Nhật ký Tĩnh tâm Linh Mục Tổng Giáo Phận Huế
***
Ngày thứ nhất (02/3/2009)
Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô, lúc 08 giờ, hướng dẫn linh mục đoàn Huế tĩnh tâm với đề tài: “Đời sống thiêng liêng, công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi.”
1.- Chương trình của Chúa Cha
Đời sống thiêng liêng của chúng ta là một công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Phaolô nói với chúng ta như thế qua đoạn văn Gl 4,4-7:
- “4 Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, 5 để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. 6 Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng chúng ta mà kêu lên: "Abba, Cha ơi!" 7 Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”.
Giờ đây chúng ta tìm hiểu từng điểm:
“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật” (c. 4).
Đây là một khúc quanh quyết liệt trong chương trình của Thiên Chúa: có một thời đại đang khép lại và một thời đại mới đang mở ra.
Đặc điểm của thời đại cũ được diễn tả bằng tình trạng nô lệ với các từ ngữ: thiếu niên – nô lệ – dưới quyền những người giám hộ và quản lý (4,1-2a; 4,3), còn thời đại mới có đặc điểm là sự tự do, diễn tả bằng các từ ngữ: (trưởng thành) – con – người thừa kế – cha (4,4-7). Cái “trước” biến thành một cái “sau” nhờ hoạt động giải phóng được Chúa Cha điều hành trong sự hài hòa với Con của Ngài và Thần Khí của Con Ngài, xuyên qua hai cuộc sai phái, sai phái Con và sai phái Thần Khí (4,3; 4,6).
Thánh Phaolô long trọng công bố một chọn lựa của Thiên Chúa: Khi tới đỉnh cao thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai phái Con của Ngài đến thế gian trong tình trạng hạ mình và trong các giới hạn: “sinh làm con một người đàn bà”, tức là Người đã trở thành người phải chết, giới hạn, như tất cả mọi người, như thế chia sẻ sự mỏng giòn của thân phận con người; “sống dưới Lề Luật”, nghĩa là sống một cuộc sống được Lề Luật và các truyền thống quốc gia Do-thái quy định (x. Rm 8,3). Đây là một nghịch lý vĩ đại: Thiên Chúa, là tự do tuyệt đối, đã sai Con mình vào trong một hoàn cảnh nô lệ cùng cực.
Thiên Chúa làm như thế để làm gì? Thánh Phaolô viết:
- “để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu [để] chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (c. 5).
“Để chuộc những ai sống dưới Lề Luật” là phương diện tiêu cực (x. 3,13); “để chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” là phương diện tích cực.
Như thế, Thiên Chúa đã chấp nhận nghịch lý của mầu nhiệm Nhập thể của Con mình, để thực hiện một công trình giải phóng.
Bằng cái chết trên thập giá và trong tư cách con người, Đức Kitô đã thi hành bản án trên tội lỗi, nghĩa là đã đẩy tội lỗi lâu nay vẫn thống trị trên xác thịt con người đến chỗ trở thành bất lực.
Nhờ Đức Kitô, Chúa Cha đã giải phóng hoàn toàn (x.Gl 4,5; Rm 8,2) loài người khỏi mọi thứ nô lệ mà tội Ađam đã bung ra trong thế gian (x.Rm 5,12).
Cuộc giải phóng này đã được thực hiện trọn vẹn trong ơn nghĩa tử (huiothesia) được ban cho những ai tin vào Người (x.Gl 4,5; Rm 8,1).
Theo thư Gl, ơn nghĩa tử là được thông dự vào tư cách con của Con Thiên Chúa, do Người đã nhận lấy thân phận loài người chúng ta. Con Thiên Chúa đã sinh làm con một người phụ nữ để các người con phụ nữ có thể trở thành những nghĩa tử.
Phương thức rõ ràng nhất của sự biến đổi lạ thường này hệ tại hành vi liên đới trong cái chết. Bởi vì Người đã chết và đã sống lại vì chúng ta, Đức Kitô đã đón tiếp tất cả chúng ta vào trong nhân tính mới của Người, trong thân xác đã được tôn vinh của Người; và trong Người là Con Thiên Chúa, chúng ta đã trở thành con Thiên Chúa (x. 3,26).
Ơn nghĩa tử đưa lại cho chúng ta một danh hiệu như Đức Kitô; chính vì thế, chúng ta cũng trở thành “người thừa kế” (Gl 4,7; “đồng thừa kế”: Rm 8,17).
2.- Vai trò của Chúa Thánh Thần
Ở đỉnh cao của chương trình cứu độ tuyệt vời của Thiên Chúa Cha, thánh Phaolô cho thấy Thánh Thần đang hoạt động:
- “Để chứng thực anh em là con cái [rằng anh em là con cái], Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng chúng ta mà kêu lên: "Áp-ba, Cha ơi!” (c. 6).
Đi từ “chúng ta” của c. 5 (= Do-thái và Dân ngoại), thánh Phaolô nói trực tiếp với người Galát ở c. 6 (anh em). Nhưng ngay sau đó, ngài lại trở về với “(lòng) chúng ta”: ngài muốn khẳng định rằng mọi Kitô hữu (tôi = Phaolô, anh em = người Galát, họ = Kitô hữu gốc Do-thái) đều đã nhận Thánh Thần này như là bảo chứng về ơn làm nghĩa tử.
Điểm độc đáo của công thức mới này là Thiên Chúa gửi vào “trái tim chúng ta” một Đấng thường xuyên thuộc về Chúa Con.
Nếu thánh Phaolô nói rằng Thiên Chúa đã đặt “Thần Khí của Ngài” vào lòng chúng ta, thì tương ứng với sấm ngôn Êdêkien (x.Ed 11,19; 36,26s; 39,29).
Ngài cũng không nói là Con Thiên Chúa đã ban cho chúng ta “Thần Khí con cái”, vì điều này tuy mới nhưng cũng đơn giản.
Ngược lại, ngài nói rằng Thiên Chúa đã sai “Thần Khí của Con mình” vào lòng chúng ta, điều này thật sự phức tạp, bởi vì ngài diễn tả một sự can thiệp của Thiên Chúa, đồng thời cho thấy một tương quan của Thiên Chúa với Thần Khí và với Con, và ngài thiết lập một tương quan mật thiết giữa ba Đấng. Thánh Thần vẫn ở trong quan hệ với Thiên Chúa, Đấng sai phái Ngài, và với Chúa Con, mà Ngài thuộc về. Và chúng ta được đặt trong tương quan với Thánh Thần, với Chúa Con và với chính Thiên Chúa. Cách diễn tả này nhằm nêu bật quyền chúa tể của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ: chính Ngài sai phái Chúa Con và Thần Khí của Chúa Con. Tất cả chỉ nhắm làm cho chúng ta trở thành con cái.
