Sức sống của Giáo Hội tại Việt Nam

BÀ RỊA - Vào sáng ngày mai thứ Hai 5/12/2005, ĐHY Crescenzio Sepe sẽ ra Bà Rịa để khai trương một giáo phận mới cho Việt Nam với tên là giáo phận Bà Rịa Vũng Tầu. Giáo phận mới được tách ra từ Xuân Lộc, và thuộc giáo tỉnh Saigòn.

Giáo phận mới bao gồm số dân cư chừng 900,000 người, trong đó có 224.000 người là Công giáo.

Giáo phận mới có 78 giáo xứ, 91 linh mục (gồm cả linh mục dòng lẫn triều), có 61 đại chủng sinh và 598 nam nữ tu sĩ.

Đức cha Tôma Nguyễn văn Trâm
Đức Cha Tôma Nguyễn văn Trâm, trước đây là giám mục phụ tá của Xuân Lộc được đặt làm giám mục tiên khởi giáo phận Bà Rịa - Vũng Tầu. Giáo xứ Thánh Tông Đồ Giacôbê và Philipê ở Bà Rịa được chỉ định làm nhà thờ chánh tòa của giáo phận mới.

Nói về việc thành lập giáo phận mới, ĐHY Sepe đã nhận định như sau “việc này có ý nghĩa rất là quan trọng, nếu như chúng ta biết từ 30 năm qua tại Việt Nam chưa có giáo phận mới nào được thiết lập cả”.

Ngài nói thêm rằng: “Về phương diện mặt nổi, chúng ta luôn thấy rằng, khi Giáo Hội thành lập một giáo phận mới luôn là một dấu chỉ về cộng đồng Kitô hữu sống động, một cộng đồng đang lớn mạnh và vì thế cần một chủ chăn tại địa phương, nhất là xét về khía cạnh giáo phận mẹ (Xuân lộc) có một diện tích đất đai lớn lao và vì thế việc truyền thông gặp khó khăn. Do đó có một vị giám mục mới tại chỗ chắc chắn sẽ nuôi dưỡng đời sống đạo của các tín hữu, như Giáo Hội vần thường làm tại các xứ truyền giáo như ở Á châu, Phi châu và Nam Mỹ... Nhưng trong trường hợp này, lại có một ý nghĩa đặc biệt, bởi vì có thể đoán trước được trong tương lai lại còn khả năng chia thêm các giáo phận khác mà cần đến sự hiện diện của giám mục trong các vùng như vậy”.

ĐHY Sepe cũng xác nhận rằng: “hiện đang có những bước cải tiến trong quan hệ giữa Giáo Hội và nhà nước Việt Nam. Đó là dấu hiệu rất tích cực và đó cũng là sự diễn đạt cho thấy chính quyền nhận ra thực tại là Cộng đồng Kitô hữu tại Việt nam đang phát triền thêm, một cộng đồng sống động, một cộng đồng luôn luôn dấn thân và hoạt động cho những sinh hoạt tôn giáo và xã hội của Việt Nam”.

Trước khi lên đường sang Việt Nam lần này, để trả lời cho một cuộc phỏng vấn, ĐHY Sepe còn nhấn mạnh rằng: “Giáo Hội tại Việt Nam là một giáo hội rất tích cực, rất năng động. Người ta có thể nhìn vào những số thống kê về ơn gọi linh mục, các chủng viện luôn đầy tràn các chủng sinh, do đó luôn còn cần thêm các cơ sở và nơi chốn để có thể tiếp nhận thêm só người theo nhu cầu; thêm vào đó lối sống đạo của người Công giáo Việt Nam có một sự tham gia vào các phép bí tích và tham dự thánh lễ rất là cao mà không thể tìm thấy tại Âu châu; đang khi đó đời sống dòng tu rất là sống động và có hoạt lực với biết bao nhiêu tu hội và nhà dòng mới được lập lên; còn có một khía cạnh khác rất là đẹp nữa, đó là chiều hướng truyền giáo của người tín hữu Việt Nam, cho đến ngày hôm nay đã có những giải pháp gửi các linh mục, tu sĩ và giáo dân truyền giáo sang các quốc gia lân cận như là sang Căm Bốt, Lào, Myanmar (Miến Điện), v.v..”.

Trước khi khởi hành chuyến thăm viếng tới Việt Nam, ĐHY Sepe đã tâm sự rằng: “Mục đích các chuyến đi luôn giống nhau, mỗi một lần tôi thăm một Giáo Hội nào trong các xứ truyền giáo, thì mục đích luôn là: chính yếu là mục vụ, bởi do đó có thể tiếp xúc với thực tại của Giáo hội đó, làm cho họ cảm thấy được sự hiện diện của Đức Thánh Cha và của Giáo hội hoàn vũ, và với mục đích cổ võ cho sự tăng trưởng và sống đức tin Kitô hữu với lòng hăng say, ngay cả việc sống đức tin một cách sâu xa hơn. Do đó, mục vụ là trong ý nghĩa tôi có thể gặp các vị giám mục, các linh mục, nam nữ tu sĩ, số đông giáo dân, và nhất là các bạn trẻ và các gia đình. Nói một cách nào đó, thì Đức Thánh Cha và Giáo Hội hiện diện với họ, nâng đỡ họ để họ hoan hỉ sống lý tưởng Kitô hữu với niềm vui, với lòng nhiệt tâm và với sự sốt sắng”.

Các nhà ngoại giao và các nhà quan sát quốc tế khi có dịp thăm viếng và tiếp cận với Giáo Hội tại Việt Nam đều nhận định rằng Giáo Hội Việt Nam đầy sinh lực, sống động, và luôn kiên cường dù đã phải trải qua bao gian lao thử thách dưới chế độ vô thần Cộng sản từ 50 năm qua (ở Bắc Việt) và 30 năm (tại Miền Nam). Đường lối của Giáo Hội vẫn luôn là kiên cường sống đức tin và có gắng phát triển tiềm năng của mình và từ từ giải phóng ra khỏi những ràng buộc còn đang trói buộc các sinh hoạt tôn giáo, xã hội, y tế, và giáo dục của Giáo Hội, làm cho Giáo Hội chưa thực thi hết tiềm năng của mình.

Theo nhận định của Hội Thừa Sai Paris thì: “Đừng có quên về tầm quan trọng của người Công giáo Việt Nam vì Giáo Hội Việt Nam có số đông linh mục, nam nữ tu sĩ, mà hiện nay họ hiện diện ở khắp nơi và họ là những người hoạt động tích cực nhất, có thể nói là khắp nơì trên thế giới bao gồm ngay cả ở Pháp quốc”.

Hội Thừa Sai Paris cũng đưa ra con số thống kê về các tôn giáo của 82 triệu dân số tại Việt Nam như sau:

  • Phật giáo: 60% dân số (nhưng theo Chính quyền CSVN cho rằng chỉ có 10%);
  • Công giáo: 8% tức chừng 6.5 triệu người;
  • Cao Đài: 7% tức 5.7 triệu người (CSVN nói có 1.2 triệu người);
  • Hòa Hảo: 2.3 % tức 2 triệu người (CSVN nói chừng 1.2 triệu người);
  • Tin Lành: 1% tức 800,000 người;
  • Hồi giáo: gần 100,000 người;
  • Đạo Lão và Đạo Khổng: không có số thống kê chính thức;
  • Vô thần: 18% tức 15 triệu người.