Trình thuật Khổ nạn vào Thứ Sáu Tuần Thánh, tưởng niệm chính ngày giờ Chúa Giê-su chịu khổ hình và qua đời, luôn trích từ Tin mừng Thứ Tư, tức Tin mừng theo Thánh Gio-an (Ga 18:1-19:42).

Lý do: tập chú thần học độc đáo của nó vào chiến thắng của Chúa Ki-tô, vị trí lịch sử của nó trong sách bài đọc tiên khởi và liên hệ sâu xa của nó với phụng vụ Tam Nhật Thánh.

Thực vậy, trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm nhấn mạnh tới nỗi đau đớn và bị bỏ rơi về phương diện nhân bản của Chúa Giê-su, thì trình thuật của Thánh Gioan mô tả một nhân vật uy linh và tự chủ hoàn toàn kiểm soát số phận mình.

Đúng vậy, trong trình thuật Gio-an, Chúa Giê-su không phải là nạn nhân của hoàn cảnh nhưng là một vị vua tự ý bước tới “ngôi báu” của mình trên thập giá. Câu nói cuối cùng của Người “đã hoàn tất” là một tuyên ngôn chiến thắng, thành toàn hơn là tiếng kêu bị bỏ rơi, biến nó thành bước vượt qua lý tưởng vào niềm hy vọng Phục Sinh.

Tin mừng Gio-an là Tin mừng duy nhất đặt thời điểm cái chết của Chúa Giê-su cùng lúc với việc sát tế chiên vượt qua tại Đền Thờ, tăng cường chủ đề phụng vụ về Chúa Ki-tô như “Chiên Thiên Chúa”.

Truyền thống và thứ tự lịch sử

Thói quen đọc trình thuật Gio-an vào Thứ Sáu Tuần Thánh ít nhất đã có từ thế kỷ thứ 4 ở cả hai truyền thống Đông và Tây. Thực vậy, trong sách bài đọc của Giáo hội thời sơ khai (khoảng thế kỷ thứ 7), bốn trình thuật Khổ Nạn dành cho Tuần Thánh dựa trên thứ tự Tân Ước: Mát-thêu vào Chúa Nhật, Mác-cô vào Thứ Hai, Lu-ca vào Thứ Ba, và Gio-an vào Thứ Sáu.

Vả lại, về phương diện lịch sử, truyền thống vẫn coi Thánh Gio-an như tông đồ duy nhất hiện diện ở chân thập giá, một điều đem lại cho trình thuật của ngài một cảm thức về sức nặng bản vị, nhân chứng tận mắt vốn trở thành nền tảng cho việc tưởng niệm Thừ Sáu Tuần Thánh.

Liên tục tính Phụng vụ

Tin mừng Gio-an cung cấp khung Kinh thánh đệ nhất đẳng cho toàn bộ Tam Nhật Thánh. Thứ Năm Tuần Thánh: việc rửa chân chỉ có trong Tin mừng Gio-an. Thứ Sáu Tuần Thánh: Việc “Tôn kính Thập Giá” phản ảnh chủ đề của Tin mừng Gio-an “nhìn lên Đấng họ đâm thâu”. Việc “máu cùng nước” chẩy xuống từ cạnh sườn Chúa Giê-su trong trình thuật Gio-an là chủ đề quán xuyến cho các bí tích Rửa Tội và Thánh Thể cử hành trong Lễ Phục Sinh.

Thánh Au-gus-ti-nô và trình thuật Gio-an về Khổ Nạn

Bình luận của Thánh Au-gus-ti-nô về trình thuật Khổ Nạn trong Tin Mừng Gio-an tìm thấy trong khảo luận của ngài về Tin Mừng này (Khảo luận 112-119). Bình luận của ngài có tính thần học sâu xa, tập chú vào quyền năng tự chủ của Chúa Ki-tô ngay trong đau khổ và tính hợp nhất đầy biểu tượng của Giáo hội. Người ta tìm thấy các chủ đề chủ chốt sau đây trong lời bình luận của ngài:

* Lời nói đầy quyền lực của Chúa Ki-tô: trong Khảo luận 112, Thánh Au-gus-ti-nô làm nổi bật cảnh trong đó các binh lính té ngửa khi nghe Chúa Giê-su nói “tôi đây”. Ngài lập luận rằng điều này chứng tỏ Chúa Ki-tô chết không phải vì Người bị khuất phục, nhưng vì Người tự ý chọn giờ chết của Người.

* Chiếc áo không đường may: ThánhAu-gus-ti-nô giải thích “chiếc áo dài dệt liền từ trên xuống dưới” (Ga 19:23) như biểu tượng của Đức Ái và Sự HIệp Nhất của Giáo hội. Một cách nổi tiếng, ngài tương phản các binh sĩ La Mã, những người từ khước việc xé chiếc áo, với các Ki-tô hữu “lạc đạo” (nhất là phái ảo thân thuyết [donatists], những kẻ chia rẽ Giáo hội.

* Man-cô và “việc nghe mới”: Bình luận về việc Thánh Phê-rô chém đứt tai Man-cô, đầy tớ thầy thượng phẩm, Thánh Au-gus-ti-nô thấy một phúng dụ thiêng liêng: tai “được cắt tỉa khỏi tính cũ kỹ của nó” để tiếp nhận tính mới mẻ của tinh thần hơn là “tính cũ kỹ của chữ viết”.

* Khía cạnh bí tích: Thánh Au-gus-ti-nô coi máu và nước chẩy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu (Ga 19:34) như giờ phát sinh các bí tích của Giáo hội, nhất là bí tích Rửa Tội và Thánh Thể, ví nó với việc E-và được hình thành từ cạnh sườn A-đam.

* Chúa Ki-tô như “ngày” và “ánh sáng”: Ngài nhận diện Chúa Ki-tô như “Ngày” và các môn đệ như “giờ”. Ngay lúc được tìm bằng “đèn đuốc” (tượng trưng cho sự tối tăm của những kẻ bách hại Người), “ngày vĩnh cửu” vẫn đơn thành chọn bị phủ bóng trong xác thịt con người để cứu rỗi họ.

Tổng quan về Tin mừng Gio-an



Trước khi đi vào chính trình thuật này, tưởng nên có cái nhìn tổng quát về Tin Mừng đặc biệt này:

(I).Nguồn và việc soạn thảo. Tin Mừng Gio-an, khác với các Tin mừng Nhất lãm về văn phong và nội dung các lời nói của Chúa Giê-su, không còn tập chú vào Nước Thiên Chúa, không còn tập chú vào việc sử dụng các câu tục ngữ và dụ ngôn, hoặc xuất hiện dưới dạng cách ngôn. Thay vào đó, Chúa Giê-su nói bằng những diễn từ mang tính biểu tượng, thường đề cập đến mối quan hệ của Người với Chúa Cha. Theo trình tự thời gian, Tin mừng Gio-an khác ở chỗ trình bày thừa tác vụ của Chúa Giê-su trong khoảng thời gian ba năm và việc Chúa Giê-su chết vào ngày chuẩn bị trước Lễ Vượt Qua. Về mặt địa lý, Tin mừng Gio-an trình bày thừa tác vụ của Chúa Giê-su xen kẽ giữa Ga-li-lê và Giu-đê-a, với trọng tâm chính là các cuộc đối đầu ở Giu-đê-a. Khuôn mẫu này khác với bức tranh Nhất Lãm về một thừa tác vụ tương đối rộng rãi ở Ga-li-lê, sau đó là một thời gian ngắn ở Giê-ru-sa-lem trước khi Chúa Giê-su bị bắt vào Lễ Vượt Qua.

Tin mừng Gio-an đồng ý với các Tin mừng Nhất Lãm rằng Chúa Giê-su chữa lành bệnh cho mọi người, hóa bánh ra nhiều và giải cứu các môn đệ khỏi cơn bão trên biển, nhưng ngài không bao giờ đề cập đến việc trừ quỷ giữa những việc chữa lành của Chúa Giê-su. Nhiều phép lạ trong Tin Mừng Gio-an tạo cơ hội cho một cái nhìn mang tính biểu tượng về căn tính của Chúa Giê-su. Các sách Nhất lãm biến việc tri nhận cho rằng Chúa Giê-su là Đấng Mê-xi-a thành cao điểm cho thừa tác vụ ở Ga-li-lê của Chúa Giê-su (Mc 8:31), trong khi các môn đệ trong Tin mừng Gio-an tuyên xưng sự thật này ngay từ đầu (1:41-49).

Bất chấp những khác biệt, rõ ràng Tin mừng Gio-an đã dựa vào những truyền thống về thừa tác vụ của Chúa Giê-su, vốn liên hệ đến những truyền thống được tìm thấy trong các Tin Mừng Nhất Lãm và nguồn của chúng. Những chuyển dịch lúng túng về mặt địa lý, trình tự thời gian và văn học trong Tin mừng khiến cho có thể có nhiều nguồn khác nhau đã được đưa vào để sọan thảo nó. Mặc dù việc xác định chính xác những gì được lấy từ một nguồn và những gì được tạo ra bởi chính tin mừng gia còn bị tranh cãi, một số loại vật liệu nguồn dường như đã được sử dụng. Những câu chuyện về phép lạ có lẽ bắt nguồn từ tuyển tập các phép lạ của Chúa Giê-su.

Các phép lạ riêng lẻ có thể đã được các Kitô hữu của tin mừng Gio-an giải thích chi tiết bằng diễn ngôn về ý nghĩa của chúng trước khi chúng được đưa vào Tin mừng. Nguồn phép lạ thường được gọi là Nguồn Dấu lạ (hoặc semeia). Một số học giả cho rằng các bài giảng trong Tin Mừng Gio-an có thể là kết quả của việc mở rộng tuyển tập những câu nói của Chúa Giê-su khác với những câu nói đằng sau các Tin Mừng Nhất Lãm. Những người khác đề xuất rằng Tin mừng Gio-an đã tiếp thu một mô hình diễn ngôn mặc khải được hình thành rõ ràng từ các nguồn không phải Ki-tô giáo, được gọi là Nguồn Diễn ngôn Mặc khải. Thay vì thừa nhận một nguồn như vậy, có vẻ hợp lý hơn khi tài liệu diễn ngôn phản ảnh các khuôn mẫu và đơn vị rao giảng đã được phát triển trong cộng đồng Gio-an. Cuối cùng, Tin mừng Gio-an hẳn đã dựa vào một câu chuyện trước đó về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su và các truyền thống về ngôi mộ trống và những lần hiện ra sau phục sinh của Chúa Giê-su.

