with foreign funds,” to “train young dropouts to create forces that oppose the Revolution and the liberation of the Vietnamese people”, an extreme accusation that can cost the lives of the sisters.

Facing such a death threat, the sisters have been still standing their ground, with no intention to submission to injustice. Every day, they come to the site where their convent has been bulldozed and a public square is on construction to pray. “We shall continue to voice our grievances,” said the sisters.

Recent months, State media have often portrayed the removal of Archbishop Joseph Ngo Quang Kiet as a warning verdict for religious leaders who dare to raise their voice on property disputes with local authorities. The brave letter of Sister Patrick de la Croix Huynh came at the surprise of many, in both Catholic and Vietnamese government’s circles.
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Giám mục Bắc Ninh thăm viếng mục vụ Giáo họ Đồng Nhân
Fx. Nguyễn Văn Thăng
04:41 11/07/2010
BẮC NINH: Tối ngày 10/07/2010, giáo họ Đồng Nhân thuộc giáo xứ Trung Nghĩa hân hoan mừng đón đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt, người cha chung của giáo phận Bắc Ninh về thăm viếng mục vụ và cử hành thánh lễ ban ơn toàn xá nhân dịp Năm Thánh Giáo Hội Việt Nam.

Hình ảnh thăm viếng mục vụ

Cùng viếng thăm giáo họ và hiệp dâng thánh lễ với đức cha có cha xứ Phanxicô Xaviê Bùi Quang Thuận, cha quê hương Giuse Lê Quốc Chinh và một số cha trong giáo phận.

Ngỏ lời với cộng đoàn Dân Chúa trong thánh lễ, đức cha đã nói về đức bác ái Kitô giáo. Đức cha cũng đề cập đến những người nghèo, người bệnh tật, người bị bách hại…, và mời gọi tất cả mọi thành phần Dân Chúa và những người thiện chí mở lòng giúp đỡ họ.

Với ý nghĩa của Năm Thánh, đức cha đã khích lệ người Kitô hữu Đồng nhân hãy giữ lấy những truyền thống đức tin tốt đẹp mà cha ông để lại, bởi vì trong quá khứ Đồng Nhân từng là một trong những giáo họ sầm uất nhất của giáo phận Bắc ninh. Đức cha đã động viên các bạn trẻ hãy siêng năng đi nhà thờ cầu nguyện, học giáo lý, học văn hóa, và ngài cũng khuyến khích người Kitô hữu hãy luôn giúp đỡ người khác trong môi trường và hoàn cảnh thực tế của mình. Ngài cũng nhắc nhở mọi người hãy biết luôn luôn thể hiện mình là người Kitô hữuvà làm nhân chứng cho Tin mừng trong môi trường và công việc của mình.

Cuối thánh lễ, một vị đại diện cho dân họ bày tỏ niềm vui và lòng biết ơn đến đức cha, quý cha và quý khách:

Trong niềm vui hân hoan của toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt nam mừng Đại Năm Thánh 2010: kỷ niệm 350 năm Tòa Thánh thiết lập hai giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, kỷ niệm 50 năm Tòa Thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt nam. Nhưng cách đặc biệt hơn, hôm nay giáo họ chúng con tràn ngập niềm vui, vì được đức cha về dâng thánh lễ ban ơn toàn xá.

Trong tâm tình đó chúng con xin dâng lên Thiên Chúa lời tri ân cảm tạ. Chúng con xin cảm ơn đức cha, với cương vị chủ chăn của giáo phận, đức cha bộn bề với biết bao công việc, nhưng vì lòng yêu thương chúng con mà đức cha đã về để dâng thánh lễ cho dân họ. Chúng con xin cảm ơn cha xứ đã lo lắng để tổ chức cho chúng con có được thánh lễ trọng đại hôm nay. Chúng con xin cám ơn quý cha đồng tế, đã về hiệp dâng thánh lễ cho giáo họ chúng con. Chúng con xin hết lòng cám ơn quý thầy, quý nam nữ tu sĩ đã cộng tác và hiện diện trong thánh lễ hôm nay. Chúng con xin cám ơn ban nhạc Nhà Thờ Chính Tòa Bắc Ninh, cám ơn các ban hội trong và ngoài giáo họ đã tận tình giúp đỡ trong thánh lễ này. Xin cám ơn quý vị không cùng tôn giáo cũng đang hiện diện nơi đây, và cám ơn toàn thể cộng đoàn Dân Chúa đã giúp đỡ và cộng tác để thánh lễ hôm nay được thành công tốt đẹp.

Đôi nét về giáo họ Đồng Nhân:

Đồng nhân là họ lẻ thuộc xứ Trung Nghĩa, nằm ở hữu ngạn Sông Cà Lồ, cách tòa giám mục Bắc Ninh 20 Km về hướng Bắc. Ngôi nhà thờ giáo họ Đồng Nhân được xây dựng từ năm 1926 nhưng vẫn đứng vững dù trải qua biết bao thăng trầm của thời cuộc. Ngôi nhà thờ này cũng là biểu tượng cho đức tin của biết bao nhiêu thế hệ người Kitô hữu ở đây, cho dù đã có những lúc tưởng như không còn nữa trước những khó khăn thử thách.

Khi đất nước bị phân đôi vào năm 1954, tưởng rằng giáo họ không còn tồn tại được nữa vì hầu như toàn bộ giáo dân đều di cư vào Miền Nam, ở lại giáo họ lúc ấy chỉ còn lại vài gia đình. Nhưng nhóm nhỏ người Kitô hữu ở Đồng nhân vẫn luôn cố gắng gìn giữ đức tin bằng việc đều đặn ngày ba buổi đến nhà thờ đọc kinh cầu nguyện. Ngày Chúa Nhật và lễ trọng ai có sức khỏe thì đạp xe hoặc đi bộ xuống tòa giám mục Bắc Ninh để tham dự thánh lễ và lãnh nhận bí tích Hòa giải. Còn những người ở nhà thì tổ chức suy tôn Lời Chúa tại nhà thờ. Nhờ đó mà đời sống đức tin vẫn luôn được duy trì và ngày càng phát triển.

