VATICAN – Sự từ nhiệm của vị Tổng giám mục Ba Lan Wielgus làm cho tình hình Ba lan càng căng thẳng hơn giữa việc “lên án” và “tha thứ” trong Giáo hội; diễn biến này nóng độ thêm lên và có ý nghĩa mới sau thời Cộng sản tại Đông Âu.

Trong một ý nghĩa nào đó, sự căng thẳng này cũng tìm thấy trong chính giáo huấn của Đức Giêsu Kitô, chính Người đã dậy về sự “tha thứ”, nhưng mặt khác cũng nói với các môn đệ của Ngài là hãy “phán xét một cách chính trực” những lỗi lầm của kẻ khác và của xã hội.

Nhân dịp Năm Thánh 2000, vấn nạn trên đi vào một khúc quanh đặc biệt: khi Giáo Hội bắt đầu “cuộc tự vấn lương tâm” và “xin tha thứ” cho những lỗi lầm lịch sử quá khứ, thì các vị hồng y mạnh mẽ bàn luận là liệu có thích hợp để phán đoán về những hành động quá khứ, tỉ dụ các hành động của thời “Tra Tìm Inquisition” hoặc là “Thập Tự Chinh Crusades” dựa trên các tiêu chuẩn của thời đại mới hay không?

Tại Ba Lan ngày nay, thì hình như đồ biểu thời gian đã bị rút ngắn lại. Những tố cáo liên quan đến hành động giáo gian và mật vụ hiện còn liên quan tới những “con người còn đang sống” bằng xương bằng thịt, và những ký ức và kỉ niệm về biến cố quá khứ hãy còn sống sộng trong lòng, thêm vào đó các tài liệu vô số còn được tồn lại trong Viện Ký Ức Quốc Gia của Ba Lan (National Remembrance Institute).

Tại hầu hết các quốc gia Đông Âu, Giáo hội trong vài thập niên qua đã lặng lẽ phải chiến đấu với sự kiện sau đây là: liệu việc xem xét lại những hồ sơ cũ của hàng giáo sĩ và công khai hóa sự kiện như vậy có làm tổn thương tới Giáo hội trước con mắt của người tín hữu hay không?

Thế nhưng đùng một cái, vụ TGM Stanislaw Wielgus bùng nổ và phải từ chức thì giờ đây Giáo Hội không có con đường lựa chọn nào khác hơn là phải công khai hóa hoàn toàn về qúa khứ cộng tác của hàng giáo sĩ với mật vụ trong các quốc gia cộng sản!

Đức Giám Mục Tadeusz Pieronek, trước đây là Tổng thư ký của Hội Đồng Giám Mục Ba Lan, tuyên bố: "Chúng ta cần đối diện với vấn đề -- càng sớm càng tốt và với sự dấn thân tuyệt đối -- là hãy chiếu dọi và giải thoát nẻo đường riêng của mỗi người chúng ta khỏi những quả mìn đã được chôn đặt vào đó trước đây”.

Ngài đề nghị là nên có chừng trên 100 chuyên viên làm việc với nhau để tái thẩm định những tài liệu trong thời cộng sản và hãy xuất bản công khai bất kỳ những gì được coi là quan trọng liên quan tới Giáo hội, giáo sĩ và chế độ Cộng sản.

Dĩ nhiên có nguy cơ là việc minh bạch hóa tất cả những tài liệu kín này, những tài liệu mà chính các viên chức mật vụ hoặc công an cộng sản viết ra sẽ có thể làm thiệt hại tới các vị lãnh đạo Giáo hội hay là tạo ra sự nghi kỵ và nghi ngờ, cũng có thề làm cho những người tốt bị vùi dập xuống và bị hủy hoại... VÀ thực tế ra để phân biệt giữa những gì là sự thật và giả dối hay tuyên truyền, giữa thực tế và tưởng tượng của người viết báo cáo là chính các mật vụ cộng sản, thì ngay cho là người chuyên môn cũng khó phân biệt được trắng đen!.