Ở nhiều điểm khác nhau, Tin mừng Gio-an có mối liên hệ với các truyền thống trong Mác-cô, Lu-ca, và Mát-thêu ở mức độ thấp hơn. Một số học giả cho rằng Tin mừng Gio-an đã dựa vào một hoặc nhiều sách Nhất Lãm, phổ biến nhất là Mác-cô. Những người khác cho rằng động lực đặt các truyền thống của Thánh Gio-an về Chúa Giê-su dưới dạng một Tin mừng là kết quả của sự xuất hiện của các Tin mừng trong các cộng đồng khác, tin mừng gia có thể đã quen biết với một hoặc nhiều sách Nhất lãm, nhưng Tin mừng thứ tư dựa trên một dòng truyền thống độc lập được bảo tồn trong các giáo hội của Thánh Gio-an. Đó là giả thuyết được chấp nhận ở đây. Một số tình tiết chính xảy ra trong cả tin mừng Gio-an lẫn các Tin mừng Nhất Lãm là: chức vụ và lời chứng của Gio-an Tẩy Giả (Ga 1: 19-36; Mc 1:4-8); thanh tẩy Đền thờ (Ga 2: 14-16); cho đám đông ăn (Ga 6:1-13; Mc 6:34-44); đi bộ trên biển (Ga 6: 16-21; Mc 6:45-52); xin một dấu lạ (Ga 6:30; Mc 8:11); lời tuyên xưng của Phê-rô (Ga 6:68-69; Mc 8:29); sự xức dầu của Chúa Giê-su (Ga 12:1-8; Mc 14:3-9); vào thành Giê-ru-sa-lem (Ga 12:12-15; Mc 11:1-10); Bữa Tiệc Ly và những lời báo trước về sự phản bội (Ga 13:1-30; Mc 14:17-26); bắt giữ (Ga 18:1-ll; Mc 14:43-52); nỗi thống khổ (Gio-an 18:12-19:30; Mc 14:53-15:41); chôn cất và ngôi mộ trống (Ga 19:38-20:10; Mc 15:42-16:8); Chúa Giê-su hiện ra với phụ nữ (Ga 20:11-18; Mt 28:9-10); Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ tại Giê-ru-sa-lem (Ga 20:19-23; Lc 24:36-49); Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ ở Ga-li-lê (Ga 21:1-19; Mt 28:16-20, một sự hiện ra ở Ga-li-lê; Lc 5:1-11, một mẻ cá lạ lùng). Việc chữa lành con trai của quan chức hoàng gia trong Ga 4:46-54 có liên quan xa hơn với việc chữa lành trong Mt 8:5-13 và Lc 7:1-10, và việc chữa lành người mù bẩm sinh trong Ga 9 tương đương với việc chữa lành người mù trong các Tin mừng Nhất lãm (ví dụ: Mc 8:22-26; 10:46-52).

Một số câu nói của Chúa Giê-su cũng xuất hiện trong các Tin mừng Nhất Lãm và phiên bản Gio-an: lời của Tẩy Giả (Ga 1:27; Mc 1:7; Ga 1:33; Mc 1:8; Ga 1:34; Mc 1:11); tên "Sê-pha" cho Phê-rô (Ga 1:42; Mc 3:16); câu nói của Con Người (Ga 1:51; Mc 14:62); một câu nói về Đền Thờ (Ga 2:19; Mc 14:58; Mc 15:29); câu nói về việc “trở thành đứa trẻ" để vào vương quốc (Ga 3:3,5 ["trẻ sơ sinh" thay vì đứa trẻ]; Mc 10:15; Lc 18:17); bình luận về mùa gặt bội thu (Ga 4:35; Mt 9:37-38); tiên tri tại quê hương mình (Ga 4:44; Mc 6:4); mất mạng và cứu được mạng sống (Ga 12:25; Mc 8:35); đầy tớ và chủ (Ga 13:16; 15:20; Mt 10:2-4); sứ giả và người sai phái (Ga 13:20; Mt 10:40; Lc 10:16; Mc 9:37; Lc 9:48); tha tội (Ga 20:23; Mt 18:18; 16:19).

Gio-an không thường xuyên trích dẫn Cựu Ước. Trong số 18 trích dẫn minh nhiên (1 :23; 2: 17; 6:31,45; 7:38,42; 8: 17; 10:34; 12:15,38,40; 13:18; 15:25; 17:12; 19: 24, 28, 36, 37), chỉ năm điểm rõ ràng song hành với các trích dẫn trong các Tin mừng Nhất lãm: Gio-an Tẩy Giả như “tiếng kêu trong hoang địa” (Is 40:3; Ga 1:23; Mc 1:3); "vua đang đến", vào thành Giê-ru-sa-lem (Dcr 9:9; Ga 12:15; Mt 21:5); sự cứng lòng (Is 6:9-10; Ga 12:40; Mc 4:12); kẻ phản bội (Tv 41:10; Mc 14:18 [ám chỉ]); rút thăm lấy y phục của Chúa Giê-su (Tv 22:19; Ga 19:24; Mc 15:24 [không được nhận diện như một trích dẫn]). Một số trích dẫn khác bắt nguồn từ những đoạn văn thường được sử dụng trong giáo hội tiên khởi: Ga 2:17; 15:25; 19:28 và 19:29 đề cập đến Tv 69, một thánh vịnh thường được trích dẫn về sự đau khổ; Ga 6:31 và có lẽ 7:38 nhắc đến Tv 78:16,20,24.

Các nhà chú giải đã cho thấy các vấn đề chuyển dịch và trùng lắp trong Tin mừng như bằng chứng nó là kết quả của nhiều giai đoạn biên tập. Các thí dụ rõ ràng nhất về việc bổ sung vào Tin Mừng xảy ra với các chương 15-17 và 21. Cả hai nhóm đều theo sau những gì có vẻ là những kết luận trang trọng (14:31; 20:30-31). Ga 16:5 mâu thuẫn với Ga 14:4. Các chức năng được gán cho Đấng Bảo Trợ trong Gio-an 14:16-17 và 14:26 khác với chức năng trong Ga 16:7-11 và 16:13-14. Ga 21:20-23 đề cập đến cái chết của Người Môn Đệ Chúa Yêu, người được coi là nhân chứng đằng sau truyền thống Gio-an ở 21: 24. Những đoạn văn này dường như là tài liệu đã được lưu hành trong cộng đồng Gio-an và đã được thêm vào Tin Mừng ở những vị trí thích hợp để bảo tồn nó. “Tuổi” tương đối của bất cứ yếu tố đặc thù nào trong truyền thống sẽ phải được xác định trên những cơ sở khác.

Người ta cũng thường gợi ý rằng một số đoạn văn ngắn hơn dường như bị để lơ lửng có thể đã được thêm vào trong quá trình biên tập. Ga 3:31-36, đột ngột được xen vào mà không chuyển tiếp sang đoạn trong đó, Gio-an Tẩy giả đang nói, có thể là một bản tóm tắt bình luận để kết thúc chương. Nhưng nó cũng được coi là song hành với việc chuyển tiếp sang giọng nói của người kể chuyện trước đó khỏi những lời của Chúa Giê-su trong Ga 3: 16-21. Ga 6:51-59 mở rộng diễn từ về bánh ban sự sống bằng cách đề cập rõ ràng đến việc cử hành Thánh Thể; nó cũng đặt bài giảng trong hội đường ở Ca-phác-na-um (câu 59) chứ không phải ở bên bờ biển (câu 22). Lời khẳng định trong 5:24-26 rằng việc đáp ứng hiện nay đối với lời của Chúa Giê-su là thời điểm phán xét trong đó người ta bước vào sự sống đời đời, nằm ở vị trí lúng túng bên cạnh sự ám chỉ đến việc quang lâm trong tương lai của Con Người (5:27-29). Ga 12:44-50 là một đoạn diễn văn biệt lập, vì thừa tác vụ công khai dường như kết thúc với phần nói về sự cứng lòng đã khiến “người Do Thái” không chấp nhận lời rao giảng của Chúa Giê-su (12:36b-43).

Nhiều học giả giải quyết các khó khăn do việc đặt cạnh nhau sự chữa lành ở Giê-ru-sa-lem trong Gio-an 5, phép lạ cho ăn và các bài giảng liên quan ở Ga-li-lê trong Gio-an 6, và sau đó các bài giảng trở lại Giê-ru-sa-lem trong Gio-an 7, đề cập đến các vấn đề của Gio-an 5 (trong 7: 15-24), bằng cách giả định rằng Gio-an 6 đã bị "trật khớp" khỏi một chuỗi câu chuyện ở Ga-li-lê. Người ta cũng đề xuất rằng có lần câu chuyện về sứ vụ công khai của Chúa Giê-su kết thúc bằng việc Chúa Giê-su rút lui trong 10:40-42. Sau này, truyền thống về việc làm cho La-da-rô sống lại đã được xây dựng thành lời khẳng định Chúa Giê-su là “sự sống lại và sự sống” và đưa ra nguyên nhân dẫn đến cái chết của Chúa Giê-su, dẫn đến việc chèn vào đoạn 11:1-12:11, 20-50. Có lẽ, câu chuyện về việc thanh tẩy Đền Thờ, mà Gio-an, trái ngược với Tin mừng, hiện để ở lúc bắt đầu thừa tác vụ công khai, đã bị rời chỗ khi tài liệu mới này được thêm vào.

Lời mở đầu Tin Mừng (1:1-18) dường như được xây dựng trên một bài thánh ca tiên khởi. Các bình luận về Gio-an Tẩy Giả đã được chèn vào câu 6-8, 15 và về mặc khải qua Chúa Giê-su trái ngược với Mô-sê trong câu 17-18. Phần còn lại của Tin Mừng không nói về Chúa Giê-su như Ngôi Lời tiền hiện hữu, sáng tạo. Vì vậy, một số nhà giải thích gợi ý rằng phần dẫn nhập có tính thánh ca đã được thêm vào sau phần Tin Mừng đã được hoàn tất.

Bình luận này dựa trên bản văn Gio-an trong hình thức hiện thời của nó. Những khó khăn đã dẫn đến những lý thuyết khác nhau về nguồn gốc và phiên bản khiến cho có thể Tin mừng đã được soạn lại trong cộng đồng Gio-an, nhưng thật khó để tách việc biên tập Tin mừng khỏi sự phát triển của những câu chuyện và diễn ngôn giống như các Tin mừng Nhất Lãm thành hình thức Gio-an trước khi soạn thảo một câu chuyện Tin mừng. Dường như cũng không thể rút ra được “cách dùng lời” của các nguồn tiền Tin mừng từ Tin mừng như hiện nay. Bình luận này cũng giả định rằng việc biên tập Tin Mừng diễn ra phù hợp với chiều hướng của tài liệu Gio-an chứ không phải, như các nhà chú giải giả định, là một cách làm cho một việc trước tác Ki-tô giáo không chính thống trở nên dễ được chấp nhận hơn theo một tiêu chuẩn giáo hội mơ hồ.

(II) Bối cảnh của Tin Mừng thứ tư.

Các nhà chú giải đã tìm kiếm bối cảnh của Tin Mừng trong các phong trào tôn giáo đa dạng của thế kỷ thứ nhất. Sự phức tạp của cuộc tìm kiếm này một phần là do tính phổ quát của các biểu tượng trong Tin mừng Gio-an. Tin mừng cho biết dù hiểu biết của người ta về sự cứu rỗi là gì đi nữa, sự mong đợi đó cũng được nên trọn (và sửa chữa) bởi sự mặc khải độc đáo của Thiên Chúa nơi Chúa Giê-su (xem G. W. MacRae, Catholic Biblical Quarterly 32 [1970] 13-24).