Giáo họ Đồng Nhân ngày nay có khoảng ba trăm nhân danh, và họ sống chủ yếu là nghề nông và một vài nghề phụ khác. Giáo họ cũng đã thành lập được một số hội đoàn nòng cốt để nâng đỡ đời sống đức tin, như: Dòng Ba Đa Minh, Hội Mân Côi, Hội Gia Trưởng, Dâng Hoa, Thiếu Nhi Thánh thể. Các buổi cầu nguyện vẫn được duy trì ngày ba buổi, và cha xứ đã đều đặn về dâng thánh lễ hai buổi một tuần. Các lớp giáo lý được mở thường xuyên, nhất là trong các dịp hè để các em có điều kiện học hỏi về Chúa và Giáo Hội. Đặc biệt, nhờ lời cầu nguyện và đời sống đức tin của cha ông, giáo họ đồng nhân đã sản sinh ra được một linh mục, một thầy đã khấn trọn và một thầy đang học năm thứ hai tại Đại Chủng Viện Hà Nội

Ngày nay, cùng với giáo phận Bắc Ninh, giáo họ Đồng Nhân đang dần dần được hồi sinh. Ước muốn sao, nhờ ơn Chúa, nhờ đức tin của cha ông và những nỗ lực của mọi thành phần dân Chúa, đời sống đức tin của giáo họ Đồng nhân sẽ luôn được thăng tiến về mọi mặt.
 
Thánh lễ Khấn Dòng trọng thể tại Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương
Mai Thi
04:46 11/07/2010
Nhằm ngày lễ thánh Biển Đức - đấng sáng lập đời sống đan tu trong Giáo hội và cũng là tổ phụ của các đan sĩ, vào lúc 9 giờ sáng ngày 11 tháng 7 năm 2010 tại nguyện đường Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương Lâm Đồng đã cử hành thánh lễ trọng mừng thánh tổ phụ với nghi thức khấn dòng trọng thể cho 10 anh em trong cộng đoàn.

Photo: Công Vinh
Thánh lễ do Viện phụ Ephrem Trịnh Văn Đức, bề trên đương nhiệm chủ tế và nhận lời tuyên khấn của các anh em trong cộng đoàn. Cùng đồng tế trong thánh lễ có cha giảng phòng Giuse Nguyễn Thể Hiện, DCCT, quí cha khách và các cha trong cộng đoàn đan viện. Thánh lễ diễn ra trong bầu khí trầm lặng, cảm động, sốt sắng và linh thiêng với nghi thức khấn dòng trọng thể của đời sống đan viện.

Trước lễ khấn dòng, cộng đoàn đan viện đã tham dự khoá tĩnh tâm 10 ngày theo hiến pháp của hội dòng. Các thành viên hầu hết đã về tham dự kỳ tĩnh tâm thường niên và tham dự lễ khấn của các anh em trong cộng đoàn. Ngoài ra còn có đông đảo quí khách gần xa, nhất là thân nhân, ân nhân và bạn bè của các tân khấn sinh cũng về tham dự ngày vui của nhà dòng và của các thành viên mới trong gia đình Đan viện Châu Sơn.

Sau những năm được huấn luyện tại cộng đoàn Đan viện qua các giai đoạn thỉnh sinh, tập sinh, khấn tạm, và sau khi đã được học hỏi, suy nghĩ, cầu nguyện và tập sống nếp sống đan tu chiêm niệm, hôm nay bằng việc tuyên đọc năm lời khấn dòng của mình một cách công khai và long trọng, 10 tân đan sĩ hân hoan, can đảm và dứt khoát dấn thân quyết liệt hơn và trọn vẹn hiến dâng cuộc đời mình với mong muốn phụng sự Thiên Chúa trong gia đình Đan viện này cho đến chết.

Trong các bài gợi ý hướng dẫn cầu nguyện của cha giảng tĩnh tâm, trong lời dẫn lễ, huấn từ của Viện Phụ và bài giảng của cha Giuse Nguyễn Thể Hiện đã nhấn mạnh đến căn tính, mục đích và sứ vụ của đời thánh hiến đan tu chiêm niệm giữa lòng mẹ Giáo hội. Đáp lại tiếng Chúa gọi “làm vườn nho” cho Chúa, hôm nay 10 thanh niên trẻ thuộc các gia đình từ nhiều giáo phận trên đất Việt tới trước vị đại diện cộng đoàn xin được sống và chết tại Đan viện này. Họ quyết tâm chọn nếp sống đan tu và long trọng công bố quyết định của mình trước mặt Thiên Chúa, vị đại diện Giáo hội và sự chứng kiến của nhiều người. Có lẽ lời cầu nguyện đẹp nhất, ý nghĩa nhất và cũng quan trọng nhất đối với họ trong ngày quyết định “sống còn” và thật hồng phúc hôm nay là câu họ đã hát lên sau khi nằm sấp trên đất cùng với cộng đòan hát kinh cầu các thánh: “Lạy Chúa xin đón nhận con theo lời Chúa để con được sống và xin đừng để con tủi hổ vì đã trông cậy Chúa” (x. Nghi thức Khấn dòng).

Niềm vui của họ hôm nay không chỉ là được gặp gỡ thân nhân, ân nhân, bạn bè sau nhiều năm xa cách, nhưng từ ngày hôm nay họ được trở nên thành viên vĩnh viễn của gia đình Đan viện. Suốt đời họ sẽ gắn bó và phục vụ Chúa, giáo hội và nhân loại tại môi trường đan tu này. Các đan sĩ trong cộng đoàn vui mừng tiếp nhận các thành viên mới như là những người em, người cộng sự và người bạn để tất cả giúp nhau hoàn tất hành trình con đường đi theo Chúa. Bằng tình huynh đệ của các thành viên trong gia đình đan viện, bằng nếp sống đan tu chiêm niệm, từ nay tất cả các anh em sẽ cùng nhau chia sẻ mọi buồn vui của đời sống này cho đến chết.

Vẫn biết rằng thân phận con người luôn yếu đuối và bất xứng: bao khó khăn còn đó, những cám dỗ giăng đầy, mọi thử thách đang chờ ở phía trước…. nhưng tin tưởng ơn Chúa, lòng quảng đại của bản thân và sự giúp đỡ từ phía nhiều người để hạt giống gieo vãi hôm nay được tăng triển thêm mãi. Ước mong những gì các tân đan sĩ đoan hứa hôm nay như là dấu chỉ rõ ràng về tình yêu của Thiên Chúa đối với cộng đoàn Châu Sơn, đối với các gia đình có con em tuyên khấn, nhất là với bản thân mỗi tân đan sĩ, để tất cả mọi người thêm phấn khởi và để các tân đan sĩ cảm thấy niềm hạnh phúc trong đời tận hiến, thêm quyết tâm trung thành và dấn thân phục vụ Thiên Chúa, phục vụ Giáo hội và nhân loại theo đặc sủng riêng của hội dòng mà họ vừa được gia nhập.