Đây không phải là lần đầu tiên thánh Phaolô nói đến Thần Khí. Ngài đã nói đến Thần Khí ngay đầu chương 3 của thư Gl (x. 3,1-5), rồi nói đến một hành vi “tiêu cực” của Thần Khí: chiến đấu chống lại xác thịt, là sự yếu đuối của loài người. Sau đó, ngài cho thấy là có “Thần Khí của lời hứa” (3,14b), trực tiếp liên hệ đến “phúc lành ban cho Abraham” (c. 14a). Kế đó (3,15-29), xuất hiện ý tưởng “gia tài/thừa kế” (cc. 18a. 29 liên kết với ý tưởng “con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô” (c. 26).
Khi áp dụng cũng động từ “sai phái” cho Con Thiên Chúa và cho Thần Khí, tác giả muốn nói rằng Thần Khí cũng có những đặc tính như Con Thiên Chúa, ngoại trừ là Con, và có một tương quan giữa việc sai phái Thần Khí và Chúa Con. Tương quan hình thức là giữa hai hành vi giống nhau của Thiên Chúa; nhưng còn có một tương quan sâu xa hơn, đó là ân ban Thần Khí đã có được là nhờ sự vâng phục mang sức cứu chuộc của Đức Kitô (x. Gl 3,13-14).
Được Thiên Chúa gửi vào lòng chúng ta, Thần Khí của Con Thiên Chúa diễn tả quan hệ con cái bằng cách liên tục kêu lên: Abba ho patêr, “Abba, Cha ơi!”. Nghĩa là Thần Khí làm chứng và đảm bảo cho sự tự do của các con cái Thiên Chúa.
Thật ra, từ “Abba” không chỉ dành cho đứa bé gọi cha, nhưng cho cả người lớn; đàng khác, gọi Thiên Chúa là “Cha” cũng không phải là chuyện lạ: các tôn giáo bán khai hay văn minh, của người Hy-lạp, Rô-ma và Sê-mít, đều gọi như thế. Điều lạ, đó là đây là một cách gọi riêng tư thân mật.
Theo Mc 14,36, được hỗ trợ gián tiếp bởi Gl 4,6, Đức Giêsu là người đầu tiên thưa với Thiên Chúa bằng tên gọi thân mật Abba, và như thế, cho thấy Người có một quan hệ mới và duy nhất, vô song, với Thiên Chúa (x. Mt 11,27//Lc 10,22; Ga 10,30).
Cuộc sống của Đức Giêsu không có mục đích nào ngoài việc đưa loài người vào trong quan hệ con cái mà Ngài có với Thiên Chúa, bằng cách thông ban Thánh Thần trong tư cách là Thần Khí con cái.
Nhờ có Thần Khí của Con, nay người tín hữu có thể thông dự vào lời cầu nguyện của Chúa Con: Abba!, tức cũng là đi vào trong quan hệ riêng tư thâm sâu giữa Đức Kitô và Chúa Cha.
3.- Kết quả
Bây giờ chúng ta đến kết luận của toàn phân đoạn Gl 3,1–4,7:
- “Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (c. 7).
Bản văn viết theo kiểu tăng dần: “nô lệ–con; con–thừa kế”, và tất cả kết quả là một sự kiện hiện đại: ngay ngày hôm nay….
Nếu đọc toàn phân đoạn, ta ghi nhận rằng Phaolô đã nêu bật vai trò của Thiên Chúa Ba Ngôi trong dự phóng biến chúng ta thành con cái Thiên Chúa; nhưng luôn luôn là Thiên Chúa Cha ở tại nguồn của công trình này (x.Gl 3,5; 4,6).
***
Đọc thêm Rm 8,23: Chúa Thánh Thần là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con.
Tình yêu giữa hai con người là một điều quý giá – một tương quan mà chúng ta phải vun đắp và trung thành với.
Đối với Chúa Cha và Chúa Con, các Ngôi vị Thiên Chúa, tương quan của các Đấng không chỉ là một điều gì, mà là một Ngôi vị, là Chúa Thánh Thần, Đấng nhiệm xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Vậy hoa quả đầu mùa của Thánh Thần, chính là nguyện vọng được thuộc về Ba Ngôi Một Chúa, nghĩa là được nhận làm dưỡng tử.
Tôi có một người bạn thuộc về một gia đình đông đúc. Mỗi lần đến thăm anh, tôi được tiếp đón như người nhà. Thế là đôi khi tôi ao ước được thuộc về gia đình đó, vì tôi cảm nhận được một nếp sống êm đềm thân ái. Tôi cũng có một người bạn, những khi gặp khó khăn, đã coi gia đình tôi như gia đình anh, và anh được tiếp đón như người nhà. Đối với anh, sự tiếp đón ân cần đó là “ơn cứu độ” cho anh.
Ơn cứu chuộc không phải là một sự hoàn thiện độc lập; cứu chuộc có nghĩa là “thuộc về”: giống như tôi ao ước được thuộc về gia đình người bạn, và người bạn ao ước thuộc về gia đình tôi, khi chúng tôi thấy được sự hợp nhất trong gia đình, chúng ta ao ước thuộc về Chúa Ba Ngôi, là gia đình của mọi gia đình.
Hoa trái của Thần Khí là tôi hết sức khao khát được trải nghiệm sự Hợp nhất của mọi sự hợp nhất này, sự “Thuộc về” của mọi sự “thuộc về” này.
Tôi mong ước được đến tận nguồn mạch của sự Hợp nhất, sự Thuộc về, và chờ đợi từng ngày được nhận vào trong gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi.
(Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô)
Buổi giảng kết thúc lúc 08 giờ 35.
Anh em linh mục thinh lặng cầu nguyện và dọn mình dâng Thánh lễ lúc 10 giờ 15.
Ý cầu nguyện của thánh lễ hôm nay là cầu cho Ơn Thánh Hoá Linh mục.
Trong thánh lễ nầy, linh mục Giuse Đặng Thanh Minh, quản xứ An Vân, chia sẻ Tin Mừng như sau:
Mùa Chay là thời cầu nguyện. Vì thế, ngay từ đầu Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta thực hành các việc đạo đức truyền thống là ăn chay, cầu nguyện và làm phúc bố thí.
Nhưng phải cầu nguyện như thế nào cho đúng với ý Chúa?
Các tông đồ ngày xưa cũng không biết cầu nguyện thế nào cho phải lẽ. Họ đã xin Chúa Giêsu chỉ dạy và Chúa đã dạy cho họ lời kinh mẫu mực cho kinh nguyện Kitô-giáo: đó là Kinh Lạy Cha.
Đây không phải là một công thức làm sẵn để khi đọc lên là có hiệu quả ngay, nhưng thiết yếu là một thái độ sống, bao gồm hai mối tương quan tách rời nhau giữa mỗi người chúng ta với Thiên Chúa và với anh em.
Đối với Thiên Chúa, tương quan giữa con người với Chúa là tương quan Con thảo - Cha hiền.