Mặc dù thuật ngữ Logos, “Lời” được liên kết với thần trí thần thiêng nội tại tràn ngập khắp và sắp xếp vũ trụ trong triết học Khắc kỷ, không có gợi ý nào khác về thuật ngữ triết học trong Tin mừng. Sự tương phản giữa “trên” và “dưới”, “trên trời” và “dưới đất” cũng không hoạt động theo cách chúng hoạt động trong triết học Pla-tông. Vì vậy, những gợi ý rằng một phần quan điểm độc đáo của Gio-an được định hình bởi triết học, thậm chí là triết học phổ thông, là điều khó xảy ra.

Mối liên hệ giữa Tin Mừng và các tín ngưỡng ngoại giáo cũng khá mong manh. Truyền thống nhất lãm không có gì có thể so sánh được với việc biến nước thành rượu (Ga 2:1-11). Nhưng thần Dionysus được cho là người chịu trách nhiệm biến nước thành rượu (thí dụ, Euripides, Bacchae 704-7; Pausanias, Description of Greek 6.26.1-2). Phép lạ này dường như đã được "thực hiện" trong các nghi lễ tại đền thờ Dionysus, và một số độc giả của Tin mừng thứ tư có thể đã liên kết phép lạ Cana với giáo phái Dionysus (xem E. Linnemann, New Testament Studies 20 [1973-74] 408-18). Nhưng vì thiếu các bản thể được biến đổi, không có gì khác trong câu chuyện của tin mừng Gio-an cho thấy giáo phái Dionysus chịu trách nhiệm cho việc gán phép lạ như vậy cho Chúa Giê-su.

Hình ảnh “tái sinh” của Gio-an (1:13; 3:3,5) và những lời khẳng định người tín hữu có được sự sống đời đời đôi khi được liên kết với các giáo phái huyền bí hoặc với các trước tác huyền bí. Tuy nhiên, câu chuyện về Chúa Giê-su hoàn toàn khác với việc trình diễn một câu chuyện thần thoại về cái chết hoặc sự giam cầm trong Âm phủ và sự phục hồi (thường là một phần) thần tính, vốn tạo nên những gì được công chúng biết đến về các vị thần và nữ thần của những giáo phái như vậy. Ngoài ra, một số học giả cảm thấy rằng những lời hứa dành cho người mới được khai tâm trong các mầu nhiệm ít liên quan đến sự bất tử hơn người ta thường nghĩ. Sự thịnh vượng, tình bạn với nam thần và nữ thần, và sự bảo vệ trong cuộc sống này là những chủ đề quan trọng không kém trong các mầu nhiệm (xem R. MacMullen, Paganism in the Roman Empire [chủ nghĩa ngoại đạo trong Đế quốc La Mã] [New Haven, 1981) 133-37). Một số mối liên hệ giữa tin mừng Gio-an và các trước tác huyền bí, chẳng hạn như việc sử dụng Logos trong huyền thoại sáng tạo (Church History 1.5-6), là do sự kết hợp của Sách Sáng Thế vào hệ thống hòa đồng hổ lốn của các trước tác huyền bí. Bí ẩn về sự tái sinh ở Church History Số 13 giả định một viễn kiến cứu rỗi trong đó người mới được khai tâm được biến đổi thành thần minh. Tin mừng thứ tư không bao giờ gợi ý rằng Kitô hữu được biến đổi “thành Thiên Chúa”. Chỉ có Chúa Giê-su mới có mối quan hệ đặc biệt như vậy với Chúa Cha.

Khi các học giả phục hồi tính đa dạng của Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất, hậu cảnh Do Thái của Tin Mừng được chú trọng nhiều hơn. Mặc dù Tin mừng Gio-an không trích dẫn Cựu Ước thường xuyên như các Tin mừng Nhất Lãm, nhưng những ám chỉ đến các bản văn và hình ảnh trong Cựu Ước thường có vẻ được đan xen vào các diễn ngôn (xem G. Reim, Studien zum alttestamentlichen Hintergrund des Johannesevangeliums [Các nghiên cứu về bối cảnh Cựu Ước của Tin mừng Gio-an][Society of New Testament Studies Monograph Series 22; Cambridge, 1974]). Các việc nhắc đến các tổ phụ Gia-cóp ( 4:5-6; 1 :51) và Áp-ra-ham (8:31-5_8) phản ảnh truyền thống đã phát triển trong đạo Do Thái thế kỷ thứ nhất. Phần trình bày về bánh sự sống trong 6:30-59 đã được so sánh với phần trình bày thuyết giáo của phái midrāšîm [truyền thống bình luận kinh thánh Do Thái] (xem P. Borgen, Bread from Heaven [Bánh bởi trời] [Novum Testamentum Supplements 1 O; Leiden, 1965]). Những tham chiếu khác về Cựu Ước trong Tin mừng Gio-an rất có thể đã được rút ra từ truyền thống dịch Kinh thánh Do Thái sang tiếng Aram [targumic] (xem G. Reim: Biblische Zeitschrift 27 [1983] 1-13). Các truyền thống của Mô-sê được tiếp thu trong những ám chỉ về giao ước ở Ga 1: 17-18; loại hình con rắn ở 3: 14; diễn từ về manna/bánh ban sự sống và hình ảnh người ta lẩm bẩm chống lại Chúa Giê-su ở Gio-an 6; sự hạ thấp Mô-sê so với Chúa Giê-su ở 5:45-47 và 9: 28-29, và lời khẳng định rằng Chúa Giê-su là nhà tiên tri kiểu Mô-sê trong Đnl 18:15 (1:21,25; 4:19; 6:14; 7:40).

Ngay cả những cách diễn đạt của Tin mừng Gio-an về mối quan hệ đặc biệt của Chúa Giê-su với Thiên Chúa cũng đã được làm cho dễ hiểu dựa trên hậu cảnh Do Thái. Bài thánh ca khẳng định Chúa Giê-su như Lời thần thiêng tích cực trong công cuộc sáng thế cũng phản ảnh việc truyền thống mô tả sự Khôn ngoan của Thiên Chúa như tác nhân của sáng thế (Cn 8:22-30; Kn 9:1-9). Khôn ngoan được mô tả như từ nơi nó ở với Thiên Chúa để đến với con người. Như Chúa Giê-su bị “người của mình” rẫy bỏ (Ga 1:11), Sự Khôn Ngoan cũng không tìm được nơi ở giữa con người (1 Enoch 42:2). Mặc dù truyền thống Cựu Ước không nói về Khôn ngoan như "Lời", cả hai được coi như nhau trong Philo thành Alexandria, và Khôn ngoan và Lời hay luật pháp thường xuất hiện song song.

Chúa Giê-su của Tin mừng Gio-an cũng đồng nhất mình với “Ta là” thần linh (ví dụ: 8:24,28,58; 13:19). Isaia của bản Bẩy Mươi hiểu cách diễn đạt ego eimi, “Ta Là,” như danh thánh Thiên Chúa (Is 51:12; 52:6). Tính biểu tượng của Cựu Ước cũng là cơ sở cho loại câu nói “Ta là" khác, trong đó điều khẳng định cung cấp mô tả tượng trưng về Chúa Giê-su (6:35,51; 8:12 [9:15]; 10:7,9; 10:11, 14; 11:25; 14:6; 15:1,5; xin xem Thần học Gio-an, 83:41-49).

Cuối cùng, Tin Mừng thúc đẩy lời tuyên bố của Chúa Giê-su cho rằng Người nói thay Thiên Chúa và Người phải được tiếp nhận như Thiên Chúa trên cơ sở Chúa Giê-su là tác nhân của Thiên Chúa. Truyền thống pháp lý của người Do Thái về người đại diện cho rằng người đại diện “giống như người đã cử họ đi”. Người đại diện có thẩm quyền hoạt động như thể mình là người sai mình đi (xem P. Borgen, "God's Agent in the Fourth Gospel," Religions in Antiquity [Tác nhân của Thiên Chúa trong Tin mừng thứ tư," Các tôn giáo trong thời cổ đại [Fest. E. R. Goodenough; J. Neusner ed.; Leiden, 1968] 137-47).

Các sách Cuộn Biển Chết đã đặt ra nhiều câu hỏi hơn nữa về mối liên hệ giữa Tin Mừng thứ tư và các truyền thống Do Thái. Những điểm tương đồng giữa thuyết nhị nguyên ánh sáng và bóng tối trong Các sách Cuộn Biển Chết và Tin mừng Gio-an cho thấy rằng một số biểu tượng của Tin mừng bắt nguồn từ các giới giáo phái Do Thái. Nhóm các phản đề, ánh sáng-bóng tối (1 :5; -3: 19-21; 8: 12; 12:35-36,46), sự thật-nói dối (8:44-45), trinh thần - xác thịt (1:13; 3:6; 6:63), tất cả đều có những song hành trong hình ảnh tôn giáo của Các sách Cuộn Biển Chết. Hình ảnh trong tin mừng Gio-an về một kẻ thù, "kẻ thống trị thế giới này" (12:31; 14:20; 16:11), hay "quỷ dữ", chủ nhân của những người thuộc về hắn (8:41, 44), có một bản sao trong hình ảnh của Các sách Cuộn Biển Chết về "thiên thần bóng tối", chủ nhân của "những con cái bóng tối" và cố gắng đánh lừa "những con cái của ánh sáng" ( 1 QS 3: 18b-4: 1; xin xem→ Thần học Gio-an, 83:31-32).

Những điểm tương đồng khác đã được gợi ý giữa tín lý về Thánh Thần trong Tin mừng Thứ Tư và Các sách Cuộn Biển Chết. Các sách Cuộn Biển Chết chứa đựng những gợi ý về mối quan hệ giữa nước và việc ban Thánh Thần (xem Ga 3:5; 7:37-38; lQS [61 :7-9] 4: 19-28). Cụm từ “Thần Khí Sự Thật” (Ga 14:17; 15:26; 16:13) xuất hiện trong lQS 3:6-7.

Một số nhà chú giải cho rằng nhân vật bí ẩn Paraclete, đặc biệt khi nhân vật này đến để kết án thế giới trong Gio-an 16:8-11, theo một cách nào đó đã được bắt nguồn từ các hình ảnh Các sách Cuộn Biển Chết về những thiên thần bảo vệ trên trời của Israel, Mi-ca-e hoặc Men-ki-xê-đê.

Các khác biệt giữa Tin mừng Gio-an và Các sách Cuộn Biển Chết khiến cho tin mừng gia khó xây dựng viễn kiến thần học của mình bằng cách đơn giản tiếp nhận hệ thống biểu tượng của Giáo phái rửa tội của người Do Thái ở thế kỷ thứ nhất. Phản đề sống-chết, nổi bật trong Tin mừng Gio-an (ví dụ, 5:24; 8:51; 6:49,58; 11:25), không đóng một vai trò nổi bật như vậy trong Các sách Cuộn Biển Chết. Trong khi sự trong sạch và tuân theo luật phân biệt “những đứa con của ánh sáng” với những đứa con của bóng tối trong Các sách Cuộn Biển Chết, thì Tin Mừng Thứ Tư lấy niềm tin vào Chúa Giê-su như Đấng đến từ Thiên Chúa và là Đấng mặc khải Thiên Chúa làm điểm phân chia. Tuy nhiên, có đủ những điểm tương đồng để hỗ trợ cho gợi ý này là vào một thời điểm nào đó chắc hẳn đã có sự liên hệ giữa truyền thống Gio-an và kiểu biểu tượng tôn giáo đã phát triển trong các giới thuộc giáo phái Do Thái ấy.