Được biết, Đan viện Châu Sơn Đơn Dương hiện có 96 đan sĩ, 35 khấn tạm, 11 tập sinh và 9 thỉnh sinh.
 
Cộng đoàn CGVN Birmingham, Anh Quốc - kỷ niệm 30 Năm thành lập
Lm Francis Lý văn Ca
23:33 11/07/2010
CĐCG.VN Ở Birmingham, England - 30 Năm Nhìn Lại.

CĐ.CG.VN Birmingham, Anh Quốc - Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập 1980-2010

Xem hình ảnh

Sau giờ ‘Thực Tập-Workshop’ chiều thứ Sáu tại Trung Tâm Tu Nghiệp đã xong… Tôi ‘Quá Giang’ xe của một Linh Mục cùng khóa… về vùng Birmingham cuối tuần nầy. Đây là một Học Viên ‘Duy Nhất’ có phương tiện di chuyển trong tất cả các học viên tham dự khóa Tu Nghiệp. Vì đa số chúng tôi đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Vì giáo xứ của Linh Mục nầy nằm trong Tổng Giáo Phận Birmingham, nhưng ở vùng xa hơn nữa, cho nên thông thường khi gần đến Handsworth, Birmingham thì Ngài từ Motorways… rẽ vào exit bỏ tôi xuống rồi re-entry Motorways để tiếp tục cuộc hành trình về giáo xứ của Ngài… từ đó tôi liên lạc với Anh Em Linh Mục Việt Nam hoặc gia đình Việt Nam hay đi taxi về giáo xứ hay gia đình của họ nghỉ ngơi cuối tuần…

Chuẩn Bị Mừng Đại Lễ…

… Tôi đến thăm Cha Phêrô Nguyễn Tiến Đắc, Tuyên Úy của CĐ.CG.VN Birmingham. Trong thời gian vừa qua Ngài có cuộc giải phẫu chân, đi đứng vẫn còn khó khăn và đau đớn, nhưng Ngài luôn vui mừng tiếp đón mỗi lần tôi đến thăm Cộng Đoàn.

Từ trong Trung Tâm cho đến phía ngoài… đâu đâu cũng thấy mọi người đều bận rộn… Cảnh trí của Trung Tâm và khuôn viên Lễ Đài Đức Mẹ đang được dọn dẹp và trang hoàng để chuẩn bị cho dịp Đại Lễ từ những tuần trước để kỷ niệm 30 Năm Thành Lập Cộng Đoàn (1980-2010), Mừng Năm Thánh Giáo Hội Việt Nam 2010 và Đại Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Tôi đã có dịp đến dâng lễ cho CĐ.CG.VN tại Nhà Thờ St Francis ở Hunters Road, Handsworth, cũng như tại Nguyện Đường Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Trung Tâm của Cộng Đoàn Birmingham vào những ngày cuối tuần trong thời gian tham dự Khóa Tu Nghiệp tại Anh Quốc…

Từ nhiều tuần trước tôi đã chứng kiến vào những ngày cuối tuần; với sự giúp đỡ của các Nữ Tu Đaminh Rosa Lima, cha mẹ đã đưa con em đến Trung Tâm của Cộng Đoàn để tập những Lễ Nghi Phụng Vụ như dâng hoa, rước kiệu… trong khi đó những bà mẹ, người chị cũng bận rộn với những dự tính đóng góp công sức thực hiện việc nấu nướng, ẩm thực với tâm tình ‘Hiếu Khách’ để tiếp đón Quý Cha, Quý Tu Sĩ Nam Nữ và Quan Khách sẽ đến tham dự Đại Lễ và đồng thời cũng chuẩn bị những gian hàng để ‘Gây Quỹ’ trong ‘Ngày Bazaar’ của Cộng Đoàn hằng năm.

Ngoài những giờ tập hát thường lệ cho Thánh Lễ Chủ Nhật, Các Anh Chị Em trong Ca Đoàn Trinh Vương, sau Thánh Lễ Chiều Chủ Nhật, về nhà lo cơm nước cho gia đình rồi trở lại Trung Tâm tập hát cho Ngày Đại Lễ và còn chở con em đi tập múa, tập vũ nữa…

Không phải chỉ có thế, mỗi gia đình mỗi hội đoàn còn nghĩ đến một hình thức khác nữa mà tôi đã đọc thấy trong Bản Tin của Cộng Đoàn như: “… với nhiều gian hàng bày bán các vật phẩm, thức ăn thuần túy dân tộc cùng với những chương trình giúp vui Văn Nghệ, Karaoke, Lotto và các trò chơi giải trí khác… để có ngân quỹ bảo trì và chi dùng cho việc Mục Vụ của Cộng Đoàn… để ngày Bazaar năm nay được tốt đẹp… ”.

Nhìn khung cảnh nhộn nhịp của Trung Tâm trong những ngày nầy… làm tôi liên tưởng đến những sự nhộn nhịp của CĐ.CG.VN ở London trong cuối tuần vừa qua… (Được Cha Paul Huỳnh Chánh bật mí: tổng kết tài chánh thu được rất thành công từ những gian hàng… và đặc biệt là Ân Nhân ủng hộ… Chúc Mừng CĐ.CG.VN ở London)

Thực tế, cuộc sống của chúng ta - Giáo Sĩ, Tu Sĩ, Giáo Dân - ai cũng rất ư là bận rộn trong đấng bậc sống của mình: tăng thêm chương trình Mục Vụ Cộng Đoàn Xứ Đạo, chúng ta muốn cầu nguyện nhiều hơn, tham dự cả thánh lễ ngày thường nếu có thể, học hỏi thêm về Kinh Thánh, gia nhập vào những sinh hoạt hội đoàn, giúp Cộng Đoàn Xứ Đạo vào những ngày cuối tuần hay những dịp đại lễ... nhưng … chúng ta không có giờ.