Một người cha luôn yêu thương tha thứ, một người cha biết rõ người con phải làm gì để cho đời sống của nó được thành toàn: đó là phải làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Như thế, cầu nguyện không chỉ là lôi kéo Thiên Chúa về phía mình để thỏa mãn các nhu cầu của mình, mà còn phải đặt mình trong chương trình của Thiên Chúa.
Sống với một vì Thiên Chúa là Cha như thế, thì thật là sung sướng hạnh phúc.
Đã là Cha thì biết rõ nhu cầu của Con và điều gì là tốt cho Con, cho nên Con không cần phải “lải nhải như Dân Ngoại”. Khi cầu nguyện, Con chỉ cần đặt mình trước mặt Cha với tất cả tình yêu phó thác. Con chỉ cần thể hiện ý Cha là đủ rồi.
Tương quan giữa con người với nhau là tương quan huynh đệ vì là Con cùng một Cha.
“Lạy Cha chúng con!” Lời kinh ôm trọn nhân loại vào trong một gia đình. Thái độ của anh em một nhà, con cùng một cha, thiết yếu là tha thứ. Tha thứ là học đòi bắt chước Thiên Chúa, Đấng dùng tha thứ để tự mặc khải mình.
Tha thứ có sức đổi mới, có sức tái tạo. Tương quan giữa con người với nhau có thể được cải thiện nhờ tha thứ, và tha thứ theo tinh thần của Chúa.
Hai mối tương quan nầy kết dệt đan xen với nhau, tạo thành bản sắc của người Con Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì lời kinh mà Chúa đã chỉ dạy cho chúng con.
Xin cho Lời Chúa như mưa tuyết thấm sâu vào mảnh đất tâm hồn chúng con và mang lại hoa trái thơm ngon cho cuộc sống chúng con. Amen.
***
Ban chiều, lúc 14 giờ 45, anh em linh mục được cha giảng phòng hướng dẫn đề tài: “Tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt” (Pl 3,12)
Nói về ơn gọi tu trì, chúng ta có thể trưng ra những câu Tin Mừng liên quan tới ba lời khuyên Phúc Âm khiết tịnh, nghèo khó và vâng lời; chúng ta có thể trích dẫn Công Đồng Vatican II. Nhưng tất cả những công việc đó chỉ nằm ở bình diện tri thức (lý thuyết) mà thôi. Còn trên bình diện hiện sinh thì khác: cảm nghiệm về đời linh mục như thế nào? Những động lực nào đã đưa tôi đến chỗ vào trở thành linh mục?...
Để thêm chất liệu suy nghĩ, chúng ta cùng tìm về kinh nghiệm của thánh tông đồ Phaolô.
1.- Kinh nghiệm của thánh Phaolô: bị /được Chúa Kitô chiếm đoạt
Trên đường vào Đamát, đã xảy ra một biến cố làm chuyển hẳn hướng đời của một thầy Pharisêu trẻ tuổi tên là Saolô: “thấy (gặp) Đức Giêsu (1 Cr 9,1).
Đây là giờ phút nghiêm trọng và cốt yếu trong cuộc đời của thánh tông đồ: nếu không có biến cố này, thế giới chỉ có một Saolô đang miệt mài trong lầm lạc thôi.
Khi đã gặp Đức Kitô, một Saolô đang hung hãn đi tìm giết, làm giảm thiểu con số các kitô hữu, đã trở thành một Phaolô say sưa đi loan báo Tin Mừng cứu độ cho dân ngoại, làm tăng số các Kitô hữu.
Nhưng đây không phải là một biến cố Chúa Kitô đã gây ra để áp đảo tinh thần đối phương. Chúa Kitô đã không quật ngã Phaolô trên đường để uy hiếp ngài, khiến ngài phải nhắm mắt cúi đầu tuân theo mệnh lệnh của Người.
Sau này, thánh nhân đã nhiều lần phác họa lại cuộc đời ngài (x. Cv 22,3tt; Pl 3,5; ba lần kể lại biến cố Đamát: Cv 9,1-18; 22,5-16; 26,9-18), và đã rút ra được kết luận chính yếu: chính Đức Giêsu Kitô đã chọn ngài vì yêu thương ngài, và vì muốn dùng ngài thực hiện một công trình tình yêu. Ngài đã không ngừng làm chứng về điều đó:
- “Tôi sống kiếp sống con người của tôi trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, là Đấng đã yêu thương tôi và thí mạng vì tôi” (Gl 2,20b).
Như thế, thánh tông đồ đã bắt gặp lại kinh nghiệm của các vị ngôn sứ tiền bối:
- Is 6,1-8: “Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “Dạ, con đây, xin sai con đi”.
- Gr 1,5: “Trước khi nắn ra ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi...”.
- Gr 31,3: “Ta đã yêu ngươi bằng một tình yêu muôn thuở...”.
- Is 49,5b: “Tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.”
Vì cớ gì Thiên Chúa làm như thế? - Không ai biết!
Có kẻ nổi loạn trước tính “không hợp lý” của việc chọn lựa của Ngài. Nhưng tình yêu loài người lại không có những dáng vẻ không thông thường như thế sao? Phương chi là Thiên Chúa! “Ta muốn thương xót ai thì thương xót, muốn cảm thương ai thì cảm thương” (Rm 9,15), hoặc: “Ta là Thiên Chúa, không phải là loài người” (Hs 11,9).
Chỉ nhờ thờ phượng, ta mới khám phá ra được ý định bao la và chương trình của Thiên Chúa.
Được chọn vì yêu thương để thực hiện một công trình tình yêu. Vì thế, theo một nghĩa nào đó, biến cố Đamát là một cuộc tình duyên, một cuộc hôn nhân. Sau này, thánh Phaolô đã dùng lại hình ảnh này:
- “Tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Kitô, để anh em ra mắt Người như một trinh nữ thanh khiết” (1 Cr 11,1).
Đối với ngài, Đức Kitô không còn chỉ là một người Bạn, một vị Thầy, mà hơn nữa, còn là Người Yêu Dấu.
Đamát đã mở màn cho một cuộc tình duyên ngày càng đậm đà thắm thiết cho tới ngày vị tông đồ chịu tử đạo tại Rôma, như đỉnh cao chứng tỏ mối tình mãi mãi thắm màu.
Làm sao mà Phaolô, “người rao giảng Tin Mừng, vị tông đồ và thầy dạy” (2 Tm 1,11), có thể chịu đựng được mọi gian khổ của đời tông đồ, nếu ngài không biết rằng mình được yêu, được chính Thiên Chúa yêu thương (x. 2 Cr 11,24-29: ba lần bị đòn, một lần bị ném đá, một lần bị đắm tàu, rồi đi nhiều, gặp nguy hiểm trên sông, trên đất bằng, nơi thành thị, nơi hoang địa,... phải thức khuya, dậy sớm, đói khát, rét mướt...)?