Câu chuyện người Sa-ma-ri-a trở lại trong Gio-an 4:7-42 có thể cung cấp manh mối cho một truyền thống tôn giáo khác nằm trong bối cảnh của Tin mừng Thứ Tư. Câu chuyện này phản ảnh những kỳ vọng của người Sa-ma-ri-a về một “nhà tiên tri giống như Mô-sê" và về sự khôi phục có tính cánh chung của việc thờ phượng Thiên Chúa thực sự trên Núi Gerizim. Josephus thuật lại rằng những kỳ vọng như vậy đã khiến một đám đông đi theo một người hứa sẽ tiết lộ nơi Mô-sê đã chôn các chiếc bình (Antiquities of the Jews 18.4.1 § 85; xem M. F. Collins, Journal for the Studies of Judaism 3 [1972] 97-116). Việc mong đợi một “tiên tri như Mô-sê” không chỉ giới hạn nơi người Sa-ma-ri-a. Nó cũng được tìm thấy trong Các sách Cuộn Biển Chết (4QTestim, 1QS 9:11). Lời buộc tội Chúa Giê-su là người Sa-ma-ri-a “bị quỷ ám” trong Gio-an 8:48 đã được coi là ngụ ý rằng giáo hội của Gio-an thời kỳ đầu đã kết hợp một nhóm người Sa-ma-ri-a trở lại (Brown, Community 37-38). Vì chi tiết trong niềm tin của người Sa-ma-ri-a về đấng tiên tri sẽ đến không rõ ràng, một số nhà chú giải thận trọng chống lại những suy đóan tỉ mỉ về ảnh hưởng của những kỳ vọng của người Sa-ma-ri-a đối với Tin mừng Thứ Tư (xem M. Pamment, Zeitschrift fur die neutestamentliche Wissenschaft [Tạp chí nghiên cứu Tân Ước] [1982] 221-30).

Một số đặc điểm trong bức tranh về Chúa Giê-su của tin mừng Gio-an dường như không được trình bầy hoàn toàn trong tài liệu nền từ các nguồn tài liệu Do Thái. Điều nổi bật nhất là Tin Mừng tập trung vào Chúa Giê-su như Đấng từ trời đến với sự mặc khải về Thiên Chúa mà không ai khác “biết” được. Những lời tuyên bố “Ta Là” của Tin mừng có những điểm tương ứng với những lời tuyên bố mang tính mặc khải của các nhân vật mặc khải ngộ đạo. Vì các trước tác ngộ đạo còn tồn tại đã ra đời sau Tin mừng, nên giá trị của chúng trong việc cung cấp nền tảng cho sự xuất hiện của Kitô học và cứu thế học của Gio-an bị tranh cãi. Diễn từ ở ngôi thứ nhất, mang tính mặc khải của một đấng mặc khải trên trời, sử dụng những lời tuyên bố theo phong cách "Tôi Là", được thể hiện rõ ràng trong các tác phẩm như Thunder, Perfect Mind, và Trimorphic Protennoia (Nag Hammadi Library in English 271-77, 461-70). Cả Trimorphic Protennoia Tripartite Tractate đều sử dụng "Lời" như một trong những biểu hiện của người mặc khải thần linh. Nhưng những diễn ngôn mặc khải này gắn liền với các nhân vật trên trời bắt nguồn từ bộ ba thần linh Cha-Mẹ-Con và được gắn vào một bối cảnh thần thoại. Bất cứ tiếp xúc nào giữa Tin mừng thứ tư và thuyết Ngộ đạo sẽ phải nằm giữa các truyền thống Gio-an và những khuynh hướng chú giải không chính thống của người Do Thái và việc tạo ra huyền thoại ngoại giáo và triết lý đã được hàn lại với nhau trong các tổng hợp ngộ đạo sau này (xem G. W. MacRae, “Nag Hammadi and the New Testament,” Gnosis [Nag Hammadi và Tân Ước, ngộ đạo] [Fest. H. Jonas; ed. B. Aland; Gottingen, 1978] [Trimorphic Protennoia và Tân Ước] 144-5 7; Y. Janssens, “The Trimorphic Protennoia and the Fourth Gospel," The New Testament and Gnosis [“Trimorphic Protennoia và Tin mừng Thứ tư”Tân Ước và Ngộ đạo] [Fest. R. McL. Wilson; biên tập. A. H. B. Logan, et al.; Edinburgh, 1983] 229-44).

Các truyền thống khôn ngoan của người Do Thái cũng đóng một vai trò trong việc định hình những câu chuyện ngộ đạo về Sophia (khôn ngoan) thần linh và về sự mặc khải bị bác bỏ (xem G. W. MacRae, Novum Testamentum, Supplements 12 [1970] 86-101). Một số học giả cho rằng các tác phẩm ngộ đạo của thế kỷ thứ 2 đã giả định trước một huyền thoại về một đấng mặc khải trên trời, người đến để cứu nhân loại bằng cách mang "kiến thức về Thiên Chúa và thế giới thần linh" cho những người bị mắc kẹt trong sự ngu dốt. Họ cho rằng câu chuyện này gắn liền với Sết [Seth] hoặc A-đam trên trời hoặc với Khôn ngoan. Nó xuất hiện từ truyền thống chú giải sách Sáng thế không chính thống của người Do Thái vào khoảng thế kỷ thứ nhất. (xem K. Rudolph, Gnosis [SF, 1983] 113-59). Mặc dù có thể phân biệt Kitô học của Tin mừng thứ tư với các hệ thống ngộ đạo của thế kỷ thứ 2, nhưng hình ảnh về Chúa Giê-su như đấng mặc khải thần linh có thể gần gũi hơn nhiều với những câu chuyện về Đấng cứu chuộc đang xuất hiện trong giới ngộ đạo vào cuối thế kỷ thứ nhất.

Tuy nhiên, người ta thường có thể lập luận rằng quá trình thần thoại hóa ngộ đạo bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của những tuyên bố của Ki-tô giáo về Chúa Giê-su như sự mặc khải của Thiên Chúa. Người ta nhận thấy mối liên hệ ngày càng cao giữa Chúa Giê-su, Logos và Đấng cứu chuộc như các tác giả Ngộ đạo của thế kỷ thứ 2 tìm cách trình bày một mặt trận Kitô giáo rõ ràng hơn. Do đó, tác giả “Kitô giáo” ngộ đạo của Khái niệm Quyền năng Vĩ đại của Chúng ta nói về Chúa Giê-su: “Đây là ai? Đây là cái gì? Logos của Người đã bãi bỏ lề luật của các thần minh trung gian (eon).

Người đến từ Logos của quyền lực sự sống. Và Người đã chiến thắng trước sự chỉ huy của các vua chúa vương quốc tối tăm (archons), và họ không thể cai trị được Người” (42,4-11). Logos đã chiến thắng các quyền lực của thế giới thấp kém (x. Ga 12:31; 14:30-31; 16:11,33b). Trong Khải huyền của A-đam, hầu như chưa được Kitô giáo hóa, chúng ta thấy Logos được gán cho thế hệ thứ mười ba, thế hệ cuối cùng của thế giới thấp hơn (92.10-17). Có ý kiến cho rằng tác phẩm có tính Sết này biết về Ki-tô học của Tin mừng Gio-an và đã đặt vương quốc của Chúa Giê-su ngay trong thế giới vật chất do Sakla cai trị. Chỉ những người theo thuyết Ngộ đạo mới không bị bắt làm nô lệ bởi Sakla, là một chủng tộc không có vua đứng đầu (92.19-20).

Do đó, tác giả này dường như bác bỏ khả thể thẩm hóa Logos của tin mừng Gio-an vào thuyết ngộ đạo theo cách khẳng định rằng sự cứu chuộc phát xuất từ một Chúa Giê-su Ngộ đạo (xem G. A. Stroumsa, Another Seed [Nag Hammadi Studies 24; Leiden, 1984] 96-103 ).

(III) Cộng đồng Gio-an.

Một cách tiếp cận để "sắp xếp trật tự" cho các mẫu nguồn phức tạp, việc biên tập và bối cảnh được Tin mừng thứ tư trình bày nhằm hình thành một tập hợp các giả thuyết về nguồn gốc, sự phát triển và bối cảnh xã hội của giáo hội Thánh Gio-an (như trong W. A. Meeks, "The Man from Heaven in Johannine Sectarianism," [Người đàn ông đến từ thiên đường trong chủ nghĩa bè phái Gio-an] Journal of Biblical Literature 91 [1972] 44-72; Martyn, History and Theology [Lịch sử và Thần học; Brown, Community; xin xem Thần học Gio-an, 83:9-14).

Sự phân chia đặc trưng nhất trong Tin Mừng này là giữa Chúa Giê-su như Đấng “từ trên cao” và những gì đến từ thế gian này. Nửa sau của Tin Mừng tập trung vào việc Chúa Giê-su trở về với Chúa Cha, Đấng mà từ đó, Người đã xuất thân. Mô hình đi xuống và trở về cũng xác lập bản sắc của cộng đồng Gio-an (xem G. C. Nicholson, Death as Departure: The Johannine Descent-Ascent Schema [Cái chết như khởi hành: Sơ đồ đi lên và đi xuống của Gio-an] [Society of Biblical Literature Dissertation Series 63; Chico, 1983]). Tin Mừng này gợi ý ít nhất ba nhóm mà cộng đồng phải vạch ranh giới chống lại: (a) những người theo Gio-an Tẩy giả (1:35-37; 3:22-30; 4:1-3; 10:40-42); (b) người Do Thái, những người đã thực hiện các biện pháp để trục xuất những người tin Chúa Giê-su ra khỏi hội đường (9:22-23; 16:1-4a), và (c) những “Kitô hữu” khác từng là tín hữu của Chúa Giê-su nhưng bây giờ đã tự tách biệt khỏi cộng đồng, rõ ràng vì những lời khẳng định Kitô học về thiên tính của Chúa Giê-su (6:60-65).

Những gợi ý sâu hơn về “thế giới xã hội” của cộng đồng Gio-an được rút ra từ Tin Mừng Thứ Tư. Gio-an 4:4-42 ám chỉ đến sự hoán cải của một nhóm đáng kể người Sa-ma-ri-a. Sự xuất hiện của dân ngoại trong Gio-an 12:20-26 gợi ý rằng cộng đồng đã từ bỏ sứ mệnh vô ích đối với người Do Thái và tìm cách truyền giáo cho dân ngoại. Bất chấp lệnh cấm của người Do Thái đối với các Ki-tô hữu vào các hội đường Do Thái, một sự kiện mà một số học giả liên kết với việc lên công thức chúc phúc chống lại những kẻ dị giáo (birkat hammînîm) vào khoảng năm 90 CN, Tin mừng Gio-an vẫn nhấn mạnh rằng có những tín hữu và cảm tình viên trong cộng đồng Do Thái (12:42-43) ). Gio-an 16:1-4a ngụ ý rằng việc bách hại tiếp tục vượt quá việc người Do Thái trục xuất ra khỏi hội đường (xem B. Lindars, "The Persecution of Christians in John 15: 18-16:4a," Suffering and Martyrdom in the New Testament [Việc bách hại các Ki-tô hữu trong Gio-an 15:18-16:4a, Đau khổ và Tử đạo trong Tân Ước] [Fest G. M. Styler; W. Horbury và cộng sự chủ biên; Cambridge, 1981] 48-69).