Nhìn những em thiếu nhi… rồi nhìn những người cha đang cố gắng hoàn tất việc trang trí Lễ Đài, Quý Ông đang tập Lễ Nghi Phụng Tế... trong ngày thứ Bảy… những bận rộn của các bà mẹ… trong nhà bếp Trung Tâm đang chuẩn bị các món ăn thức uống… cho đến những anh thanh niên đang dọn dẹp, sắp xếp bàn ghế trong sân Lễ Đài, căn lều cho các gian hàng… các bạn trẻ đang dựng giàn âm thanh… hoặc các chị em phụ nữ đang rửa rau cải, chăm sóc các chậu bông, chậu kiểng, cắm những bình hoa tươi thắm… làm tôi nghĩ đến hình ảnh gia đình của 2 chị em Martha và Maria mỗi người một cách thế để đón Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài đến dùng bữa tại nhà của họ…

Tôi có thể nói: mỗi gia đình, mỗi cá nhân của CĐ.CG.VN vừa là Martha vừa là Maria. Có lẽ Chúa Giêsu không ám chỉ ai là Martha và ai là Maria trong lúc nầy. Mà chính tôi cũng không dám nói ai là Martha và ai là Maria….vì như vậy tôi đã quên sót một người… đó là Lazarô, người em trai của 2 chị em trong gia đình nầy. Đó là hình ảnh những người Ông, người Cha, người Anh trong Cộng Đoàn CG.VN ở Birmingham.

Tất cả những công việc họ đã và đang làm trong những ngày nầy đều liên hệ với nhau. Chúng ta có thể nói họ đang liên kết từ việc cầu nguyện, dâng lễ, tập hát, tập Lễ Nghi Phụng Vụ, trang tri Lễ Đài… cho đến rửa chén, quét dọn Trung Tâm, làm vệ sinh... để chuẩn bị chu tất cho Ngày Đại Lễ Mừng Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam năm nay và mừng 30 Năm sự hiện diện của CĐ.CG.VN trên Vương Quốc Anh và Mừng Năm Thánh của Giáo Hội Việt Nam. Những dịp Đại Lễ nơi mỗi Cộng Đoàn hay Giáo Xứ Việt Nam, không những ở Quê Nhà mà ngay cả ở Hải Ngoại, chúng ta có thể nhìn thấy những cách thể hiện ‘Phục Vụ Quên Mình’ vì ‘Giáo Xứ hay Cộng Đoàn’ hay nói cách cụ thể hơn, người ta có thể nhìn thấy những cách thế ‘Hy Sinh-Phục Vụ’ của Martha của Maria và ngay cả sự âm thầm…không ai biết như Lazarô… trong những ‘Bêtania’ hôm nay.

Như phần nào tôi đã viết trong bài ‘Những Ngày Bazaars của CĐ.CG.VN London…’ về những ‘Hy Sinh - Quảng Đại - Phục Vụ - Quên Mình’ của Giáo Dân Việt Nam dù ở đâu cũng thể hiện được những đức tính cao quý nầy. Họ đóng góp thiết thực cho Cộng Đoàn cả vật chất lẫn tinh thần… như gia nhập các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, Tham Gia Những Hội Đoàn, Ca Đoàn, Hội Đồng Mục Vụ, Thừa Tác Viên Giúp Lễ, Thừa Tác Viên của Bí Tích Thánh Thể… Nhóm Hội Trường hay Nhóm Bảo Trì của Giáo Xứ-Trung Tâm Việt Nam. Họ tìm mọi phương cách gây quỹ để Bảo Trì những sinh hoạt của Cộng Đoàn Xứ Đạo hay Trung Tâm của CĐ.CG.VN luôn được bền lâu.

Chính những công việc âm thầm hay cụ thể nầy sẽ biến họ trở thành những Martha, Maria và Lazarô trong hoàn cảnh của một đất nước mới và chính họ biến những CĐ.CG.VN ở trên Vương Quốc Anh nầy trở thành Những ‘Tân Bêtania’ Thực Tế và Cụ Thể nơi Quê Hương Thứ II mà chính họ và con cháu của họ đã và đang xây dựng những Căn Nhà Bêtania mỗi ngày nên xứng đáng hơn như là Đền Tôn Kính Những Tiền Nhân Anh Dũng mà họ đang mừng kính trong ngày hôm nay.

Hy vọng rằng tất cả mọi gia đình Việt Nam đó đây cũng biết góp công sức mình để xây dựng những Căn Nhà Bêtania của địa phương để qua những công việc Mục Vụ Tinh Thần và Vật Chất mỗi người cũng sẽ trở nên giống Martha, Maria và Lazarô của Cộng Đoàn hay của Giáo Hội Việt Nam hôm nay ở hải ngoại.

Hoài Bão Trong Tuổi Đời Linh Mục Còn Lại….

Trong những ngày chuẩn bị Mừng Đại Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Mừng Năm Thánh của Giáo Hội Việt Nam và Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập Cộng Đoàn, tôi có dịp tiếp xúc cá nhân với Linh mục Phêrô Nguyễn Tiến Đắc, Tuyên Úy của CĐ.CG.VN ở Birmingham… Nhìn lại một hành trình dài 30 năm của Cộng Đoàn, riêng Cha Phêrô Nguyễn Tiến Đắc đã phục vụ Cộng Đoàn hơn 13 năm: tiếp nối Cha Louis Lê văn Hồng được bổ nhiệm làm Linh Mục Chính Xứ St Michael & Holy Angels, West Bromwich, Tổng Giáo Phận Birmingham. Cha Phêrô cùng hoà nhịp với Cộng Đoàn, dâng lên Thiên Chúa những tâm tình Tri Ân và Cảm Tạ muôn ơn lành mà Thiên Chúa đã ban xuống cho CĐ và mọi thành viên của CĐ. Dân Chúa…

* Cha Phêrô cũng cho tôi biết là đã đến lúc Dân Chúa Việt Nam ở Birmingham cần có một ‘Linh Mục Trẻ Trung’, đầy nhiệt huyết hăng say thay thế Ngài để phục Vụ Cộng Đoàn trong tương lai. Cha Phêrô nói lên điều nầy với những băn khoăn thao thức. Như Cha cho biết: vì lý do sức khoẻ đã không cho phép Cha có thể làm được gì nhiều hơn cho Cộng Đoàn trong hoàn cảnh hiện nay. Dĩ nhiên là không phải một sớm một chiều mà có thể thực hiện ngay được ước muốn nầy, cần phải có một thời gian ‘Chuyển Tiếp với sự Tế Nhị’ cùng với sự cầu nguyện của toàn thể Cộng Đoàn Dân Chúa.