Cả đời ngài đã chỉ là một cuộc tìm gặp và phục vụ Đức Kitô Giêsu với tất cả niềm mê say, âu yếm, nồng nàn, với khát vọng được kết hợp với Người (x. Pl 3,12-14).
Thánh Phaolô đã bị Đức Kitô chiếm đoạt “hoàn toàn” đến nỗi ngài đã thốt lên:
- “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21).
Ngọn lửa tình yêu ấy cứ bốc lên mạnh mẽ!
Tình yêu đã đưa lại ý nghĩa cốt yếu cho cuộc đời của thánh nhân, một tình yêu tha thiết, nhưng nghiêm chỉnh đến độ ngài đã nói:
- “Nếu ai không yêu mến Chúa, thì người ấy phải bị nguyền rủa” (1 Cr 16, 22).
Theo ngài, tình yêu ấy là quy luật cho mọi ơn gọi và là lý do tuyệt đỉnh của mọi ơn gọi:
- “Tôi tạ ơn Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, Đấng đã ban sức mạnh cho tôi, vì Người đã tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin. Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người. Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: đó là Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi” (1 Tm 1,12-15).
Phải đọc đoạn thư trên đây, mới thấy được tất cả sự cảm kích của vị tông đồ, vì khi đã được kéo ra khỏi “quyền lực tối tăm” (Cl 1,13) và đã được ở bên Đức Kitô, ngài đã đo lường được vực thẳm vừa thoát khỏi. Lúc đó, mới thấy Thiên Chúa không trừng phạt ai (thánh Gioan Kim Khẩu).
2.- Ơn gọi tu sĩ linh mục: một kinh nghiệm tương tự kinh nghiệm Phaolô
a) Chúng ta nhớ lại động lực nào thúc đẩy? Có thể khi ta còn bé, động lực đó rất tầm thường, vụ lợi; với thời gian, động lực ấy được thanh luyện dần, ta rõ tiếng Chúa mời gọi hơn. Khi đó, ta sẽ cảm nghiệm được thực tại sau đây:
Đi tu vì những động lực bên ngoài, tầm thường, vụ lợi, là chuyện nực cười! Chính Đức Kitô đã thu hút, lôi kéo chúng ta, tìm cách “chiếm đoạt” chúng ta, vì yêu thương chúng ta, và muốn tách riêng chúng ta ra để thực hiện một công trình tình yêu. Như thế, chúng ta đi vào nẻo đường của Phaolô.
Quả thật, nói là “đi tu” mà chưa thấy (gặp) Đức Kitô trên nẻo-đường-Đamát-của-đời-mình, thì vẫn chưa đến được giờ phút then chốt của đời ta.
Phải gặp được Đức Kitô thiết thân, phải cảm mến sâu xa tình yêu của Người đối với chúng ta, lúc đó chúng ta mới quyết tâm rập đời ta theo khuôn mẫu Giêsu Kitô. Sự cảm mến và quyết tâm ấy rất quan trọng vì sẽ đưa chúng ta tới chỗ lột bỏ được những hình ảnh viễn vông, mơ mộng, những ảo tưởng về đời sống dâng hiến của chúng ta.
“Là linh mục, chúng ta được thánh hiến trong Giáo Hội… được kêu gọi bằng nhiều cách khác nhau để góp phần đào tạo Dân Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa quan phòng đặt để chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta… Đó là con đường nên thánh của chúng ta…” (TB Giáo sĩ, Huấn thị Linh Mục Mục Tử và Lãnh đạo cộng đoàn giáo xứ, 2002, số 4).
b) Sống mầu nhiệm tự hủy của Chúa Kitô:
Đức Giêsu đã tự hủy, sau đó mới nhận được vinh quang. Phaolô cũng đã sống như thế (x. Pl 2,6tt).
Đời linh mục của chúng ta cũng sẽ trải qua những giai đoạn như thế. Không có giai đoạn tự hủy, sẽ không nhận được vinh quang và niềm hân hoan của kẻ có Chúa làm gia nghiệp.
Chúng ta có cảm tưởng những điều này rất đơn giản, khi đời sống vật chất còn thoải mái, khi đời sống thiêng liêng còn phẳng lặng, khi đời sống cộng đoàn giáo xứ còn trôi chảy. Nếu được như thế, phải tạ ơn Chúa.
Nhưng cũng phải tự nói với nhau: phải sẵn sàng đi vào mầu nhiệm tự hủy đau đớn của Chúa Giêsu. Chính Người, khi vào Vườn Ô-liu, đã đến sát thập giá, mới cảm thấy lo âu, phiền muộn, khiếp sợ đến nỗi phải kêu xin với Chúa Cha cất gánh nặng...
Vào những ngày đời chúng ta u ám (do “thiếu sót trong việc huấn luyện, thiếu tình huynh đệ trong hàng ngũ linh mục giáo phận, sống cô lập, hay thiếu sự nâng đỡ của giám mục và cộng đoàn, những vấn đề cá nhân, sức khỏe, đau khổ vì không thể tìm thấy câu trả lời hay giải pháp cho các vấn đề, lơ là trong đời sống khổ chế, bỏ bê đời sống thiêng liêng hay ngay cả thiếu đức tin”, xem Ht Linh Mục Mục Tử, số 11), lúc đó ta mới thấm thía những đòi hỏi của đời tu là đau đớn, khó khăn đến đâu. Khi ấy, chúng ta dựa vào đâu để trung thành, nếu không phải là chính Chúa? Nhưng nếu chúng ta không hề quen sống tình yêu với Chúa, thì làm sao có đủ nghị lực để đứng vững rồi tiến bước?
Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã dạy trong Diễn từ gửi TB Giáo sĩ ngày 23-11-2001:
“Điều xác định chỗ đứng trung tâm đặc biệt và có tính giáo hội này của linh mục là mối tương quan nền tảng của ngài với Đức Kitô, Thủ Lãnh và Mục Tử, như một sự đại diện có tính bí tích. Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, tôi lưu ý rằng mối tương quan giữa linh mục và Hội Thánh được ghi khắc trong mối tương quan mà linh mục có đối với Đức Kitô”.
Lúc đó đời sống chúng ta sẽ nhẹ nhàng, vui tươi, phấn khởi và toát ra được năng lực thần linh có khả năng sưởi ấm lòng người đang giá lạnh vì không còn niềm tin nữa.
(Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô)
Buổi giảng kết thúc lúc 15 giờ 10.
Anh em linh mục cầu nguyện và suy tư.
Từ 16 giờ 30 đến 17 giờ 30, anh em linh mục tôn vinh Thánh Thể trong giờ chầu Mình Thánh Chúa.
Ban tối, lúc 19 giờ, linh mục Lê Văn Cao hướng dẫn Giờ Sám Hối cho anh em linh mục.
Anh em linh mục chịu phép Giải Tội trong giờ sám hối nầy.