Cuối cùng, nhân vật Phê-rô trong Tin Mừng thứ tư dường như đại diện cho những Ki-tô hữu của các cộng đồng tông đồ bên ngoài giáo hội Gio-an. Phê-rô được coi là thủ lĩnh của Nhóm Mười Hai. Ấn bản cuối cùng của Tin Mừng xác lập vị trí của Phê-rô là “người chăn chiên” trong một việc trao sứ mạng bởi Chúa phục sinh (21:15-17). Đồng thời, “đức tin” và sự gần gũi của Phê-rô với Chúa Giê-su luôn thua kém Người Môn Đệ Chúa Yêu (13:23; 20:4,8; 21:7). Trong khi Công vụ 1:14 tuyên bố rằng mẹ của Chúa Giê-su là một phần trong nhóm Mười hai ở Giê-ru-sa-lem, thì Gio-an 19:26-27 khẳng định rằng Chúa Giê-su đã giao phó mẹ mình cho Người Môn Đệ Yêu Dấu, người môn đệ duy nhất có mặt tại thập giá. Một số nhà chú giải cho rằng Gio-an 21 được tạo ra để làm dịu đi việc bác bỏ khuôn mẫu Phê-rô của những mục tử có thẩm quyền trong cộng đồng Gio-an, một cộng đồng đã đặt căn bản truyền thống lãnh đạo của mình trên Người Môn Đệ Yêu Dấu “được Chúa Thánh Thần linh hứng” (xem A.H. Maynard, New Testament Studies 30 [ 1984) 531-48).

R. E. Brown (Community) đã tạo ra một giả thuyết liên kết sự phát triển của Giáo hội Gio-an với lịch sử truyền thống Tin Mừng. Tin Mừng được soạn tác sau cuộc khủng hoảng do việc trục xuất các Kitô hữu khỏi hội đường gây ra. Mức độ nghiêm trọng của việc lên án “người Do Thái” cho thấy cuộc bách hại rất đắt giá. Có lẽ nó thậm chí còn được theo sau bởi một sự di chuyển của cộng đồng Gio-an ban đầu về mặt địa lý từ Palestine đến một địa điểm trong cộng đồng hải ngoại như Ê-phê-sô, một địa điểm được gán cho Ki-tô giáo Gio-an trong các truyền thống giáo hội sau này.

Việc bảo tồn các chi tiết xác thực về Palestine không có trong các tin mừng Nhất Lãm và sự nhấn mạnh tới việc đánh giá Gio-an Tẩy giả cách đúng đắn cho thấy nguồn gốc của cộng đồng này giữa các giáo phái đa dạng của Do Thái giáo ở Palestine. Hai nguồn quan trọng của Tin Mừng có từ thời kỳ này: (a) tuyển tập các danh hiệu xức dầu của Do Thái giáo và lời khẳng định rằng Chúa Giê-su đã hoàn thành Kinh thánh, hiện là nền tảng của Gio-an 1:19-51; (b) bộ sưu tập ban đầu về các phép lạ của Chúa Giê-su, mà vào thời kỳ này có lẽ đã được coi là bằng chứng cho niềm tin vào Chúa Giê-su là Đấng Mê-xi-a và là Con Thiên Chúa (xem M.-E. Boismard, Ephemerides Theologicae Lovanienses 58 [ 1982 (357-64).

Tại một thời điểm nào đó, các thành viên của cộng đồng Gio-an đã làm một số người Sa-ma-ri-a trở lại. Sứ mệnh ở Sa-ma-ri-a có thể trùng hợp với việc nhấn mạnh đến Chúa Giê-su như Đấng thay thế Đền Thờ (2:13-22), các nghi thức thanh tẩy (2:6) và các lễ khác theo lịch Do Thái như Lễ Vượt Qua và Đền tạm. Nó cũng sẽ làm nổi bật các chủ đề của Mô-sê: Chúa Giê-su là nguồn thực sự của các phước lành trong giao ước, là Đấng duy nhất đã “nhìn thấy Thiên Chúa” và nhà tiên tri kiểu Mô-sê, người sẽ khôi phục sự thờ phượng đích thực đối với Thiên Chúa.

Sau khi bị trục xuất khỏi hội đường và có thể phải di dời từ Palestine đến Ê-phê-sô (?), nỗ lực truyền giáo của cộng đồng tập trung vào Dân Ngoại. Gio-an 7:35 và 12:20-22 có thể cho thấy sự thành công ban đầu của nỗ lực này. Giai đoạn này (thập niên 90) cũng chứng kiến sự hình thành truyền thống trước tác của cộng đồng. Việc mở rộng việc giảng lễ một cách sâu rộng về các truyền thống phép lạ, bài thánh ca Logos trong lời mở đầu, và trình thuật cuộc thương khó được soạn thảo cẩn thận có lẽ đã có trước việc soạn tác trình thuật về sứ mệnh của Chúa Giê-su. Một số tài liệu diễn ngôn hiện được lưu giữ trong các chương 15-17 cũng có thể đã hình thành trong giai đoạn này.

Cuối cùng, gần tới lúc chuyển thế kỷ, chúng ta thấy Cộng đồng Gio-an bị giằng xé bởi sự ly giáo trong các Thư tín của Gio-an. Một số học giả lần theo dấu vết của sự ly giáo đó trong Tin mừng (ví dụ, trong lời khuyên hãy ở lại trên cây nho trong 15:1-17); F. F. Segovia đã nghĩ thế, Journal of Biblical Literature 101 [1982 (115-28). Việc biên tập cuối cùng của Tin Mừng này thừa nhận “người chăn chiên” trong các giáo hội Phê-rô cũng có thể đã diễn ra vào thời điểm này.

Các thư tín của Gio-an trình bày một bức tranh về giáo hội Gio-an như một tập hợp các "giáo hội tại gia" tập trung xung quanh một khu vực trung tâm và được liên kết với nhau bởi các nhà truyền giáo du hành. Họ cho rằng sự ly giáo giữa những các Ki-tô hữu theo Gio-an là kết quả của những cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của truyền thống được kế thừa. Một số nhà chú giải coi sự ly giáo hướng vào bên trong này là bằng chứng cho thấy cộng đồng Gio-an đã vận dụng luận lý học của hệ thống biểu tượng nhị nguyên của mình và trở thành một giáo phái. Sự ly giáo chỉ có thể làm tăng thêm quá trình tự nhận diện và cách ly cứng ngắc. Việc thừa nhận quyền lực của Phê-rô trong Gio-an 21 có thể đã giúp một số giáo hội Gio-an có thể hợp nhất với các Ki-tô hữu của các giáo hội khác. Nhưng đối với những người khác, hệ thống biểu tượng của Gio-an có thể dẫn đến loại "hữu thể học thần thoại hóa" do người ngộ đạo thế kỷ thứ hai cung cấp.

(IV) Tác giả của Tin mừng thứ tư. Việc “viết xuống” các truyền thống của Gio-an rõ ràng là một phần của đời sống liên tục của cộng đồng. Nó có thể là kết quả của một "trường phái Gio-an" gồm các môn đệ của Người Môn Đệ Chúa Yêu và các thầy dạy trong các giáo hội theo Thánh Gio-an. Có một sự thống nhất đầy đủ trong quan điểm soạn thảo văn học và quan điểm thuật lại trong Tin mừng để biện minh cho chủ trương cho rằng một cá nhân duy nhất chịu trách nhiệm về cấu trúc của câu chuyện Tin mừng. Nhưng tầm quan trọng của lịch sử đức tin của cộng đồng trong việc hình thành truyền thống Gio-an làm cho việc bận tâm đến một tác giả duy nhất của Tin mừng Gio-an, ngày nay, không còn phù hợp nữa.

Việc những người theo thuyết Ngộ đạo chiếm đoạt tin mừng Gio-an đã khiến cho giáo hội cổ xưa phải theo đuổi vấn đề về quyền tác giả tông đồ của nó. Một số Ki-tô hữu nghi ngờ tin mừng Gio-an vì nó rất được ưa chuộng nơi các nhóm dị giáo và quá khác biệt so với các Tin mừng khác. Nếu có thể chứng minh rằng Tin mừng có nguồn gốc tông truyền thì các Ki-tô hữu chính thống có thể chấp nhận nó. Một trong những người phản đối thuyết ngộ đạo mạnh mẽ nhất, thánh giám mục I-rê-nê của Lyons (chết năm 202), bảo vệ tính tông đồ của tin mừng Gio-an và việc đưa nó vào quy điển Kitô giáo của bốn Tin Mừng bằng cách viện đến truyền thống đang lưu hành ở Tiểu Á vào thời ngài. Ngài khẳng định rằng nó được sáng tác bởi Người Môn Đệ Chúa Yêu, tên là Gio-an, tại Ê-phê-sô vào cuối đời. Thánh I-rê-nê nghe nói rằng Thánh Gio-an đã sống cho đến thời Trajan, tức là đầu thế kỷ thứ 2 CN (Chống lạc giáo 3.1.2; 3.3.4; 2.33.3; cũng như Eusebius, Lịch sử Giáo hội 3.23.3; 5.20.4-8). Tuy nhiên, Thánh I-rê-nê dường như cũng đã nhầm lẫn tông đồ Gio-an, con trai Dê-bê-đê [Zebedee], với một linh mục xuất thân từ Tiểu Á cũng tên là Gio-an. Vì Thánh I-rê-nê tuyên bố đã nhận được thông tin của mình khi còn nhỏ từ Polycarp, giám mục của Smyrna (mất năm 156), chúng ta không nên quá ngạc nhiên về sự nhầm lẫn. Nhà giáo sử Eusebius cũng thừa nhận rằng Thánh I-rê-nê đã nhầm lẫn hai người khác nhau được gọi là “Gio-an."

Các Ki-tô hữu ở Ê-phê-sô tôn kính Gio-an, con trai của Dê-bê-đê, vào thế kỷ thứ 2. Thực thế, Eusebius báo cáo rằng họ có hai ngôi mộ khác nhau, cả hai đều được cho là nơi an nghỉ của ngài. Eusebius gợi ý rằng có lẽ ngôi mộ phụ thực sự là của nhà tiên tri Ki-tô giáo tên là Gio-an, người đã viết cuốn Khải huyền (Lịch sử Giáo hội 3.31.3; 3.39.6). Đến cuối thế kỷ thứ 2, các biến thể của truyền thống cho rằng Tin mừng thứ tư do tông đồ Gio-an ở Ê-phê-sô soạn tác đã được biết đến ở Alexandria (xem Eusebius, Lịch sử Giáo hội 6.14.7) và Rôma (Qui điển Muratoria 9-16, 26-33).