* Nhìn lại khoảng thời gian 13 năm phục vụ…. Cha Phêrô Đắc cảm nghiệm được thế nào là giá phải trả để tạo được tinh thần ‘Hiệp Thông - Đoàn Kết‘ giữa mọi phần tử trong Cộng Đoàn Dân Chúa Việt Nam đến Vương Quốc Nữ Hoàng từ mọi miền trên đất nước Việt Nam. Họ mang theo những ‘Đặc Thù’ của từng miền mà giờ đây họ đã biết ‘Quên Mình’ để hoà hợp với những Anh Chị Em khác đóng góp công sức để xây dựng Cộng Đoàn Việt Nam nơi đây được vững mạnh và triển nở.

Có thể đoạn văn sau đây của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, theo tôi nghĩ sẽ diễn tả gần đủ ý nghĩa mà Cha Phêrô Đắc đã tâm tình với tôi:

“Hội Thánh của giới trẻ, Hội Thánh của giới già, Hội Thánh của trí thức, Hội Thánh của lao động, Hội Thánh của người nghèo, Hội Thánh của người giàu, Hội Thánh của da vàng, Hội Thánh của da đen, Hội Thánh của phụ nữ, Hội Thánh của nam giới, Hội Thánh của tất cả, Hội Thánh chấp thuận tất cả, Hội Thánh không kỳ thị ai. Kỳ thị và chia rẽ không có chỗ trong Hội Thánh”. (ĐHV 270)

* Ở Anh Quốc, trong những thánh lễ Chủ Nhật và Lễ Trọng tất cả các em trong Ban Giúp Lễ đều mặc áo giúp lễ và theo đoàn rước lên gian cung thánh và sẽ ngồi một nơi dành riêng cho Ban Giúp Lễ, cho dù không phải là phiên giúp lễ của các em của ngày hôm đó. CĐ.CG.VN ở Birmingham có khoảng 25 em giúp lễ… thuộc đủ mọi lứa tuổi từ Tiểu Học đến Đại Học. Trong số những em giúp lễ, cha Phêrô Đắc cũng cho tôi biết là có một em cũng đã từng ‘Phục Vụ Bàn Thờ’ nay đã là Linh Mục ‘Dâng Lễ Trên Bàn Thờ’. Ước mong của ngài là qua sự cầu nguyện và động viên của Phụ Huynh, CĐ.CG.VM ở Birmingham sẽ có thêm nhiều ơn gọi, nhiều con em sẽ dâng mình cho Chúa để trở nên Linh Mục hoặc Tu Sĩ phục vụ Vườn Nho của Giáo Hội.

Ngoài ra, trong dịp đến thăm CĐ.CG.VN ở Birmingham, tôi cũng đã gặp một số bạn bè hay giáo dân của Cha Phêrô đến từ Mỹ… những người con Linh Mục, Chủng Sinh, Tu Sĩ Nam Nữ ‘Linh Tông’ cũng đến Birmingham từ một vài quốc gia khác hoặc đang phục vụ hay tu học trên Vương Quốc Anh.

Họ đã đến đây vài lần hay nhiều lần trong những dịp đặc biệt. Qua sự hiện diện của ‘Giáo Dân - Linh Mục - Tu Sĩ Linh Tông’ nói lên ‘Ân Tình-Hiếu Thảo’ đối với Linh Mục hay Người Cha Thiêng Liêng đã phục vụ họ hay đã hướng dẫn họ trong những năm đầu đời của Ơn Gọi Linh Mục-Chủng Sinh-Tu Sĩ. Họ đã không quảng ngại xa xôi giữa các Châu hay Lục Địa để đến Birmingham hay Anh Quốc chung niềm vui với Cha Phêrô nơi ngài đang phục vụ và đã cảm nhận sự ‘Hiếu Khách’ của Giáo Dân trong CĐ.CG.VN ở Birmingham….

Họ cảm thấy Trung Tâm Mục Vụ CĐ là ‘Một Bêtania’ trong những ngày ở đây như là ‘Nhà’ của họ và họ đã cảm nghiệm thêm: Cuộc đời của Linh Mục luôn là một sự cho đi không mệt mỏi - không ngừng nghỉ - Chính trong những Bêtania đó họ và tôi đang được chia sẻ 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng trong cuộc hành trình Mừng 30 Năm Ngày Thành Lập CĐ.CG.VN trên Vương Quốc Anh giữa ‘CĐ.CG.VN - Bêtania’. Tôi có thể nói đây là ‘những ‘Bông Hồng Thiêng Liêng’ an ủi đời sống Linh Mục cũng như Tu Sĩ qua những nghĩa cử ‘Kính Yêu-Quảng Đại-Thảo Hiếu’.

Tôi đã nhận nhiều ‘Hồng Ân’ từ Quý Anh Em Linh Mục Tu Sĩ, từ CĐ.CG.VN ở Birmingham và London trong những tháng Tu Nghiệp, cho dù họ không cần tôi nói lên lời tri ân. Nhưng Đức Cố HY Fx Nguyễn văn Thuận đã viết:

“Chúng ta phải biết cám ơn lẫn nhau. Người nhận: Vì được yêu thương giúp đỡ. Người cho: Vì được dịp lớn lên trong tình yêu” (ĐHV 771).

Vì thế, tôi muốn mượn lời của Đức Cố Hồng Y để minh chứng rằng người Giáo Dân Việt Nam ở bất cứ nơi đâu đều áp dụng và sống Lời Chúa qua những việc làm rất cụ thể như những tâm tình của Đức Cố HY Fx Nguyễn văn Thuận mà tôi đã chọn để lồng vào 2 bài viết như là những ‘Kim Chỉ Nam’ gởi tặng Quý Anh Em Linh Mục - Tu Sĩ đang coi sóc các CĐ.CG.VN trên Vương Quốc Anh cách riêng và những Linh Mục Tu Sĩ Việt Nam đang Phục Vụ Giáo Hội Mẹ Công Giáo Anh Quốc nói chung cũng như Anh Chị Em Linh Mục Tu Sĩ từ Giáo Hội Mẹ Việt đang Du Học-Tu Nghiệp ở các nước Âu Châu mà tôi đã được gặp trong thời gian vừa qua.