Hơn thế danh từ “cộng tác” cũng mang một ý nghĩa hàm hồ và có thể hiểu theo nhiều ý nghĩa và nội dung khác nhau cho nhiều người và nhiều sự việc. TGM Wielgus đã ký bản cam kết làm nội gián báo cáo cho mật vụ để rối có thể đi ngoại quốc du học, thế nhưng Đức TGM Wielgus cho rằng Ngài chưa bao giờ làm hại bất kỳ ai về những thông tin của ngài.

Thực tế ra, cũng có một số người biện luận rằng có những trường hợp phải có những “cuộc tiếp xúc hình thức” (pro forma contacts) với công an coi như là hy sinh cá nhân để rồi có thể duy trì cho Giáo Hội có được sự tụ do tối thiểu hầu hoạt động dưới chế độ kiểm soát gắt gao của cộng sản.

Đấy cũng là trường hợp xẩy ra tại nước Hungary vào năm vừa qua, khi Đức Hồng Y hồi hưu Laszlo Paskai bị tố cáo là làm tình báo ngầm cho mật vụ Cộng sản từ năm 1965 tới 1974, ĐHY Paskai chỉ tuyên bố vỏn vẹn có một điều là: bất cư` điều gì ngài đã làm trong quá khứ đều là tốt cho Giáo hội và “nói với quyền hành của quốc gia” là một điều dữ cần thiết!.

Nhân sự kiện này cũng có người nêu vấn nạn: Trong trường hợp Đức Cố Giáo Hoàng John Paul II thì Ngài đã xử sự ra sao trong vấn đề khúc mắc này. Câu trả lời được các viên chức sống gần kề với Ngài và biết rõ về Ngài cho biết Đức Cố Giáo Hoàng có rất ít những tiếp xúc với chế độ Cộng sản, biết rõ rằng các vụ liên hệ như vậy sẽ làm thiệt hại cho sứ mạng mục vụ của Ngài.

Trong một bài viết mới đây đăng trên nhật báo La Repubblica của Ý, tiến sĩ Joaquin Navarro-Valls là phát ngôn viên cũ của Đức John Paul II nói rằng: khi còn là TGM của thành Krakow, Đức TGM Karol Wojtyla rất chín chắn và không bao giờ xin một ân huệ nào với chính quyền cộng sản sợ rồi mai đây họ sẽ dùng đó để hù dọa Ngài.

Thế nhưng tiến sĩ Navarro-Valls cũng viết rằng: Đức cố Giáo Hoàng tỏ ra thông cảm và hiều biết nên sẵn sàng tha thứ cho những linh mục hay giám mục đã có thời bị bắt buộc cộng tác với chính quyền cộng sản hầu có thể thi hành nghĩa vụ của mình, vì biết rằng tất cả đều đã phải ‘sống trong nỗi căng thẳng triền miên giữa cách thế anh hùng và cách nhượng bộ

Tiến sĩ Navarro-Valls viết thêm rằng ngay cả Đức cố TGM Wojtyla cũng không tránh được tất cả những cuộc tiếp xúc với chế độ cộng sản!

Tiến sĩ Navarro-Valls nói có lần Đức Cố Giáo Hoàng nói với ông rằng đôi khi Ngài cũng bị công an triệu tập đến để hạch hỏi, họ hỏi ngài về quan điểm chính trị, xã hội và các vấn đề khác nữa. Đức cố Giáo Hoàng đã trả lời những câu hỏi trên thật dài, giãi thích cho công an quan niệm cá nhân của ngài về con người, trích dẫn những triết gia cổ thời và đương đại, cảnh báo cho công an về những mối nguy cơ của chủ nghĩa vị kỷ lấy mình là trọng tâm trong tuy dư tân tiến và bàn về sự khác biệt giữa đạo lý luân lý và các giá trị khác của cuộc sống.