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang tường thuật
***
Ngày thứ nhất (02/3/2009)
Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô, lúc 08 giờ, hướng dẫn linh mục đoàn Huế tĩnh tâm với đề tài: “Đời sống thiêng liêng, công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi.”
1.- Chương trình của Chúa Cha
Đời sống thiêng liêng của chúng ta là một công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Phaolô nói với chúng ta như thế qua đoạn văn Gl 4,4-7:
- “4 Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, 5 để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. 6 Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng chúng ta mà kêu lên: "Abba, Cha ơi!" 7 Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”.
Giờ đây chúng ta tìm hiểu từng điểm:
“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật” (c. 4).
Đây là một khúc quanh quyết liệt trong chương trình của Thiên Chúa: có một thời đại đang khép lại và một thời đại mới đang mở ra.
Đặc điểm của thời đại cũ được diễn tả bằng tình trạng nô lệ với các từ ngữ: thiếu niên – nô lệ – dưới quyền những người giám hộ và quản lý (4,1-2a; 4,3), còn thời đại mới có đặc điểm là sự tự do, diễn tả bằng các từ ngữ: (trưởng thành) – con – người thừa kế – cha (4,4-7). Cái “trước” biến thành một cái “sau” nhờ hoạt động giải phóng được Chúa Cha điều hành trong sự hài hòa với Con của Ngài và Thần Khí của Con Ngài, xuyên qua hai cuộc sai phái, sai phái Con và sai phái Thần Khí (4,3; 4,6).
Thánh Phaolô long trọng công bố một chọn lựa của Thiên Chúa: Khi tới đỉnh cao thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai phái Con của Ngài đến thế gian trong tình trạng hạ mình và trong các giới hạn: “sinh làm con một người đàn bà”, tức là Người đã trở thành người phải chết, giới hạn, như tất cả mọi người, như thế chia sẻ sự mỏng giòn của thân phận con người; “sống dưới Lề Luật”, nghĩa là sống một cuộc sống được Lề Luật và các truyền thống quốc gia Do-thái quy định (x. Rm 8,3). Đây là một nghịch lý vĩ đại: Thiên Chúa, là tự do tuyệt đối, đã sai Con mình vào trong một hoàn cảnh nô lệ cùng cực.
Thiên Chúa làm như thế để làm gì? Thánh Phaolô viết:
- “để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu [để] chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (c. 5).
“Để chuộc những ai sống dưới Lề Luật” là phương diện tiêu cực (x. 3,13); “để chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” là phương diện tích cực.
Như thế, Thiên Chúa đã chấp nhận nghịch lý của mầu nhiệm Nhập thể của Con mình, để thực hiện một công trình giải phóng.
Bằng cái chết trên thập giá và trong tư cách con người, Đức Kitô đã thi hành bản án trên tội lỗi, nghĩa là đã đẩy tội lỗi lâu nay vẫn thống trị trên xác thịt con người đến chỗ trở thành bất lực.
Nhờ Đức Kitô, Chúa Cha đã giải phóng hoàn toàn (x.Gl 4,5; Rm 8,2) loài người khỏi mọi thứ nô lệ mà tội Ađam đã bung ra trong thế gian (x.Rm 5,12).
Cuộc giải phóng này đã được thực hiện trọn vẹn trong ơn nghĩa tử (huiothesia) được ban cho những ai tin vào Người (x.Gl 4,5; Rm 8,1).
Theo thư Gl, ơn nghĩa tử là được thông dự vào tư cách con của Con Thiên Chúa, do Người đã nhận lấy thân phận loài người chúng ta. Con Thiên Chúa đã sinh làm con một người phụ nữ để các người con phụ nữ có thể trở thành những nghĩa tử.
Phương thức rõ ràng nhất của sự biến đổi lạ thường này hệ tại hành vi liên đới trong cái chết. Bởi vì Người đã chết và đã sống lại vì chúng ta, Đức Kitô đã đón tiếp tất cả chúng ta vào trong nhân tính mới của Người, trong thân xác đã được tôn vinh của Người; và trong Người là Con Thiên Chúa, chúng ta đã trở thành con Thiên Chúa (x. 3,26).
Ơn nghĩa tử đưa lại cho chúng ta một danh hiệu như Đức Kitô; chính vì thế, chúng ta cũng trở thành “người thừa kế” (Gl 4,7; “đồng thừa kế”: Rm 8,17).
2.- Vai trò của Chúa Thánh Thần
Ở đỉnh cao của chương trình cứu độ tuyệt vời của Thiên Chúa Cha, thánh Phaolô cho thấy Thánh Thần đang hoạt động:
- “Để chứng thực anh em là con cái [rằng anh em là con cái], Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng chúng ta mà kêu lên: "Áp-ba, Cha ơi!” (c. 6).
Đi từ “chúng ta” của c. 5 (= Do-thái và Dân ngoại), thánh Phaolô nói trực tiếp với người Galát ở c. 6 (anh em). Nhưng ngay sau đó, ngài lại trở về với “(lòng) chúng ta”: ngài muốn khẳng định rằng mọi Kitô hữu (tôi = Phaolô, anh em = người Galát, họ = Kitô hữu gốc Do-thái) đều đã nhận Thánh Thần này như là bảo chứng về ơn làm nghĩa tử.
Điểm độc đáo của công thức mới này là Thiên Chúa gửi vào “trái tim chúng ta” một Đấng thường xuyên thuộc về Chúa Con.
Nếu thánh Phaolô nói rằng Thiên Chúa đã đặt “Thần Khí của Ngài” vào lòng chúng ta, thì tương ứng với sấm ngôn Êdêkien (x.Ed 11,19; 36,26s; 39,29).
Ngài cũng không nói là Con Thiên Chúa đã ban cho chúng ta “Thần Khí con cái”, vì điều này tuy mới nhưng cũng đơn giản.
Ngược lại, ngài nói rằng Thiên Chúa đã sai “Thần Khí của Con mình” vào lòng chúng ta, điều này thật sự phức tạp, bởi vì ngài diễn tả một sự can thiệp của Thiên Chúa, đồng thời cho thấy một tương quan của Thiên Chúa với Thần Khí và với Con, và ngài thiết lập một tương quan mật thiết giữa ba Đấng. Thánh Thần vẫn ở trong quan hệ với Thiên Chúa, Đấng sai phái Ngài, và với Chúa Con, mà Ngài thuộc về. Và chúng ta được đặt trong tương quan với Thánh Thần, với Chúa Con và với chính Thiên Chúa. Cách diễn tả này nhằm nêu bật quyền chúa tể của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ: chính Ngài sai phái Chúa Con và Thần Khí của Chúa Con. Tất cả chỉ nhắm làm cho chúng ta trở thành con cái.