“Chúa Giêsu không dạy yêu người bằng tình cảm, vì Chúa dạy con yêu cả kẻ nghịch của con. Yêu là thành thực muốn sự lành cho họ và làm tất cả để họ được hạnh phúc. Điều ấy đòi buộc con phải hoàn toàn quên mình”. (ĐHV 767)

”Con phải là ‘Món Quà’ trong tay Chúa, sẵn sàng để Chúa tặng cho bất kỳ ai. Một món quà mà ai cũng quí yêu thèm muốn”. (ĐHY 768)

Để kết thúc bài viết… “30 Năm Nhìn Lại Chặng Đường Đã Qua” của CĐ.CG.VN ở Birmingham trên Vương Quốc Anh, được phép của Cha Phêrô Nguyễn Tiến Đắc, Tuyên Úy của CĐ.CG.VN và sự giúp đỡ của Các Nữ Tu Đaminh Rosa, tôi xin đuợc gởi đến Quý Đọc Giả của Vietcatholic Network ‘Tóm Lược Tiểu Sử của CĐ.CG.VN tại Birmingham’ trong 30 năm vừa qua với Tâm Tình Cảm Tạ thay cho Lời Kết của bài viết nầy.

- Lược Sơ Đôi Nét Về CĐ.CG.VN Birmingham - Vương Quốc Anh -

Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập: 1980-2010


Trong cuốn Nghi Lễ có lược tóm Tiểu Sử của Cộng Đoàn CG.VN ở Birmingham với những nội dung chính đuợc chia ra từng giai đoạn như sau:

Nhân dịp mừng 30 năm 1980-2010 thành lập Cộng Đoàn, chúng ta cùng nhau nhìn lại chặng đường đã qua để dâng lên Thiên Chúa lời tạ ơn, và để thắt chặt hơn tình thương yêu và nâng đỡ nhau giữa Cộng Đoàn 30 năm đã qua. 30 năm được khắc ghi bằng những ‘Ân Huệ’ và ‘Tình Thương Vô Biên’ của Chúa.

Trải dài một chuỗi thời gian 30 năm kể từ những ngày đầu, lịch sử của Cộng Đoàn chúng ta có thể được tóm tắt như sau:

+ Từ tinh thần sốt sắng giữ đạo của người Công Giáo Việt Nam tị nạn tại Anh Quốc, đến tập tục quây quần bên nhau để cùng chia sẻ, nhắc nhớ nếp sống cách sinh hoạt nơi quê xưa làng cũ của dân tộc, Đức Ông Phêrô Đào Đức Điềm - vị mục tử đầu tiên cho người Công Giáo Việt Nam Tị Nạn tại đây - đã được Đức Ông Fallon mời về ở tạm và làm việc chung với ngài tại giáo xứ St. Francis, Birmingham vào tháng 7-1980.

Sau đó nhờ sự giúp đỡ từ tinh thần đến vật chất của Đức Ông Fallon trong tinh thần con một Cha, Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam đầu tiên tại Anh Quốc dần dần được thành lập. Theo tinh thần và truyền thống tốt đẹp của người Việt ‘Uống nước nhớ nguồn; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,’ Đức Ông Fallon là một ‘Đại Ân Nhân’ của Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Anh Quốc, qua niềm cảm thương những người Công Giáo Tị Nạn tha hương. Những bước khởi đầu của chúng ta đã được ngài giúp đỡ cung cấp các phương tiện căn bản như sau:

+ Để có nơi đặt văn phòng làm việc cho Linh Mục Tuyên Úy Việt Nam, lúc đó là Đức Ông Phêrô Đào Đức Điềm, Đức ông Fallon đã đồng ý và vận động Tòa Giám Mục Địa Phận Birmingham cho mượn căn nhà số 12 Wye Cliff Road, Handsworth, thuộc tài sản của giáo xứ St. Francis, Birmingham. Từ đó cho đền nay, nơi nầy đã trở thành một Trung Tâm Mục Vụ khang trang rộng rãi cho Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam, sau những lần được bảo trì, tu sửa.

+ Ngoài ra, Đức Ông Fallon cũng giúp thêm phương tiện sinh hoạt và phát triển Giáo Đoàn như cho mượn xe cộ trong mọi việc chuyên chở...; cho mượn các phòng họp nhà thờ để dạy giáo lý và các lớp Việt Ngữ cũng như để các hội đoàn sinh hoạt.

+ Ngài đã sắp xếp nhà thờ của giáo xứ, để người Công Giáo Việt Nam chúng ta có thánh lễ Chúa Nhật hàng tuần. Đây cũng chính là dịp để người Việt chúng ta có cơ hội gặp gỡ, thăm hỏi, tâm sự cho vơi niềm nhung nhớ quê hương, xóm làng sau Thánh Lễ.

+ Đức Ông Điềm ký nhận ngôi nhà số 12 Wye Cliff road vào năm 1981, và căn nhà số 10 vào năm 1982 cho các gia đình Việt Nam mướn ở, sau thời gian ra công dọn dẹp, sửa chữa, với sự đóng góp công sức của một số giáo dân Việt Nam, nhất là các thanh niên độc thân trong những năm đầu tị nạn tại đây.

Vào đầu 1982, Đức Ông Điềm chính thức dọn vào làm việc tại đây. Một cộng đoàn nhỏ bé đầu tiên đã được thành hình với vỏn vẹn 20 gia đình người Công Giáo Việt Nam được định cư tại Birmingham. Qua tài ngoại giao, sự hy sinh, lòng nhẫn nại, tinh thần cầu tiến, và dưới sự lãnh đạo khéo léo của Đức Ông Điềm, Cộng Đoàn đã dần dần vượt qua những truân chuyên, khó nhọc ban đầu, trên chặng đường xây dựng một Cộng Đoàn Dân Chúa của người Việt trên đất Anh nầy.

+ Kế tiếp, những đợt người Việt Tị Nạn lần lượt được chính phủ Anh cho định cư rải rác trên khắp nước. Qua các cuộc viếng thăm các trại tạm cư - có những vùng xa xôi hẻo lánh ở Wales, Ireland và Scotland, Đức Ông Điềm cùng những người thiện nguyện theo giúp, đã mời họ về sống chung tại Cộng Đoàn Birmingham. Những khắc khoải, hoang mang, sự thiếu thốn tình cảm người đồng hương, và những khó khăn trong sự bất đồng ngôn ngữ trong những tháng năm đầu của người Việt Tị Nạn ở những vùng xa xôi hẻo lánh này đã được Đức Ông Điềm và những cộng tác viên của ngài, không nề hà đường xá, giờ giấc ngày đêm, thời tiết, tiền bạc, nâng đỡ lo giúp để chuyển về Birmingham để cùng nhau dâng lời tạ ơn Thiên Chúa ở bến bờ tự do.