Một khi việc xác định tông đồ này được thực hiện, vị trí của Tin Mừng Thứ Tư trong qui điển Kitô giáo chính thống đã được đảm bảo. Ngay từ cổ thời, Eusebius đã nhận ra rằng có sự nhầm lẫn về nhiều người tên là Gio-an có liên hệ với Ki-tô giáo tại Ê-phê-sô. Tác giả Gio-an 21 rõ ràng không đồng nhất Người Môn Đệ Chúa Yêu, nguồn gốc của truyền thống Gio-an, với Gio-an, con ông Dê-bê-đê. Gio-an 21:2 ám chỉ “các con trai của Dê-bê-đê”, trong khi 21:7,20 ám chỉ Người Môn Đệ Chúa Yêu. Ở chỗ khác, Tin Mừng cũng xuất hiện để tách Nhóm Mười Hai ra khỏi các môn đệ khác của Chúa, trong đó có Người Môn Đệ Chúa Yêu. Một khó khăn khác đối với quan điểm cho rằng Gio-an, con trai của Dê-bê-đê là tác giả của Tin mừng thứ tư là giả định trong Mc 10:39 rằng cả hai anh em sẽ chịu tử đạo. Gio-an 21:20-23 khẳng định khá rõ ràng rằng Người Môn Đệ Chúa Yêu không chết một cái chết tử đạo như Phê-rô đã chịu. Cuối cùng, các nhà chú giải hiện đại nhận xét rằng sự phát triển trong Kitô học và cánh chung học đã được thực hiện của Tin mừng thứ tư vượt xa những gì có thể xảy ra đối với một ngư dân người Ga-li-lê.

Mặc dù các học giả ngày nay đưa ra những trả lời hoàn toàn khác cho câu hỏi về quyền tác giả của Tin mừng thứ tư, giải pháp này không nhất thiết làm suy yếu điểm cơ bản mà việc khẳng định quyền tác giả tông đồ đã đưa ra. Tin mừng thứ tư không phải là một tác phẩm cố hữu dị giáo, một cuộc "rửa tội" che đậy cho một huyền thoại cứu chuộc không phải Ki-tô giáo, hay một mô tả mang tính giáo điều về Chúa Giê-su như Đấng Ki-tô trên trời. Đó là bằng chứng cho sự phát triển chính đáng của đức tin tông truyền. Như vậy, nó có một vị trí xứng đáng trong qui điển Tin mừng chính thống như Thánh I-rê-nê đã nhấn mạnh.

(V) Đặc điểm văn học của Tin Mừng thứ tư.

Các học giả cũng tìm cách hiểu Tin mừng như nó hiện diện trước mắt chúng ta. Tác giả đã sử dụng những nét đặc biệt nào về bố cục, văn phong? Các nhân vật và mối quan hệ của họ được miêu tả như thế nào? “Cốt truyện” dẫn dắt câu chuyện từ đầu đến cuối là gì? (Xem R. A. Culpepper, Anatomy of the Fourth Gospel [Mổ xẻ Tin mừng Thứ tư] [Phi, 1983]).

Diễn ngôn Gio-an được định hình bằng sự lặp lại các từ ngữ đã định sẵn, việc xây dựng các phản đề, sự bao gồm và cấu trúc các câu trong một đơn vị theo mô hình Phép đối ngẫu tréo [chiastic]. Những đặc điểm này được minh họa bởi Gio-an 8:12-20. Câu nói “Ta Là” giới thiệu diễn ngôn về chứng từ phán xét (câu 12). Chúa Giê-su chống đối sự phản bác của người Pha-ri-siêu bằng một luận đề trái ngược. Đoạn văn sau đó phát triển xung quanh một loạt các khẩu lệnh. Câu 14 giới thiệu một sự chống đối: “Tôi biết… các ông không biết [Chúa Giê-su từ đâu đến và đang đi đâu]”. Câu 15 tạo ra một sự chống đối khác: “Các ngươi xét đoán theo xác thịt; ta không xét đoán”. Câu 16 quay trở lại sự chống đối từ câu 13 rằng Chúa Giê-su sẽ không làm chứng “thực sự” và cũng giới thiệu những điều mà độc giả của tin mừng Gio-an biết là đúng về nguồn gốc của Chúa Giê-su, mối liên hệ của Người với Chúa Cha. Đồng thời, việc đề cập đến sự phán xét chân thực vẫn giữ nguyên mối liên hệ với câu trước. Câu 17 sau đó viện dẫn luật tuyên bố lời khai của hai nhân chứng là đúng sự thật. Câu 18 mở đầu bằng câu “Ta Là” và nêu tên hai nhân chứng. Cả câu 16 và câu 18 đều đặt từ “Cha” ở vị trí nhấn mạnh ở cuối câu. Câu 19 mở đầu bằng một câu chống đối được diễn đạt dưới dạng câu hỏi “Cha ông ở đâu”, Chúa Giê-su trả lời bằng một câu khác phân biệt Người với những người Pha-ri-siêu về mặt nhận thức, “Các ông không biết Tôi và Cha Tôi,” một cách diễn đạt được nhấn mạnh hơn nữa khi được lặp lại: "Nếu các ông biết Tôi, các ông sẽ biết Cha Tôi." Sau đó, tin mừng gia/người kể chuyện bước vào để đưa đơn vị đến phần kết luận (câu 20). Đồng thời, ngài hướng sự chú ý của chúng ta đến mục tiêu của cốt truyện, “giờ” Chúa Giê-su sẽ bị bắt và trở về cùng Chúa Cha khi bị đóng đinh.

Đoạn văn này cũng phản ảnh một kỹ thuật khác của Gio-an, bị hiểu lầm có chủ ý của những nhân vật chính của Chúa Giê-su về những gì Người nói. Sự hiểu lầm thể hiện rõ ở câu hỏi “Cha ông ở đâu”. Những hiểu lầm thường dẫn đến một ý nghĩa kép có thể được gán cho một từ hoặc cụm từ cụ thể được Chúa Giê-su sử dụng. Những ví dụ chính cho sự hiểu lầm như vậy là: 2:19-21, “Đền Thờ”, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su; 3:3-5, “được tái sinh/từ trên cao,” trở thành con cái Thiên Chúa; 4:10-15, “nước hằng sống”, Thánh Thần đến từ Chúa Giê-su [7:38]; 4:31-34, “thức ăn,” làm theo ý muốn của Chúa Cha; 6:32-35, “bánh từ trời,” mặc khải cứu rỗi của Chúa Giê-su; 6:51-53, “xác thịt tôi,” cái chết cứu độ của Chúa Giê-su; 7:33-36, "Tôi đi... các ông không thể,” sự tôn vinh của Chúa Giê-su; 8:21-22, “Tôi đi,” tôn vinh; 8:31-35, “giải thoát các ngươi,” do Chúa Giê-su ban cho những ai trở thành con cái Thiên Chúa; 8:51- 53, “sự chết,” sự sống đời đời; 8:56-58, “xem ngày của ta,” Chúa Giê-su mặc khải Thiên Chúa; 11:11-15, “ngủ,” cái chết và sự sống đời đời; 11:23-25, “anh em sẽ sống lại,” Chúa Giê-su là sự sống; 12:32-34, “được treo lên,” sự vinh hiển trên thập giá; 13:36-38, “Tôi đi,” sự tôn vinh; 14:4-6, “nơi tôi đi,” sự tôn vinh, Chúa Giê-su là đường đi; 14:7-9, “các ông đã thấy Người,” Chúa Giê-su mặc khải Thiên Chúa; 16:16-19, “một lát nữa,” cái chết của Chúa Giê-su và sự trở lại với các môn đệ (xem G. W. MacRae, "Theology and Irony in the Fourth Gospel," The Word in the World [Thần học và sự Nghịch lý trong Tin mừng thứ tư, Lời trong thế giới] [Feast F. L. Moriarty; biên tập. R. J. Clifford và cộng sự; Cambridge ThS, 1973] 83-96; D. A. Carson, TynBul 33 [1982] 59-91).

Cũng là một đặc điểm của người kể chuyện khi đột nhập vào câu chuyện và nói bằng chính giọng nói của mình. Ngài giải thích các tên (1:38,42) và ký hiệu (2:21; 12:33; 18:9); sửa chữa những hiểu lầm có thể xảy ra (4:2; 6:6); nhắc nhở người đọc về các sự kiện liên quan (3:24; 11:2), hoặc nhận diện lại các nhân vật (7:50; 21 : 20). Những lời xen vào của người kể chuyện khiến ngài trở thành người giải thích có thẩm quyền lời lẽ của Chúa Giê-su (2:21; 6:6,71; 7:39; 8:27; 12:33; 13:11; 18:32; 21:19, 13). Đôi khi người kể chuyện đưa ra một bình luận hồi tưởng cho thấy sự hiểu biết mà cộng đồng Gio-an đã đạt được sau cuộc phục sinh (2:22; 12:16; 13:7; 20:9).

Cốt truyện của Tin Mừng tập trung vào “giờ” tôn vinh Chúa Giê-su, việc Người trở về với Chúa Cha khi bị đóng đinh. Những câu tóm tắt nhắc nhở người đọc về sứ mệnh mà Chúa Giê-su đã được Chúa Cha sai đến để hoàn thành (1:11-12; 18:37). Ý nghĩa thừa tác vụ của Chúa Giê-su trong việc mặc khải Chúa Cha và thực hiện “ân sủng và sự thật”, những phước lành của giao ước (không phải do Mô-sê mang đến), được nêu trong 1:14,18. Lời cầu nguyện trong Gio-an 17 là lời công bố đầy hân hoan rằng sứ mệnh của Chúa Giê-su đã đạt được mục tiêu. Người đã mặc khải Chúa Cha cho cộng đoàn các môn đệ và qua họ cho những người khác. Bây giờ Người trở lại với “vinh quang” mà Người đã có với Chúa Cha (17:4,6,26).

Đồng thời, cốt truyện chuyển sang tôn vinh Chúa Giê-su, câu chuyện chuyển qua các chu kỳ chấp nhận và bác bỏ. Nửa đầu của Tin Mừng, các chương 1-12, chia thành hai phần. Mặc dù có những gợi ý báo trước về “giờ”, về đức tin không thỏa đáng và việc bác bỏ Chúa Giê-su, các chương 1-4, về cơ bản, là những lời tuyên bố tích cực về việc Chúa Giê-su đến với những ai đón nhận Người. Mặc dù Ni-cô-đê-mô không trở thành một tín hữu, nhưng ông vẫn có thái độ tích cực đối với Chúa Giê-su và thậm chí sẽ phải chịu lời buộc tội là một trong những môn đệ của Chúa Giê-su (3:1-15; 7:45-52; 19:39). Những cuộc đối thoại với Ni-cô-đê-mô và người phụ nữ Sa-ma-ri-ta-nô giới thiệu cho người đọc “ý nghĩa kép” của diễn từ Gio-an và ý tưởng cho rằng Chúa Giê-su là nơi diễn ra mọi ơn cứu độ. Tuy nhiên, các chương 5-12 kể câu chuyện về những xung đột về danh tính của Chúa Giê-su và việc bác bỏ Người ngày càng gia tăng. Câu chuyện là một trong những xung đột leo thang về việc tin/ không tin. Không giống như các câu chuyện Nhất Lãm, trong cốt truyện không có hình thức xung đột nào khác: không đánh bại ma quỷ, không đấu tranh với các thế lực thù địch của thiên nhiên, không xung đột với các môn đệ. Những quan điểm hiểu lầm nảy sinh từ phía các môn đệ được trình bày như một thành phần cần thiết của một đức tin phải mãi chưa trọn vẹn cho đến khi Chúa Giê-su hoàn thành sứ mệnh của mình và trở về cùng Chúa Cha.