Sau những buỗi nói truyện độc thoại dài như vậy, công an chẳng hiểu gì và họ đã phải vẫy tay chào thua tiển ngài ra cửa! Ông Navarro-Valls còn cho biết thêm rằng Đức Giáo Hoàng cho ông biết là sau này Ngài khám phá ra trong hồ sơ của công an mật vụ có phê vào hồ sở của Ngài rằng “ông ta không phải là người nguy hiểm” và hy vọng là trong tương lai một ngày nào đó ông ta sẽ được xác tín để cộng tác!

Năm vừa qua khi Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI thăm Ba Lan, có điều không còn nghi hoặc gì nữa là Ngaì đã biết rằng rồi đây hồ sơ mật sẽ được công an mật vụ Cộng sản Ba lan nêu thành những vấn nạn hóc búa cho Giáo hội. Đức Benedictô đã đương đầu với vấn nạn này khi ngài nóit ruyện với hàng giáo sĩ Ba lan tại nhà thờ chính tòa Warsaw (chính tại nhà thờ này mà ĐHY Wielgus đã tuyên bố từ chức hôm 7.1.2007). ĐGH Benedictô khi đó nói rõ rằng: điều quan trọng cho Giáo hội là cần phải thú tội của mình một cách công khai cởi mở.

Ngài nói tiếp: "Thế nhưng chúng ta cũng phải đề phòng chống lại chủ trương độc đoán tự đặt chúng ta là quan tòa cho các thế hệ đi trước, những người đã sống ở những thời điểm khác và trong những hoàn cảnh rất khác biệt”.

ngài nhấn mạnh rằng: "Cần thiết phải có sự thành tâm khi6m hạ để rồi không từ chối những tội lỗi quá khứm, và đồng thời dễ bị lôi cuốn vào những việc tố cáo dễ dàng thiếu bằng chứng hiển hiên thực sư và không quan tâm gì đến những quan niệm tiên kiến của thời đó”.

Đức Benedictô khi đó nêu ra rằng Giáo hội xin sự tha thứ về những sai trái trong qua khứ, nhưng Giáo hội cũng phải nhớ ca tụng những việc thiện mà đã đạt được”.

Trong chiều hướng đó, chúng ta nên nhớ rằng phần đông các linh mục và các giám mục Ba lan đã không cộng tác với chế độ Cộng sản, tuy dù hầu như tất cả đều được công an mật vụ chiêu nạp và dụ dỗ. Viện Ký Ức Quốc Gia Ba Lan (National Remembrance Institute) ước đoán rằng có tới khoảng 10% các giáo sĩ đã trở thành những người đưa tin cho công an mật vụ dưới chế độ Cộng sản Ba Lan kéo dài từ năm 1947 tới 1989.

Tháng 8 năm 2006 khi các Giám Mục Ba Lan đưa ra một tài liệu dài liên quan tới các linh mục đã từng cộng tác với chế độ Cộng sản trước đây với những chĩ dẫn và định lại các hình thức mức độ “cộng tác” khác nhau của các linh mục, thì quả nhiên là đã sơ sót không xét kĩ về trường hợp của TGM Wielgus.

Tài liệu nêu trên nói rõ là các linh mục đã cộng tác với công an mật vụ cộng sản phải nhận thực tình trạng của mình cách công khai và phải gặp bề trên của mình để tìm ra cách thế “sửa chữa và giải quyết gương mù công khai này”. Trong một số trường hợp đã xầy ra, cách thức tốt nhất là từ chức khỏi phận sự giáo hội đã trao phó.

Tài liệu cũng nhận định rằng tiến trình nêu trên phải hướng tới tinh thần tha thứ hơn là báo thù.

Có lẽ cũng còn cần phải mất một thời gian dài nữa thì các vấn đề nêu trên đối với các Giáo Hội ở Đông Âu đã từng sống dưới chế độ Cộng Sản mới có thể thanh lọc và tìm lại được chính hướng đi cần phải có của mình được.