Sau đó con số gia đình người Công Giáo Việt Nam quy tụ về Birmingham lần lượt lên đến 250 gia đình. Cũng từ đó, sinh hoạt thờ phượng và việc củng cố đức tin sống đạo ngày càng phát triển. Lần lượt các hội đoàn được tổ chức: Các lớp giáo lý cho trẻ em, người lớn, các lớp giáo lý hôn nhân. Do nhu cầu mục vụ, cha Hồng Kim Linh từ Pháp được mời sang làm việc với Đức Ông Điềm hơn một năm.

+ 17/7/1983, được phép Đức Tổng Giám mục Birmingham và Đức ông Fallon, những sinh hoạt của Cộng Đoàn Công giáo Việt Nam tại Anh Quốc lần đầu tiên được phát tuyến trên đài truyền hình, do Cộng Đoàn Birmingham thực hiện tại nhà thờ St. Francis.

Qua lời xin và đề nghị của Đức Ông Điềm, Nguyên Tổng Giám Mục Maurice Couve de Murville của Địa Phận đã đứng đơn bảo lãnh cho một số thầy đã vượt thoát khỏi Việt Nam nhưng đang còn trong các trại tị nạn vùng Đông Nam Á, được phép định cư tại Anh Quốc và tiếp tục con đường ơn gọi tại chủng viện Oscott của địa phận Birmingham.

Tại thánh đường St. Francis, Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam đã nhiều lần hoan hỷ mừng lễ truyền chức linh mục của các thầy Việt Nam như thầy Michael Hồ Hữu Nghĩa, thầy Guise Vũ Đức Yên, thầy Gioan Baotixita Trần Anh Tú, thầy Louis Lê Văn Hồng, thầy Phaolô Huỳnh Chánh, thầy Gioan Baotixita Bùi Trần Thuấn, thầy Antôn Phạm Tri Văn. Hầu hết các cha, sau khi chịu chức đã phụ tá với Đức Ông Điềm, giúp Cộng Đoàn. Cha Louis Hồng, sau một năm phụ trách cộng đoàn tại Birmingham, xuống London phụ tá Đức Ông Điềm. Năm 1993 Cha được bổ nhiệm trở lại giúp Cộng Đoàn Birmingham cho đến 1997.

Trung Tâm Mục Vụ Birmingham đã được Đức Ông Fallon giao tiếp căn nhà số 10 kế bên để chỉnh trang làm nơi sinh hoạt cho Cộng Đoàn theo nhu cầu phát triển. Trước khi chuyển xứ, cha Louis Hồng, cùng Hội Đồng Mục Vụ và Cộng Đoàn đã bàn thảo, đưa đề án và quyên góp trong Cộng Đoàn và khởi công xây Nhà Nguyện cũng như tu bổ lại Trung Tâm.

+ Dự án xây Nhà Nguyện cũng như tư bổ lại Trung Tâm được bắt đầu với lòng nhiệt thành và hảo tâm của Cha Louis Hồng và tín hữu trong Cộng Đoàn đã được đấng đến kế nhiệm là Cha Phêrô Nguyễn Tiến Đắc, người được Đức Ông Điềm mời sang giúp Cộng Đoàn vào mùa hè 1997 từ Hoa Kỳ, đã tiếp tục và hoàn tất công việc này. Nay Trung Tâm đã có một Nguyện Đường Dâng Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, có các lớp học Giáo lý và Việt Ngữ, để bảo tồn văn hóa và lối sống đạo theo truyền thống của dân tộc.

+ Cha Phêrô Đắc đã thỉnh cầu Đức Tổng Giám mục Birmingham liên lạc xin hài cốt các Thánh Tử Đạo Việt Nam từ Hội Thừa Sai Paris bên Pháp. Sự thỉnh cầu này đã được Đức Tổng Giám Mục Maurice Couve de Murville, Tổng Giám Mục Birmingham chấp thuận và chính Ngài đã đích thân bộ hành, rước Thánh Tích của các Thánh Tử Đạo Việt Nam từ Nhà Thờ Chính Tòa Birmingham đến Nhà Thờ St. Francis, và rồi về đến Nguyện Đường của Trung Tâm Mục Vụ vào dịp lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 13/12/1998. Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Birmingham được mang danh hiệu là Cộng Đoàn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam từ đó. Và Trung Tâm Mục Vụ ngày càng trở nên khang trang, đẹp đẽ cho việc thờ phượng và sinh hoạt của Cộng Đoàn.

+ Trong dịp Bazaar hè 1999, với sự chủ tọa của Đức Ông Điềm, cha Đắc đã khởi xướng cổ động chương trình xây dựng một tượng đài Đức Mẹ Lavang, làm nơi kính viếng của các con dân Việt tha hương. Dưới sự chủ tọa của Đức Ông Điềm, Đức Ông Fallon, đài Đức Mẹ được khánh thành vào lễ Mẹ Thiên Chúa 1/1/2000, để ghi nhớ Đại Năm Thánh 2000 của Giáo Hội Hoàn Vũ.

+ Trong việc phục vụ Cộng Đoàn, để đạt được những kết quả tốt đẹp trên, chúng ta không thể không kể đến lòng nhiệt thành, sự quảng đại, và sự tiếp tay ủng hộ của đại đa số giáo dân. Trong đó, Hội Đồng Mục Vụ luôn là những người đã và đang sát cánh tích cực bên các Linh Mục Tuyên Úy Việt Nam, chu toàn tốt đẹp mọi công tác lớn nhỏ để phát triển Cộng Đoàn.

+ Thay lời kết, chúng ta cùng nhau sốt sắng dâng lên Thiên Chúa lời tạ ơn, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria và các Thánh Tử Đạo Việt Nam, trong thánh lễ hôm nay. Qua tình thương vô biên và sự quan phòng của Chúa, dưới sự che chở của Đức Mẹ Lavang và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Cộng Đoàn chúng ta đã được thành hình, và luôn luôn tiếp tục tăng trưởng. Xin Chúa, Đức Mẹ và Các Thánh luôn tiếp tục độ trì, ban cho tất cả người Việt chúng ta ở đây muôn hồng ân, để chúng ta ngày càng vững mạnh trong đức tin, kiên cường trong đức mến, và bền đỗ trong đức cậy, để rối chúng ta sẽ tiếp tục chuyển giao di sản quý báu này cho thế hệ tương lai: Trung Tâm Mục Vụ của CĐ.CG.VN chúng ta.