Đây không phải là lần đầu tiên thánh Phaolô nói đến Thần Khí. Ngài đã nói đến Thần Khí ngay đầu chương 3 của thư Gl (x. 3,1-5), rồi nói đến một hành vi “tiêu cực” của Thần Khí: chiến đấu chống lại xác thịt, là sự yếu đuối của loài người. Sau đó, ngài cho thấy là có “Thần Khí của lời hứa” (3,14b), trực tiếp liên hệ đến “phúc lành ban cho Abraham” (c. 14a). Kế đó (3,15-29), xuất hiện ý tưởng “gia tài/thừa kế” (cc. 18a. 29 liên kết với ý tưởng “con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô” (c. 26).
Khi áp dụng cũng động từ “sai phái” cho Con Thiên Chúa và cho Thần Khí, tác giả muốn nói rằng Thần Khí cũng có những đặc tính như Con Thiên Chúa, ngoại trừ là Con, và có một tương quan giữa việc sai phái Thần Khí và Chúa Con. Tương quan hình thức là giữa hai hành vi giống nhau của Thiên Chúa; nhưng còn có một tương quan sâu xa hơn, đó là ân ban Thần Khí đã có được là nhờ sự vâng phục mang sức cứu chuộc của Đức Kitô (x. Gl 3,13-14).
Được Thiên Chúa gửi vào lòng chúng ta, Thần Khí của Con Thiên Chúa diễn tả quan hệ con cái bằng cách liên tục kêu lên: Abba ho patêr, “Abba, Cha ơi!”. Nghĩa là Thần Khí làm chứng và đảm bảo cho sự tự do của các con cái Thiên Chúa.
Thật ra, từ “Abba” không chỉ dành cho đứa bé gọi cha, nhưng cho cả người lớn; đàng khác, gọi Thiên Chúa là “Cha” cũng không phải là chuyện lạ: các tôn giáo bán khai hay văn minh, của người Hy-lạp, Rô-ma và Sê-mít, đều gọi như thế. Điều lạ, đó là đây là một cách gọi riêng tư thân mật.
Theo Mc 14,36, được hỗ trợ gián tiếp bởi Gl 4,6, Đức Giêsu là người đầu tiên thưa với Thiên Chúa bằng tên gọi thân mật Abba, và như thế, cho thấy Người có một quan hệ mới và duy nhất, vô song, với Thiên Chúa (x. Mt 11,27//Lc 10,22; Ga 10,30).
Cuộc sống của Đức Giêsu không có mục đích nào ngoài việc đưa loài người vào trong quan hệ con cái mà Ngài có với Thiên Chúa, bằng cách thông ban Thánh Thần trong tư cách là Thần Khí con cái.
Nhờ có Thần Khí của Con, nay người tín hữu có thể thông dự vào lời cầu nguyện của Chúa Con: Abba!, tức cũng là đi vào trong quan hệ riêng tư thâm sâu giữa Đức Kitô và Chúa Cha.
3.- Kết quả
Bây giờ chúng ta đến kết luận của toàn phân đoạn Gl 3,1–4,7:
- “Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (c. 7).
Bản văn viết theo kiểu tăng dần: “nô lệ–con; con–thừa kế”, và tất cả kết quả là một sự kiện hiện đại: ngay ngày hôm nay….
Nếu đọc toàn phân đoạn, ta ghi nhận rằng Phaolô đã nêu bật vai trò của Thiên Chúa Ba Ngôi trong dự phóng biến chúng ta thành con cái Thiên Chúa; nhưng luôn luôn là Thiên Chúa Cha ở tại nguồn của công trình này (x.Gl 3,5; 4,6).
***
Đọc thêm Rm 8,23: Chúa Thánh Thần là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con.
Tình yêu giữa hai con người là một điều quý giá – một tương quan mà chúng ta phải vun đắp và trung thành với.
Đối với Chúa Cha và Chúa Con, các Ngôi vị Thiên Chúa, tương quan của các Đấng không chỉ là một điều gì, mà là một Ngôi vị, là Chúa Thánh Thần, Đấng nhiệm xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Vậy hoa quả đầu mùa của Thánh Thần, chính là nguyện vọng được thuộc về Ba Ngôi Một Chúa, nghĩa là được nhận làm dưỡng tử.
Tôi có một người bạn thuộc về một gia đình đông đúc. Mỗi lần đến thăm anh, tôi được tiếp đón như người nhà. Thế là đôi khi tôi ao ước được thuộc về gia đình đó, vì tôi cảm nhận được một nếp sống êm đềm thân ái. Tôi cũng có một người bạn, những khi gặp khó khăn, đã coi gia đình tôi như gia đình anh, và anh được tiếp đón như người nhà. Đối với anh, sự tiếp đón ân cần đó là “ơn cứu độ” cho anh.
Ơn cứu chuộc không phải là một sự hoàn thiện độc lập; cứu chuộc có nghĩa là “thuộc về”: giống như tôi ao ước được thuộc về gia đình người bạn, và người bạn ao ước thuộc về gia đình tôi, khi chúng tôi thấy được sự hợp nhất trong gia đình, chúng ta ao ước thuộc về Chúa Ba Ngôi, là gia đình của mọi gia đình.
Hoa trái của Thần Khí là tôi hết sức khao khát được trải nghiệm sự Hợp nhất của mọi sự hợp nhất này, sự “Thuộc về” của mọi sự “thuộc về” này.
Tôi mong ước được đến tận nguồn mạch của sự Hợp nhất, sự Thuộc về, và chờ đợi từng ngày được nhận vào trong gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi.
(Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô)
Buổi giảng kết thúc lúc 08 giờ 35.
Anh em linh mục thinh lặng cầu nguyện và dọn mình dâng Thánh lễ lúc 10 giờ 15.
Ý cầu nguyện của thánh lễ hôm nay là cầu cho Ơn Thánh Hoá Linh mục.
Trong thánh lễ nầy, linh mục Giuse Đặng Thanh Minh, quản xứ An Vân, chia sẻ Tin Mừng như sau:
Mùa Chay là thời cầu nguyện. Vì thế, ngay từ đầu Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta thực hành các việc đạo đức truyền thống là ăn chay, cầu nguyện và làm phúc bố thí.
Nhưng phải cầu nguyện như thế nào cho đúng với ý Chúa?
Các tông đồ ngày xưa cũng không biết cầu nguyện thế nào cho phải lẽ. Họ đã xin Chúa Giêsu chỉ dạy và Chúa đã dạy cho họ lời kinh mẫu mực cho kinh nguyện Kitô-giáo: đó là Kinh Lạy Cha.
Đây không phải là một công thức làm sẵn để khi đọc lên là có hiệu quả ngay, nhưng thiết yếu là một thái độ sống, bao gồm hai mối tương quan tách rời nhau giữa mỗi người chúng ta với Thiên Chúa và với anh em.
Đối với Thiên Chúa, tương quan giữa con người với Chúa là tương quan Con thảo - Cha hiền.
Một người cha luôn yêu thương tha thứ, một người cha biết rõ người con phải làm gì để cho đời sống của nó được thành toàn: đó là phải làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Như thế, cầu nguyện không chỉ là lôi kéo Thiên Chúa về phía mình để thỏa mãn các nhu cầu của mình, mà còn phải đặt mình trong chương trình của Thiên Chúa.
Sống với một vì Thiên Chúa là Cha như thế, thì thật là sung sướng hạnh phúc.
Đã là Cha thì biết rõ nhu cầu của Con và điều gì là tốt cho Con, cho nên Con không cần phải “lải nhải như Dân Ngoại”. Khi cầu nguyện, Con chỉ cần đặt mình trước mặt Cha với tất cả tình yêu phó thác. Con chỉ cần thể hiện ý Cha là đủ rồi.
Tương quan giữa con người với nhau là tương quan huynh đệ vì là Con cùng một Cha.
“Lạy Cha chúng con!” Lời kinh ôm trọn nhân loại vào trong một gia đình. Thái độ của anh em một nhà, con cùng một cha, thiết yếu là tha thứ. Tha thứ là học đòi bắt chước Thiên Chúa, Đấng dùng tha thứ để tự mặc khải mình.
Tha thứ có sức đổi mới, có sức tái tạo. Tương quan giữa con người với nhau có thể được cải thiện nhờ tha thứ, và tha thứ theo tinh thần của Chúa.
Hai mối tương quan nầy kết dệt đan xen với nhau, tạo thành bản sắc của người Con Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì lời kinh mà Chúa đã chỉ dạy cho chúng con.
Xin cho Lời Chúa như mưa tuyết thấm sâu vào mảnh đất tâm hồn chúng con và mang lại hoa trái thơm ngon cho cuộc sống chúng con. Amen.
***
Ban chiều, lúc 14 giờ 45, anh em linh mục được cha giảng phòng hướng dẫn đề tài: “Tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt” (Pl 3,12)
Nói về ơn gọi tu trì, chúng ta có thể trưng ra những câu Tin Mừng liên quan tới ba lời khuyên Phúc Âm khiết tịnh, nghèo khó và vâng lời; chúng ta có thể trích dẫn Công Đồng Vatican II. Nhưng tất cả những công việc đó chỉ nằm ở bình diện tri thức (lý thuyết) mà thôi. Còn trên bình diện hiện sinh thì khác: cảm nghiệm về đời linh mục như thế nào? Những động lực nào đã đưa tôi đến chỗ vào trở thành linh mục?...
Để thêm chất liệu suy nghĩ, chúng ta cùng tìm về kinh nghiệm của thánh tông đồ Phaolô.
1.- Kinh nghiệm của thánh Phaolô: bị /được Chúa Kitô chiếm đoạt
Trên đường vào Đamát, đã xảy ra một biến cố làm chuyển hẳn hướng đời của một thầy Pharisêu trẻ tuổi tên là Saolô: “thấy (gặp) Đức Giêsu (1 Cr 9,1).
Đây là giờ phút nghiêm trọng và cốt yếu trong cuộc đời của thánh tông đồ: nếu không có biến cố này, thế giới chỉ có một Saolô đang miệt mài trong lầm lạc thôi.
Khi đã gặp Đức Kitô, một Saolô đang hung hãn đi tìm giết, làm giảm thiểu con số các kitô hữu, đã trở thành một Phaolô say sưa đi loan báo Tin Mừng cứu độ cho dân ngoại, làm tăng số các Kitô hữu.
Nhưng đây không phải là một biến cố Chúa Kitô đã gây ra để áp đảo tinh thần đối phương. Chúa Kitô đã không quật ngã Phaolô trên đường để uy hiếp ngài, khiến ngài phải nhắm mắt cúi đầu tuân theo mệnh lệnh của Người.
Sau này, thánh nhân đã nhiều lần phác họa lại cuộc đời ngài (x. Cv 22,3tt; Pl 3,5; ba lần kể lại biến cố Đamát: Cv 9,1-18; 22,5-16; 26,9-18), và đã rút ra được kết luận chính yếu: chính Đức Giêsu Kitô đã chọn ngài vì yêu thương ngài, và vì muốn dùng ngài thực hiện một công trình tình yêu. Ngài đã không ngừng làm chứng về điều đó:
- “Tôi sống kiếp sống con người của tôi trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, là Đấng đã yêu thương tôi và thí mạng vì tôi” (Gl 2,20b).
Như thế, thánh tông đồ đã bắt gặp lại kinh nghiệm của các vị ngôn sứ tiền bối:
- Is 6,1-8: “Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “Dạ, con đây, xin sai con đi”.
- Gr 1,5: “Trước khi nắn ra ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi...”.
- Gr 31,3: “Ta đã yêu ngươi bằng một tình yêu muôn thuở...”.
- Is 49,5b: “Tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.”
Vì cớ gì Thiên Chúa làm như thế? - Không ai biết!
Có kẻ nổi loạn trước tính “không hợp lý” của việc chọn lựa của Ngài. Nhưng tình yêu loài người lại không có những dáng vẻ không thông thường như thế sao? Phương chi là Thiên Chúa! “Ta muốn thương xót ai thì thương xót, muốn cảm thương ai thì cảm thương” (Rm 9,15), hoặc: “Ta là Thiên Chúa, không phải là loài người” (Hs 11,9).
Chỉ nhờ thờ phượng, ta mới khám phá ra được ý định bao la và chương trình của Thiên Chúa.
Được chọn vì yêu thương để thực hiện một công trình tình yêu. Vì thế, theo một nghĩa nào đó, biến cố Đamát là một cuộc tình duyên, một cuộc hôn nhân. Sau này, thánh Phaolô đã dùng lại hình ảnh này:
- “Tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Kitô, để anh em ra mắt Người như một trinh nữ thanh khiết” (1 Cr 11,1).
Đối với ngài, Đức Kitô không còn chỉ là một người Bạn, một vị Thầy, mà hơn nữa, còn là Người Yêu Dấu.
Đamát đã mở màn cho một cuộc tình duyên ngày càng đậm đà thắm thiết cho tới ngày vị tông đồ chịu tử đạo tại Rôma, như đỉnh cao chứng tỏ mối tình mãi mãi thắm màu.
Làm sao mà Phaolô, “người rao giảng Tin Mừng, vị tông đồ và thầy dạy” (2 Tm 1,11), có thể chịu đựng được mọi gian khổ của đời tông đồ, nếu ngài không biết rằng mình được yêu, được chính Thiên Chúa yêu thương (x. 2 Cr 11,24-29: ba lần bị đòn, một lần bị ném đá, một lần bị đắm tàu, rồi đi nhiều, gặp nguy hiểm trên sông, trên đất bằng, nơi thành thị, nơi hoang địa,... phải thức khuya, dậy sớm, đói khát, rét mướt...)?
Cả đời ngài đã chỉ là một cuộc tìm gặp và phục vụ Đức Kitô Giêsu với tất cả niềm mê say, âu yếm, nồng nàn, với khát vọng được kết hợp với Người (x. Pl 3,12-14).
Thánh Phaolô đã bị Đức Kitô chiếm đoạt “hoàn toàn” đến nỗi ngài đã thốt lên:
- “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21).
Ngọn lửa tình yêu ấy cứ bốc lên mạnh mẽ!
Tình yêu đã đưa lại ý nghĩa cốt yếu cho cuộc đời của thánh nhân, một tình yêu tha thiết, nhưng nghiêm chỉnh đến độ ngài đã nói:
- “Nếu ai không yêu mến Chúa, thì người ấy phải bị nguyền rủa” (1 Cr 16, 22).
Theo ngài, tình yêu ấy là quy luật cho mọi ơn gọi và là lý do tuyệt đỉnh của mọi ơn gọi:
- “Tôi tạ ơn Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, Đấng đã ban sức mạnh cho tôi, vì Người đã tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin. Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người. Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: đó là Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi” (1 Tm 1,12-15).
Phải đọc đoạn thư trên đây, mới thấy được tất cả sự cảm kích của vị tông đồ, vì khi đã được kéo ra khỏi “quyền lực tối tăm” (Cl 1,13) và đã được ở bên Đức Kitô, ngài đã đo lường được vực thẳm vừa thoát khỏi. Lúc đó, mới thấy Thiên Chúa không trừng phạt ai (thánh Gioan Kim Khẩu).
2.- Ơn gọi tu sĩ linh mục: một kinh nghiệm tương tự kinh nghiệm Phaolô
a) Chúng ta nhớ lại động lực nào thúc đẩy? Có thể khi ta còn bé, động lực đó rất tầm thường, vụ lợi; với thời gian, động lực ấy được thanh luyện dần, ta rõ tiếng Chúa mời gọi hơn. Khi đó, ta sẽ cảm nghiệm được thực tại sau đây:
Đi tu vì những động lực bên ngoài, tầm thường, vụ lợi, là chuyện nực cười! Chính Đức Kitô đã thu hút, lôi kéo chúng ta, tìm cách “chiếm đoạt” chúng ta, vì yêu thương chúng ta, và muốn tách riêng chúng ta ra để thực hiện một công trình tình yêu. Như thế, chúng ta đi vào nẻo đường của Phaolô.
Quả thật, nói là “đi tu” mà chưa thấy (gặp) Đức Kitô trên nẻo-đường-Đamát-của-đời-mình, thì vẫn chưa đến được giờ phút then chốt của đời ta.
Phải gặp được Đức Kitô thiết thân, phải cảm mến sâu xa tình yêu của Người đối với chúng ta, lúc đó chúng ta mới quyết tâm rập đời ta theo khuôn mẫu Giêsu Kitô. Sự cảm mến và quyết tâm ấy rất quan trọng vì sẽ đưa chúng ta tới chỗ lột bỏ được những hình ảnh viễn vông, mơ mộng, những ảo tưởng về đời sống dâng hiến của chúng ta.
“Là linh mục, chúng ta được thánh hiến trong Giáo Hội… được kêu gọi bằng nhiều cách khác nhau để góp phần đào tạo Dân Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa quan phòng đặt để chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta… Đó là con đường nên thánh của chúng ta…” (TB Giáo sĩ, Huấn thị Linh Mục Mục Tử và Lãnh đạo cộng đoàn giáo xứ, 2002, số 4).
b) Sống mầu nhiệm tự hủy của Chúa Kitô:
Đức Giêsu đã tự hủy, sau đó mới nhận được vinh quang. Phaolô cũng đã sống như thế (x. Pl 2,6tt).
Đời linh mục của chúng ta cũng sẽ trải qua những giai đoạn như thế. Không có giai đoạn tự hủy, sẽ không nhận được vinh quang và niềm hân hoan của kẻ có Chúa làm gia nghiệp.
Chúng ta có cảm tưởng những điều này rất đơn giản, khi đời sống vật chất còn thoải mái, khi đời sống thiêng liêng còn phẳng lặng, khi đời sống cộng đoàn giáo xứ còn trôi chảy. Nếu được như thế, phải tạ ơn Chúa.
Nhưng cũng phải tự nói với nhau: phải sẵn sàng đi vào mầu nhiệm tự hủy đau đớn của Chúa Giêsu. Chính Người, khi vào Vườn Ô-liu, đã đến sát thập giá, mới cảm thấy lo âu, phiền muộn, khiếp sợ đến nỗi phải kêu xin với Chúa Cha cất gánh nặng...
Vào những ngày đời chúng ta u ám (do “thiếu sót trong việc huấn luyện, thiếu tình huynh đệ trong hàng ngũ linh mục giáo phận, sống cô lập, hay thiếu sự nâng đỡ của giám mục và cộng đoàn, những vấn đề cá nhân, sức khỏe, đau khổ vì không thể tìm thấy câu trả lời hay giải pháp cho các vấn đề, lơ là trong đời sống khổ chế, bỏ bê đời sống thiêng liêng hay ngay cả thiếu đức tin”, xem Ht Linh Mục Mục Tử, số 11), lúc đó ta mới thấm thía những đòi hỏi của đời tu là đau đớn, khó khăn đến đâu. Khi ấy, chúng ta dựa vào đâu để trung thành, nếu không phải là chính Chúa? Nhưng nếu chúng ta không hề quen sống tình yêu với Chúa, thì làm sao có đủ nghị lực để đứng vững rồi tiến bước?
Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã dạy trong Diễn từ gửi TB Giáo sĩ ngày 23-11-2001:
“Điều xác định chỗ đứng trung tâm đặc biệt và có tính giáo hội này của linh mục là mối tương quan nền tảng của ngài với Đức Kitô, Thủ Lãnh và Mục Tử, như một sự đại diện có tính bí tích. Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, tôi lưu ý rằng mối tương quan giữa linh mục và Hội Thánh được ghi khắc trong mối tương quan mà linh mục có đối với Đức Kitô”.
Lúc đó đời sống chúng ta sẽ nhẹ nhàng, vui tươi, phấn khởi và toát ra được năng lực thần linh có khả năng sưởi ấm lòng người đang giá lạnh vì không còn niềm tin nữa.
(Linh mục FX. Vũ Phan Long, ofm, Giám Tỉnh Dòng Phanxicô)
Buổi giảng kết thúc lúc 15 giờ 10.
Anh em linh mục cầu nguyện và suy tư.
Từ 16 giờ 30 đến 17 giờ 30, anh em linh mục tôn vinh Thánh Thể trong giờ chầu Mình Thánh Chúa.
Ban tối, lúc 19 giờ, linh mục Lê Văn Cao hướng dẫn Giờ Sám Hối cho anh em linh mục.
Anh em linh mục chịu phép Giải Tội trong giờ sám hối nầy.
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang tường thuật