Các chương 13-17 cung cấp một đoạn chuyển tiếp, mặc dù là một đoạn được đánh dấu rõ ràng bằng sự ra đi sắp xảy ra của Chúa Giê-su (13:2). Khi Giu-đa rời khỏi phòng ăn tối thì “đêm đã đến” (13:30). Chúa Giê-su quay lại nói chuyện với các môn đệ về sự ra đi của Người, nỗi đau buồn và niềm vui tương lai của họ khi Người “trở lại” để ở với họ, khi Đấng An ủi đến để hướng dẫn họ, hay khi họ cuối cùng đến để nhìn thấy vinh quang mà Chúa Giê-su đã có với Chúa Cha ngay từ đầu. Sau đó, các biến cố của cuộc khổ nạn bắt đầu diễn ra trong một loạt cảnh ngắn được dàn dựng cẩn thận cho đến khi Chúa Giê-su hấp hối tuyên bố sứ mệnh của Người đã hoàn thành (19:30). Sau đó, các truyền thống phục sinh được thêm vào Tin Mừng sẽ đưa người đọc vào sứ mệnh tương lai của các môn đệ, sứ mệnh mà họ đã được ủy thác trong các diễn từ trong bữa ăn tối. Các chủ đề ủy thác mạnh mẽ hơn trong cách sắp xếp hiện tại của Tin mừng, bao gồm các chương 15-17 và 21, so với phiên bản ban đầu được đề xuất, chỉ bao gồm Gio-an 13:31-14:31. Diễn từ đó chủ yếu hướng đến các mối quan hệ nội tại giữa các môn đệ, Chúa Giê-su, Chúa Cha và Đấng An Ủi. Những câu chuyện về sự sống lại trong Gio-an 20 cũng có thể nói là đã tạo dựng niềm tin trong cộng đồng. Tình tiết Tôma mở đường cho lời tuyên bố của người kể chuyện rằng Tin mừng sẽ dẫn chúng ta đến đức tin vào Chúa Giê-su (20:30-31). Nhưng các diễn từ trong Ga 15-17 đã thiết lập cộng đồng các môn đệ trong khuôn mẫu đấu tranh vì việc tin/không tin vào “thế gian” đã đánh dấu sứ vụ của Chúa Giê-su.

Không có việc lên đặc điểm nào trong Tin mừng thứ tư gây ra nhiều tranh cãi cho bằng việc mô tả "người Do Thái" (xem W. A. Meeks, '"Am I a Jew?' Johannine Christianity and Judaism," Christianity, Judaism and Other Greco-Roman Cults [Tôi là người Do Thái?' Ki-tô giáo Gio-an và Do Thái giáo," Kitô giáo, Do Thái giáo và Các giáo phái Hy Lạp-La Mã khác] [Feast. M. Smith; biên tập. J. Neusner; SJLA 12; Leiden, 1975] 1. 163-86; U. von Wahlde, Journal of Biblical Literature 98 [1979] 231-53;]. Ashton, Novum Testamentum 27 [1985] 40-75). Vào thời điểm Tin mừng được soạn tác, mọi khả thể trở lại đạo trong số "người Do Thái" dường như đã chấm dứt. Ngoại trừ các cách diễn đạt truyền thống như "vua của người Do Thái" hoặc các việc nhắc qua loa tới các ngày lễ hoặc phong tục của người Do Thái (2:6, 13; 7:2), những chung chung nhắc tới "Người Do Thái" dường như là công trình của tin mừng gia. Cả người kể chuyện lẫn Chúa Giê-su đều nói về “người Do Thái” như những người ngoài cuộc. “Người Do Thái” gây ra nỗi sợ hãi trong dân chúng (9:22); họ được phân biệt rõ ràng với các môn đệ (13:33), và họ tuân theo “luật của họ” (7:19; 8:17; 15:25; x. 10:34).

Khi cụm từ "người Do Thái" không liên quan gì đến sắc tộc (người Do Thái trái ngược với người Sa-ma-ri-a, 4:22), sự dị biệt hóa về tôn giáo hoặc về địa lý (cư dân ở Giu-đê thay vì Ga-li-lê, một số người trong số họ tin vào Chúa Giê-su, 1:19,31,33,36; 12:9,11), nó tượng trưng cho sự vô tín. Một số thay đổi giữa cách sử dụng cụm từ "người Do Thái" có vẻ trung lập và "người Do Thái" như các kẻ thù của Chúa Giê-su có thể được quyết định bởi việc nhấn mạnh của trình thuật vào cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng của việc không tin. Việc Gio-an sử dụng chung chung cụm từ "người Do Thái" như những nhân vật chính trong câu chuyện đã xóa bỏ phần lớn sự đa dạng của người Do Thái trong truyền thống Nhất lãm. Những lời giải thích về sự không tin không dựa trên những điểm đặc thù của Do Thái giáo mà dựa trên những đối lập cơ bản của thế giới biểu tượng do Tin mừng tạo ra. Họ chưa “nghe và thấy Cha” (5:37); không muốn “đến với Chúa Giê-su để được sự sống” (5:40); có “tình yêu Thiên Chúa nơi chính họ” (5:42); tiếp nhận Chúa Giê-su (5:43), hoặc tìm kiếm vinh quang của Thiên Chúa (5:44). Cuối cùng, họ “từ bên dưới”, trong khi Chúa Giê-su “từ trên cao” (8:23). Không phải tất cả những người Do Thái trong câu chuyện đều thuộc loại tiêu cực này, vì một số người vẫn tin. Hơn nữa, những gợi ý rằng niềm tin phải được Chúa Cha “ban cho” (6:37,39,44,65; 10:3) giảm nhẹ phần nào sự khắc nghiệt trong việc mô tả việc không tin. Vì tin mừng gia đã định hình rõ ràng đặc điểm của “người Do Thái” trong cốt truyện của câu chuyện về việc tin và không tin của ngài, nên từ tuyên bố của ngài, người ta không thể rút ra được sự đảm bảo có tính qui điển cho chủ trương bài Do Thái trong các Ki-tô hữu ngày nay.

(VI) Kitô học trong Tin Mừng thứ tư.

Việc nghiên cứu Kitô học của Tin mừng Gio-an là trọng tâm của chính Tin Mừng. Gio-an 20:31 cho thấy niềm tin vào Chúa Giê-su như “Con Thiên Chúa” là nguồn sự sống vĩnh cửu. Mối liên kết tương tự cũng được đưa ra trong lời tiên đoán đầu tiên về việc Chúa Giê-su “được nâng lên” như “Con Người” trong Gio-an 3:15. Lời kêu gọi “tin”, vốn vang vọng xuyên suốt Tin mừng Thứ Tư, một cách đặc trưng lấy Chúa Giê-su làm đối tượng (ví dụ:, với “tôi,” 6:35; 7:38; 11:25,26; 12:44; 14:1,12; 16:9; với “Người”, 2:11; 4:39; 6:40; 7:5,31,39,48; 8h30; 10:42; 11:45,48; 12:37, 42; với “Chúa Giê-su,” 12:11; với “danh Người”, 1:12; 2:23; “Đấng Người sai đến,” 6:29; “ánh sáng,” 12:36; "Chúa Con", 3:15, 16,18,36; "Con Người," 9:35). Tin Mừng nói rõ rằng đức tin này là điều kiện để được cứu rỗi. Nó giả định rằng “tin vào” Chúa Giê-su hàm ý nhận thức được mối quan hệ đặc biệt giữa Chúa Giê-su và Chúa Cha, vốn là tập chú của các diễn từ trong Tin Mừng (xin xem Thần học Gio-an, 83:24-37).

Gio-an 1:19-50 tập hợp một số danh hiệu truyền thống về Đấng Mê-xi-a đã hình thành nền tảng cho những khẳng định về Kitô học trong các cộng đồng Ki-tô giáo đầu tiên, Đấng Mê-xi-a, Ê-li-a, nhà tiên tri, Chiên Con của Thiên Chúa, Con Thiên Chúa, vua Israel. Những lời khẳng định về đấng Mê-xi-a như vậy sau đó được tương đối hóa bởi lời hứa về “những điều lớn lao hơn” trong một lời nói hứa hẹn được thị kiến Con Người mà trên Người, các thiên thần của Thiên Chúa lên xuống (1:51). Câu nói này biến hình ảnh khải huyền về Con Người và các thiên thần từ trên trời cũng như câu chuyện về thị kiến của Gia-cóp tại Bết-ên thành một biểu thức qua đó Chúa Giê-su vừa “ứng nghiệm” vừa vượt qua mọi kỳ vọng có thể liên quan đến những hy vọng về đấng cứu thế truyền thống như vậy. Việc tái giải thích của Gio-an bị chi phối bởi tầm nhìn rộng lớn hơn của ngài về Chúa Giê-su như Logos/“ Chúa Con” được gửi đến như sự mặc khải cứu rỗi của Chúa Cha (xem F.J. Moloney, The Johannine Son of Man [Con người trong Tin mừng Gio-an] [Biblioteca di Scienze Religiose 14; 2d ed.; Roma, 1978]).

Khuôn mẫu biến đổi này hiển nhiên trong các cuộc tranh luận trong đó các kỳ vọng về Chúa Giê-su như Đấng Mê-xi-a hay tiên tri kiểu Mô-sê đang được thảo luận. Một cuộc thảo luận kiểu Mi-đrát [trình bầy, giải thích] về khẳng định lúc ban đầu lên đến tuyệt đỉnh trong câu nói về Con Người (ví dụ: 3:13-14; 6:35,38,53,62;8:28; 9:35-41). Quá trình tương tự có thể được tìm thấy trong bộ sưu tập các câu nói có tính mặc khải “Tôi Là”. Chúng tạo thành một phương tiện qua đó Chúa Giê-su chiếm đoạt những biểu tượng tôn giáo lớn lao, nhưng theo nghĩa tuyệt đối là “danh Thiên Chúa”, chúng cho thấy rằng Chúa Giê-su là Đấng mặc khải Thiên Chúa trái ngược với những tuyên bố cạnh tranh là “biết Thiên Chúa” (8:24,28,51). Mối liên kết giữa “Ta Là” thần thiêng và sự tôn vinh Chúa Giê-su trên thập giá (8:24,28) được giả định trước trong việc sử dụng “Ta Là” như một niềm an ủi trong Gio-an 13:19.

Kitô học của tin mừng Gio-an dường như không chỉ là sự mở rộng đơn giản những khả thể vốn có ở các nguồn Do Thái hoặc Kitô giáo tiên khởi. Người ta không thể tránh được sự mới lạ trong việc tác giả Tin Mừng sử dụng những phạm trù mà trước đây chỉ được coi là phù hợp với thực tại siêu việt của Thiên Chúa trong mối liên hệ với câu chuyện mô tả sự nghiệp trần thế của một con người. Kitô học của tin mừng Gio-an đặt ra vấn đề định nghĩa lại thuyết độc thần (xem Dunn, “Let John Be John” [hãy để Gio-an là Gio-an] 309-39).

Với việc đưa Kitô học Ngôi lời vào lời mở đầu của Tin Mừng, Thánh Gio-an giới thiệu cho người đọc một hình ảnh về tiền hiện hữu, hàm ý bản thể ngôi vị của Chúa Giê-su với Thiên Chúa. Gio-an 1:18 tạo nên mối liên kết giữa các nền Kitô học Logos và Chúa Con. Các lần nhắc tới việc Chúa Giê-su trở về với vinh quang mà Người đã có với Chúa Cha (17:4,24) bảo đảm mối liên hệ giữa Ngôi Lời tiền hữu và Chúa Giê-su của trình thuật. Tin Mừng thứ tư bác bỏ những giải pháp “đơn giản” cho vấn đề căn tính của Chúa Giê-su. Nó không giới hạn lời khẳng định của nó về Chúa Giê-su trong những thuộc tính như vị tiên tri cánh chung, vốn có thể được hiểu bởi bất cứ con người nào, mặc dù là một thuộc tính mà vai trò của nó trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa có một vị trí tối hậu hoặc cuối cùng nào đó. Tin mừng cũng không giải quyết được vấn đề như những người Ngộ đạo sau này làm bằng cách đơn giản biến Chúa Giê-su thành bộ trang phục trần thế cho một nhân vật cứu chuộc trên trời, người, về cơ bản, không có bất cứ mối liên hệ nào với thực tại lịch sử hoặc con người của thế giới này. Bằng cách bác bỏ cả hai phản đề, Tin Mừng Thứ Tư đặt ra các giới hạn cho một Kitô học nhập thể. Nó cũng có thể đã dùng hết các khả thể để phát biểu một Kitô học như vậy, vì việc kể chuyện phụ thuộc vào khả năng của chúng ta trong việc kết nối các sự kiện và con người theo các khuôn mẫu lấy từ kinh nghiệm của con người. Nhưng Chúa Giê-su của Tin mừng Gio-an không đến để làm sáng tỏ kinh nghiệm của con người. Người đến để mặc khải Chúa Cha (xem J. D. G. Dunn, Christology in the Making [Ki-tô học đang hình thành] [Phi, 1980] 213-68).

(VII) Bản văn Tin Mừng thứ tư.

Các Bộ Tân Ước chính thuộc thế kỷ thứ 4 và thứ 5, Vaticanus, Bezae, và Sinaiticus, một bộ gần với bộ Vaticanus hơn trong Gio-an 1-7 và những nơi khác gần với Bộ Bezae hơn, đã được bổ sung bởi một số bản giấy cói bằng tiếng Hy Lạp từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 7 vốn chứa những phần quan trọng của Tin Mừng. Các chứng tá bằng giấy cói quan trọng nhất là P⁵² (khoảng năm 130 CN; chứa 18:31-33,37-38); P⁶⁶ (bắt đầu từ thế kỷ thứ 3 CN; chứa các chương 1- 14 khá đầy đủ; các phần cuối của chương 21); và P⁷⁵ (khoảng năm 200CN; chứa các chương 1-12 gần như hoàn chỉnh; các phần của chương 13 và 14: 9-30; 15:7-8). P⁷⁵ gần với Bộ Vaticanus nhất, trong khi P⁶⁶ gần với Bộ Sinaiticus hơn một chút. Sự đồng thuận giữa hai bản giấy cói này có thể tạo thành một lập luận mạnh mẽ cho một cách đọc, nhưng sự khác biệt của chúng cho thấy rằng các hình thức khác nhau của bản văn Gio-an đã được lưu hành. Chính P⁶⁶ có thể là kết quả của một nỗ lực của người ghi chép nhằm tạo ra một phiên bản cho bản văn từ kiểu văn bản Ai Cập và một dạng văn bản phương Tây. (xin xem Các Bản Văn, 68: 179).

Tính cổ xưa của mảnh Gio-an trong P⁵² đã có tác động quan trọng đến việc xác định niên biểu cho Tin Mừng. Trước khi được phát hiện, Kitô học phức tạp của Gio-an và việc thiếu các trích dẫn rõ ràng về Tin mừng vào đầu thế kỷ thứ 2. Các Giáo phụ khiến một số người tranh luận rằng Tin Mừng thực sự được soạn tác trong thế kỷ thứ 2. Giờ đây, bằng chứng giấy cói gợi ý việc lưu hành các bản văn biến thể của Tin mừng ở Ai Cập từ quý đầu tiên của thế kỷ thứ 2 trở đi, những lý thuyết như vậy phải bị bác bỏ như là không hợp lý. Nếu người ta giả định thêm rằng tin mừng Gio-an được soạn tác ở Tiểu Á, chứ không phải ở Ai Cập, và trong một cộng đồng tương đối khép kín, thì người ta cũng phải dành thời gian để nó được lưu hành rộng rãi ở Ai Cập. Vì vậy, ngày hợp lý muộn nhất để biên soạn Tin mừng sẽ là khoảng năm 100 CN. Nhưng nếu việc trục xuất khỏi hội đường được nhắc đến trong Tin Mừng có liên quan đến việc ban hành phép lành chống lại những kẻ lạc giáo vào khoảng năm 90 CN, thì thời kỳ Tin mừng được viết ra rất có thể rơi vào thập niên 90.

Một số đoạn văn sau này được đưa vào bản văn Tin Mừng không được các chứng tá xưa hơn ủng hộ. Đáng chú ý nhất là câu chuyện về người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình (7:53-8:11). Về mặt văn học, câu chuyện này theo phong cách Nhất Lãm hơn là Tin Mừng Thứ Tư. Ở đây nó sẽ được coi là một ngoại ngôn (agraphon) "trôi tự do", tình cờ được sao chép vào bản chép tay tin mừng Gio-an. Bản chép tay xưa nhất cũng không ủng hộ sự hiện diện của 5:4, tức lời giải thích về thiên thần khuấy động nước trong giếng, hiện đã bị loại bỏ khỏi các ấn bản Hy Lạp của bản văn và chỉ xuất hiện dưới dạng chú thích cuối trang trong một số bản dịch.

(VIII) Đích đến và mục đích của Tin mừng Thứ tư.

Việc xử lý đích đến và mục đích của Tin mừng Thứ tư phụ thuộc vào quyết định của mỗi người về nguồn gốc và thành phần của tin mừng Gio-an cũng như về lịch sử của cộng đồng Gio-an. Mặc dù “nguồn phép lạ” được sử dụng trong Tin Mừng có thể được hình thành nhằm mục đích làm người khác chuyển sang niềm tin vào Chúa Giê-su như Con Thiên Chúa, nhưng việc sử dụng nó hiện nay như một phần của sự trình bày phức tạp về danh tính của Chúa Giê-su như Con Thiên Chúa xung đột với các phản bác của người Do Thái dường như khó có thể phù hợp với một tài liệu truyền giáo. Việc xây dựng lập luận với “người Do Thái” trong các diễn từ dường như cũng không nhằm mục đích thu phục những người Do Thái tin vào Chúa Giê-su. Nếu có, việc tăng cường các chủ trương về danh tính của Chúa Giê-su trong các diễn từ dường như được thiết kế để xác nhận những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của những người được cho là những kẻ được trình bầy như các kẻ chống đối Chúa Giê-su. Động lực văn học của Tin Mừng, cả trong việc sử dụng một ngôn ngữ đặc biệt có ý nghĩa kép và biểu tượng lẫn trong phần bên lề của người kể chuyện, gợi ý một tác phẩm có xu hướng lưu hành trong cộng đồng Kitô hữu của Thánh Gio-an. Các diễn từ chia tay nói rõ ràng đến những cảm nghiệm nội tâm của cộng đồng Thánh Gio-an. Các vấn đề về sự trở lại của Chúa Giê-su, sự hướng dẫn cộng đồng của Đấng An Ủi, sứ mệnh của cộng đồng “trong thế giới” nơi mà nó không còn thuộc về nữa, và vấn đề tiếp tục bách hại, tất cả đều vượt xa những khó khăn do sự thù địch của người Do Thái đặt ra và việc bị trục xuất khỏi hội đường.

Chúng ta cũng có thể có được một số quan điểm về khán giả mà Tin Mừng hướng đến từ việc phân tích người đọc được ngụ ý trong chính Tin Mừng. Trình thuật giả định điều gì được người đọc đó biết? Người ta cho rằng độc giả biết “chúng tôi” là ai, cái “chúng tôi” mà chúng ta liên kết với trường phái Gio-an (1:14,16; 21:24). Họ dường như đã quen thuộc với bài thánh ca Ngôi Lời được sử dụng trong phần mở đầu. Có thể bạn đọc cũng đã quen thuộc với Gio-an Tẩy giả. Có lẽ sự quan tâm mà với nó, người kể chuyện đặt vị trí của Gio-an Tẩy Giả làm nhân chứng cho Chúa Giê-su cho thấy rằng theo ông, khán giả có thể đánh giá quá cao về vị này. Người đọc cũng biết rằng Gio-an Tẩy Giả đã bị cầm tù (3:24). Có lẽ tác giả Tin mừng cũng muốn sửa lại ấn tượng cho rằng biến cố này đã xảy ra trước khi Chúa Giê-su bắt đầu thừa tác vụ của Người.

Kiến thức của khán giả về đạo Do Thái được cho là đa dạng. Các đoạn trong Kinh thánh, đặc biệt những câu trích dẫn tiên tri đều quen thuộc, cũng như một số biểu tượng trong Kinh thánh, các anh hùng chính của thời kỳ tổ phụ và Mô-sê. Tuy nhiên, cách xác định các ngày lễ của người Do Thái cho thấy rằng cả tác giả và độc giả đều không tuân theo những ngày lễ như vậy. Người đọc phải có một số kiến thức tối thiểu về Lễ Vượt Qua, tầm quan trọng của ngày sa-bát, các thể chế như chức tư tế thượng phẩm và thượng hội đồng [sanhedrin], mặc dù các nghi thức thanh tẩy và phong tục mai táng không nhất thiết phải quen thuộc. Mặc dù người đọc không biết ý nghĩa của “Đấng Mê-xi-a”, những danh hiệu Kitô học khác như “Con Người” vẫn không được giải thích.

Tin Mừng thứ tư dường như cho rằng phần lớn câu chuyện về Chúa Giê-su, con người và địa điểm của câu chuyện, đã quen thuộc với độc giả. Họ dường như cũng quen thuộc với những niềm tin Kitô giáo như những niềm tin được thể hiện trong các danh hiệu Kitô học, lễ rửa tội, Bữa Tiệc Thánh và Thánh Thần. Do đó, độc giả của tin mừng Gio-an phải được coi là một Ki-tô hữu. Cho dù độc giả Ki-tô giáo đó có chia sẻ tất cả các sắc thái của thần học Gio-an hay có thể là một người có đức tin theo một cách nào đó đã được Tin mừng “xây dựng” hoặc “sửa chữa” thì lại càng khó nói hơn. Có ý kiến cho rằng, dựa trên quan điểm Kitô học mạnh mẽ được ủng hộ trong Tin mừng, người đọc có thể đã không chia sẻ quan điểm đó. Có lẽ độc giả của Tin mừng được hình dung rơi vào một hoặc nhiều sự hiểu lầm mà các nhân vật trong câu chuyện thể hiện (xem Culpepper, Anatomy 206-27).

Nguồn: Pheme Perkins, The New Jerome Biblical Commentary, Student Edition, các tr.942-950