*************************************

Những Cộng Đoàn Chính và Thánh Lễ Định Kỳ

Ngày nay, Trung Tâm Mục Vụ Công Giáo tại Birmingham, cùng với Trung Tâm Mục Vụ Luân Ðôn, là hai cơ sở chính không những để giúp Cộng Đoàn Việt Nam tại Anh Quốc & Ái Nhĩ Lan sống Ðức Tin Công Giáo, mà còn giúp giới trẻ hội nhập vào nền văn hóa bản xứ và đồng thời vẫn giữ được bản sắc dân tộc.

Ở Birmingham và các vùng phụ cận, CĐ.CG.VN căn cứ vào số gia đình công giáo đang làm ăn sinh sống ở các vùng, cho nên được chia thành những cộng đoàn chính sau đây:

Cộng Đoàn CG.VN Tại Birmingham

Cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại Birmingham và các vùng phụ cận là Cộng Ðoàn lớn thứ hai ở Anh Quốc. Sự hiện diện chính thức của vị chủ chăn - Cố Ðức Ông Phêrô Ðào Ðức Ðiềm - từ đầu thập niên 1980… là một sự nâng đỡ rất lớn đối với những người Việt Nam Công Giáo ở Tổng Giáo Phận Birmingham nói riêng và Anh Quốc cũng như Ái Nhĩ Lan nói chung.

Từ ngày thành lập đến nay, trải qua bao nhiêu thăng trầm, Cộng Ðoàn đã được sự chăm sóc của nhiều thế hệ Linh Mục Tuyên Úy.

Vào Chúa Nhật và một số ngày trong tuần có thánh lễ bằng tiếng Việt ở nhà thờ Thánh Phanxicô số 101 Hunters Road, Hansdworth, Birmingham, B19 1EB (Tel: 0121-554-0905).

Chủ Tịch của Cộng Ðoàn hiện nay là Ông Hoàng Cầu và một Hội Ðồng Mục Vụ để giúp đỡ Cha Tuyên Úy trong việc tổ chức các buổi lễ và sinh hoạt cho Cộng Ðoàn.

Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Manchester

Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Manchester là một trong những cộng đoàn có nhiều tổ chức sinh hoạt cho người Việt Nam Công Giáo cũng như không Công Giáo. Nhiều thành viên trong Cộng Ðoàn là những tông đồ nhiệt thành trong Giáo Phận Salford.

Hàng tháng có thánh lễ bằng tiếng Việt vào lúc 18.30, thường vào Chúa Nhật thứ ba trong tháng. Trước thánh lễ có khoảng nửa giờ để đọc kinh chung + giải tội. Tuy nhiên, chương trình có thể thay đổi tùy hoàn cảnh... Đại diện Cộng Ðoàn là Ông Trần Tân.

Hiện nay Cộng Ðoàn đang xử dụng Nhà Thờ Thánh Patrick, Thánh Malaki, Thánh Micae, và Thánh Edmund, Collyhurst, Manchester, M4 4JF (Tel: 0161-834-8828; Fax: 0161-833-3674).

Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Northampton

Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Northampton có nhiều thành viên là những tông đồ nhiệt thành trong Giáo Phận Northampton.

Hàng tháng có thánh lễ bằng tiếng Việt vào lúc 17 giờ 30, thường vào thứ năm của tuần thứ ba trong tháng. Trước thánh lễ có khoảng nửa giờ để đọc kinh chung + giải tội. Đại diện Cộng Ðoàn là Ông Đỗ Đoàn.

Hiện nay Cộng Ðoàn đang xử dụng Nhà Thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, High Street, Great Billing, Northampton, NN3 9EA (Tel/Fax: 01604-406410).

Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Nottingham

Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam tại Nottingham tuy nhỏ bé nhưng có rất nhiều đóng góp vào đời sống xã hội của địa phương qua Cộng Ðồng người Việt Nam. Về mặt tôn giáo, nhiều thành viên của Cộng Ðoàn là những tông đồ nhiệt thành của Giáo Phận Nottingham.

Hiện nay, mỗi tháng Cha Tuyên Úy đến dâng thánh lễ bằng tiếng Việt lúc 17.00 giờ, thường vào thứ ba của tuần thứ ba trong tháng. Trước thánh lễ có khoảng nửa giờ để đọc kinh chung và giải tội. Đại diện Cộng Ðoàn là Ông Phanxicô Trần Thanh Thuận.

Hiện nay Cộng Ðoàn đang xử dụng Nhà Thờ Ðức Bà và Thánh Edward, Gordon Road, Nottingham, NG3 2LG (Tel: 0115-950-1064)
 
Thông Báo
Chúc mừng các nữ tu khấn trọn đời và các nữ tu mừng ngọc khánh 60 năm của Hội dòng MTG Los Angeles
VietCatholic
04:30 11/07/2010
Hội Dòng Mến Thánh Giá Los Angeles (Phát Diệm) hôm thứ Bảy 10/7/2010 đã tổ chức lễ khấn trọn đời của 2 nữ tu tại nhà thờ St. Callistus ở Garden Grove:

Hình ảnh Lễ khấn (photo: Phạm Bình)

1-Sr.Lucia Diễm Mai Trần, LHC
2-Sr.AnneMarie Hân Đặng, LHC
và Hội Dòng cũng hân hoan mừng Lệ Ngọc Khánh 60 năm khấn dòng của 3 nữ tu:
1-Sr.Cecilia Chuyên Thị Nguyễn, LHC.
2-Sr.Mary Mỹ Lệ, HLC.
3-Sr.Maria Phấn Nguyễn, LHC

Hân hoan chúc mừng
LM Trần Công Nghị và toàn Ban VietCatholic
 
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền: Hương Hoa Ngọt Ngào
Đỗ Thạo
22:08 11/07/2010

HƯƠNG HOA NGỌT NGÀO



Ảnh của Đỗ Thạo

Chim quyên hút mật bông quỳ

Ba năm còn đợi huống gì một năm.

(Ca dao)

Click here to go to PhotoArt Meditation Room - Phòng Ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền