Nghi thức sai đi của các giáo lý viên Sydney

Từ những ngày đầu mới đặt chân tới Sydney, người Công Giáo Việt Nam đã nghĩ tới việc đào tạo đức tin cho con em mình. Dù nhân sự lúc đó rất qúi hiếm, nhưng các sư huynh La San cũng như các nữ tu Trinh Vương đã hy sinh nhiều công sức để vừa lo phục vụ anh chị em đồng hương của mình về phương diện phụng vụ, vừa lo dạy giáo lý và sinh hoạt với mầm non của Giáo Hội. Có thể nói, chưa co thời điểm nào trong lịch sử định cư của người Việt Công Giáo tại thành phố đầu tiên của Úc này, mà nhu cầu giáo lý cho các em lại bị lãng quên.

Vấn đề tài liệu

Tuy nhiên, sinh hoạt giáo lý trên chỉ đi vào qui củ từ ngày Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Sydney, như danh xưng hiện nay, được chính thức thành lập cuối thập niên 1980. Cộng Đồng này được một ban tuyên úy duy nhất lãnh đạo trên một địa bàn hoạt động rộng lớn. Khởi đầu, địa bàn hoạt động ấy bao trùm lãnh thổ của ít nhất 4 giáo phận Úc: Sydney, Paramatta, Wollongong và New Castle, với 11 giáo đoàn hiện diện tại 4 giáo phận ấy. Nay thì địa bàn hoạt động đã được thu gọn lại trong lãnh thổ của giáo phận Sydney mà thôi với 8 giáo đoàn, nhưng riêng sinh hoạt giáo lý vẫn là 10 giáo đoàn gần như trước.

Hiện nay, hầu như giáo đoàn nào cũng có một trường giáo lý cho các em thiếu nhi và sinh hoạt đều đặn vào những ngày cuối tuần, phần đông là Chúa Nhật, lồng trong chương trình sinh hoạt của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam. Tùy theo sĩ số ghi danh, có trường có tới 10 lớp giáo lý khác nhau từ tuổi thơ (1&2), qua ấu nhi (1,2,3), thiếu nhi (1,2,3), tới nghĩa sĩ (1,2). Ấy là chưa kể ba lớp: xưng tội lần đầu, rước lễ lần đầu và thêm sức. Con số các em theo học các lớp này, trên phạm vi toàn Cộng Đồng, hàng năm trên dưới 1,000 em dưới sự hướng dẫn của gần 70 giáo lý viên.

Khỏi cần nói, địa bàn sinh hoạt rộng lớn này hiển nhiên đòi hỏi nhiều hình thức thống nhất về tổ chức và điều hành, mà việc trước nhất là thống nhất tài liệu giảng dạy. Năm 1992, nhân Đại Hội Giáo Lý Kỳ 1, tổ chức trong ba ngày cuối tuần tại Trường St John (nay là Holy Spirit) ở Lakemba, Cha Phaolô Chu Văn Chi, đặc trách Truyền Giáo, đã cùng với một số thầy đại chủng sinh thuộc Đại Chủng Viện Manly soạn ra bộ giáo lý thiếu nhi thống nhất đầu tiên gồm đủ các cấp lớp, theo hệ thống tổ chức của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam. Bộ giáo lý này liên tiếp được sử dụng cho tới năm 1995. Năm này, dưới sự lãnh đạo của Cha Mai Văn Thịnh, Dòng Chúa Cứu Thế, một sáng kiến khác được đưa ra: lấy bộ giáo lý “Joy For Living” (Vui Vì Được Sống) của tổ chức Huynh Đoàn Học Thuyết Kitô Giáo (Confraternity of Christian Doctrine) làm tài liệu giảng dạy, sau khi đã chuyển nó sang tiếng Việt. Đây là tài liệu được Huynh Đoàn này soạn ra cho chương trình giáo lý tại các trường của chính phủ. Nó hơn bộ giáo lý đầu tiên ở chỗ có cả phần sinh hoạt để các em thực hành ngay những điều mình vừa nghe hay sẽ nghe giáo lý viên trình bày. Nhờ thế mà giờ sinh hoạt giáo lý sôi động hẳn lên. Tiếc rằng Cha Mai Văn Thịnh chỉ đặc trách Ban Truyền Giáo được ít năm, sau đó, phải đi lãnh nhiệm vụ khác. Cha Vũ Đức Thông tiếp nối công việc của Cha Thịnh và đi xa hơn một chút bằng cách lồng hẳn chương trình Vui Vì Được Sống vào chương trình sinh hoạt của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể. Làm thế nào để bài giáo lý trở thành một phần phù hợp với chương trình sau. Chính các giáo lý viên cũng trở thành huynh trưởng của Phong Trào, được gọi là Huynh Trưởng Giáo Lý, trong khi các huynh trưởng đúng nghĩa của Phong Trào được gọi là Huynh Trưởng Sinh Hoạt. Ý niệm này rất hay nhưng gặp trở ngại ở điểm: thật khó mà sắp xếp các bài của Vui Vì Đưọc Sống theo thể tài sinh hoạt của Chương Trình Thăng Tiến. Đây là việc không hẳn là không làm được, nhưng đòi hỏi nhiều công phu và thì giờ, là hai thứ thật khó kiếm trong “thế giới thiện nguyện”, “vác ngà voi hàng tổng”. Nên sau một thời gian ngắn thử nghiệm, sáng kiến kia đành lui bước. Một phần cũng vì phản ứng của phe “bảo thủ”, hay nói đúng hơn, của phe cứ nhất định giáo lý phải có nội dung giáo lý rõ ràng, rành mạch và theo lối diễn dịch: bắt đầu là tiền đề giáo lý, rồi giải nghĩa, quảng diễn rộng ra, lúc ấy mới cần thí dụ, điển hình, chứ cái kiểu qui nạp, nói chuyện bá láp rồi mới để người ta tự suy ra nội dung giáo lý là không được.

Do đó, Cha Vũ Đức Thông nghĩ đến việc thích ứng bộ giáo lý của Tổng Giáo Phận SàiGòn và biến nó thành bộ giáo lý “Chương Trình Giáo Dục Đức Tin” gồm 9 cuốn: 1 cho lớp tuổi thơ, 3 cho các lớp ấu nhi, 3 cho các lớp thiếu nhi và 2 cho các lớp nghĩa sĩ. Dàn dựng mỗi bài trong các cuốn giáo lý này đại khái như sau: sau Lời Chúa là phần bài học bao gồm giải nghĩa, thực tập, học thuộc lòng, kho chữ, băng reo, và phần thực tập bao gồm quyết tâm, cầu nguyện và bài hát (có dấu nhạc đầy đủ). Hình như vì thấy công phu của việc thích ứng này, cha Thông đã vận dụng ngân khoản đâu đó và cho in bộ này và cho lưu hành từ năm 1998. Đây là bộ giáo lý đầu tiên được in ấn đàng hoàng, chứ không chụp sao như cũ. Cha hy vọng nó sẽ “sống lâu”.

Tương đối, nó sống lâu thật. Ít nhất cũng cho tới năm 2005. Đến lúc này, Cha Phaolô Chu Văn Chi đã trở lại đặc trách Ban Truyền Giáo từ lâu. Ngài nghĩ đến việc cập nhật hóa tài liệu giáo lý. Không hẳn là tùy hứng. Chuyện gay cấn trong việc giảng dạy giáo lý là vấn đề ngôn ngữ. Nên dùng ngôn ngữ nào làm chiếc xe chuyên chở nội dung giáo lý tới các em, những người ngày nay hiển nhiên thạo tiếng Anh hơn tiếng Việt, nói cho ngay, không còn coi tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ nữa mà là một ngôn ngữ thứ hai, thậm chí, là ngôn ngữ thứ ba, thứ bốn không chừng. Nhiều em cứ “ngớ mặt ra” khi nghe giáo lý bằng tiếng Việt. Nhưng chủ trương của ban tuyên úy là nhất định dùng tiếng Việt làm công tác chuyên chở trên, để duy trì cách diễn tả đạo theo văn hóa Việt Nam. Nội cái việc ta luôn miệng gọi ông thánh Giuse thay vì Joseph cộc lốc, Chúa Giêsu chứ không Jesus cộc lốc, Đức Mẹ Maria chứ không Mary cộc lốc, Đức Giáo Hoàng chứ không the pope cộc lốc cũng đã là một nét văn hóa dị biệt rồi. Đừng nói tới những biểu thức văn hóa đặc thù khác. Tất nhiên phải làm sao vừa duy trì được tính đặc thù văn hóa của giáo lý vừa giúp các em nắm được nội dung giáo lý của Giáo Hội Công Giáo. Phải làm sao giúp các em quen thuộc cả hai khía cạnh ấy. Phải tìm cho được phương thế nào đó thực hiện được hai mục tiêu trên.

Bộ “To Know, Worship and Love” (Biết, Thờ, Mến) hình như có thể trở thành một phương thế như thế. Đây không hẳn là một bộ giáo lý theo nghĩa cổ điển. Đúng ra, nó là bộ giảng dạy về giáo dục tôn giáo (religious education) tại các trường Công Giáo, một môn học chính thức trong học trình trung học. Nó được một ban chuyên môn hùng hậu gồm nhiều chuyên viên thượng thặng có học vị tiến sĩ hay tước vị giáo sư đại học soạn thảo, sau một diễn trình tham khảo trên dưới 200 thức giả toàn quốc. Thực ra, đó không hẳn là triết lý đứng đàng sau việc sử dụng bộ sách này cho bằng vì nó được giới chức Công Giáo soạn cho các trường Công Giáo để dạy về giáo dục tôn giáo. Nội dung giáo lý, dưới sự lãnh đạo của Đức Ông Elliott, nay là giám mục phó của Melbourne, và vốn là “bạn nối khố” của Đức Hồng Y George Pell, được đảm bảo đã đành mà các trẻ em Công Giáo Việt Nam, mà phần đông học tại các trường Công Giáo, cũng đã quá quen thuộc với nó. Hàng tuần các em được học ít ra cũng hai tiếng đồng hồ về môn này. Tới lớp giáo lý của Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam để nghe lại nội dung đó bằng tiếng Việt, hẳn các em sẽ đỡ “cứ ngớ mặt ra”. Đàng khác, sẵn tài liệu bằng tiếng Anh bên cạnh, các giáo lý viên, mà ngày nay, càng ngày càng có nhiều thanh thiếu niên tham gia hàng ngũ, sẽ có thể bước vào cùng một băng tần với các em nhiều hơn bằng cách sử dụng tiếng Anh để giải thích các từ khó hiểu. Miễn làm sao chuyển ngữ (vehicle language) vẫn là tiếng Việt.

Thế là một ban tu thư được cấp tốc thành lập và làm việc từ cuối năm 2005 để chuyển ngữ gần 2000 trang sách khổ A4, của Bộ “To Know, Worship and Love” (gồm 11 cuốn từ lớp mẫu giáo tới lớp 10), qua tiếng Việt. Khoảng giữa năm 2006, thì công việc trên tạm hòan tất.

Nhưng không thể sử dụng nguyên con bộ sách này, lý do: đây là các bài học dành cho một chương trình lên đến trên 100 giờ mỗi năm, trong khi đó, chương trình giáo lý ở đây chưa quá 20 tiếng đồng hồ một năm. Do đó, giai đoạn hai là căn cứ vào bộ sách này để soạn thành bộ “Chương Trình Giáo Lý Biết Thờ Mến”, sẵn sàng cho các giáo lý viên và các em thiếu nhi Việt Nam sử dụng làm sách giáo khoa. Một mạnh thường quân, chị Maria Mai Vân Cozens cùng chồng là Greg John, và dạ tiệc mừng Ngày Của Mẹ do Liên Đoàn Nữ Vương Hòa Bình của Thiếu Nhi Thánh Thể Sydney tổ chức đã hiến tặng một ngân khoản trên 25,000 Úc kim để in bộ sách kể như là thứ tư này. Và bộ sách đã được đưa vào sử dụng từ niên khóa 2007.

Vấn đề nhân sự

Song song với các cố gắng lớn lao về tài liệu trên đây, là quan tâm về nhân sự, trong đó, các giáo lý viên được kể vào hàng đầu. Kể từ 1992, hầu như năm nào cũng có một đại hội giáo lý nhằm nhiều mục tiêu, trong đó có việc huấn luyện và hâm nóng bầu khí nhiệt tâm của các giáo lý viên. Họ là những người âm thầm không những góp phần gìn giữ đức tin cho các thế hệ tương lai mà còn dựng cây cầu nối thế hệ các em với thế hệ cha anh và với nền văn hóa Công Giáo Việt Nam nói chung. Tiếc rằng, nhiều người vẫn chưa đánh giá đúng vai trò của họ.

Trong các chiến dịch vận động để có thêm các giáo lý viên có khả năng, có nhiệt huyết, càng ngày càng gần hơn với các em về tuổi đời, về tầm suy nghĩ, về ngôn ngữ tác phong, người ta vẫn nhận được những câu nói như: đợi đến tuổi (già) như ông, tôi sẽ tham gia giáo lý. Hình như đối với họ, giáo lý chỉ là việc của mấy ông trùm bà quản ngày xưa, tay lăm le chiếc quạt hay chiếc roi, miệng lải nhải những công thức đức tin đủ vần đủ điệu để ‘học trò’ lặp lại. Thái độ ấy vừa nói lên cái hiểu ngây ngô của một số người về cách sống đạo ngày nay vừa làm nản lòng hàng ngũ giáo lý viên hiện hữu.

Nói về vai trò giáo lý viên, tập Chỉ Dẫn Tổng Quát Về Giáo Lý của Bộ Giáo Sĩ, ban hành năm 1997, cho hay: không một phương pháp nào, dù chứng nghiệm là hay bao nhiêu đi chăng nữa, cũng không thể bỏ qua con người giáo lý viên, bất luận trong giai đoạn nào của diễn trình giáo lý. Đặc sủng mà Chúa Thánh Thần ban cho họ, tức nền linh đạo vững chắc và chứng tá trong sáng của cuộc sống, đã tạo nên linh hồn cho mọi phương pháp. Chỉ có các đức tính nhân bản và Kitô giáo của họ mới đảm bảo cho việc sử dụng đúng đắn các bản văn và dụng cụ giảng dạy khác. Giáo lý viên, trong yếu tính, là một người trung gian. Họ làm dễ sự thông đạt giữa con người và mầu nhiệm Thiên Chúa, giữa các chủ thể với nhau, cũng như với cộng đoàn. Chính vì thế, tầm nhìn văn hóa, điều kiện xã hội và lối sống của họ không được làm trở ngại cho hành trình đức tin. Đúng hơn, chúng phải giúp tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho việc tìm kiếm, chào đón và thâm hậu hóa sứ điệp Kitô giáo. Họ không quên điều này: tin là hoa trái của tự do và ơn thánh. Do đó, họ phải làm sao để các hoạt động của họ luôn được niềm tin vào Chúa Thánh Thần và lời cầu nguyện nâng đỡ (số 156).

Trên thực tế, họ cần cả sự khích lệ của cộng đoàn nữa. Những nhận xét trên kia không thuộc loại khích lệ này. Những hình ảnh cũ xưa của ông trùm bà quản cần phải được dứt khoát tẩy trừ khỏi não trạng Công Giáo Việt hiện nay, nếu ta muốn chuẩn bị hành trang tạm đủ cho các thế hệ đến sau. Xin nhấn mạnh ở đây: não trạng trên đang làm hàng ngũ các giáo lý viên hiện nay mỗi ngày một thưa thớt hơn. Khác với các giáo lý viên của các giáo phận Úc hay Mỹ, các giáo lý viên của Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Sydney này không hề nhận được một đồng xu teng của bất cứ ai. Một ngạc nhiên hết sức khi đọc trên các trang mạng giáo lý của Úc hay của Mỹ, thấy các giáo lý viên nhận được một “stipend” nho nhỏ. Stipend là một lối mô tả khác của tiền lương thường dành cho các giáo sĩ. Các giáo lý viên Việt Nam chưa bao giờ nhận được loại “stipend” đó và họ cũng chưa bao giờ chờ mong nó khi dấn thân vào dạy giáo lý. Ngoài ra, họ còn sẵn sàng chịu nhiều phí tổn, ngoài phí tổn săng dầu xe cộ, miễn sao chu toàn được ơn gọi của mình. Thậm chí đến việc đi dự các đại hội huấn luyện giáo lý viên, họ cũng được yêu cầu đóng lệ phí ăn uống, tổ chức. Không một lời ta thán.

Nhưng con người ai cũng cần được khích lệ, được nhìn nhận, được ước muốn. Đó chính là lý do đứng đàng sau vòng giới thiệu các giáo lý viên với các giáo đoàn Công Giáo Việt Nam tại Sydney bắt đầu từ cuối tháng Hai vừa qua trong một nghi thức gọi là Nghi Thức Sai Đi. Bắt đầu với giáo đoàn Bankstown ngày 22/2, giáo đoàn Mt Pritchard và giáo đoàn Lakemba ngày 1/3, giáo đoàn Plumpton, giáo đoàn Cabramatta và giáo đoàn Granville ngày 8/3, và cuối cùng sẽ là hai giáo đoàn Miller và Marrickville vào cuối tuần tới. Nghi thức này hết sức đơn giản. Cha Phaolô Chu Văn Chi chủ toạ tất cả các nghi thức này với sự chứng kiến của sơ trợ úy, đại diện ban Truyền Giáo, ban quản trị Liên Đoàn, ông trưởng ban mục vụ giáo đoàn và toàn thể cộng đoàn giáo dân. Trước khi nghi thức bắt đầu, Cha Phaolô nói đôi lời về vai trò giáo lý viên và người điều hợp họ. Sau đó, người điều hợp thỉnh mời các giáo lý viên và ban quản trị xứ đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể tiến lên phía Bàn Thờ. Cha chủ tế mời cộng đoan cùng đứng lên để tuyên xưng đức tin với các giáo lý viên và ban quản trị xứ đoàn. Sau đó, đến nghi thức tuyên hứa và sai đi, trong đó có “quyết tâm sống điều mình dạy, tin điều mình nói, yêu điều mình chia sẻ, làm điều mình giảng dạy”. Sau lời tuyên hứa ấy là nghi thức trao thẻ nhận diện (ID) cho các giáo lý viên và còi chỉ huy cho các huynh trưởng thiếu nhi. Và nghi thức kết thúc bằng bài hát Lời Nguyện Truyền Giáo và toàn thể các giáo lý viên và huynh trưởng cúi chào cộng đoàn như dấu chỉ ra mắt và xin được khích lệ, cộng tác.

Người viết được hân hạnh tham dự tất cả các nghi thức trên, dù xa xôi và dù xa lạ cách mấy, đến không biết địa điểm của những máy ảnh chụp tốc độ, để mà dè chừng, khiến phải lãnh giấy phạt 81 Úc kim vì chạy xe với tốc độ 71 km/h ở chỗ chỉ cho chạy 60km/h trên Elizabet Drive, vì phải vội chạy từ Mt Pritchard để kịp về dự nghi thức sau đó ở Lakemba. Nhưng không nghi thức nào cảm kích bằng nghi thức tuần rồi ở giáo đoàn Cabramatta. Cũng là nghi thức như tại các giáo đoàn khác. Nhưng hết sức ngạc nhiên khi nghe xướng danh vị giáo lý viên phụ trách lớp nghĩa sĩ và càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy vị giáo lý viên đó xuất hiện đứng cạnh các giáo lý viên khác để cùng tuyên hứa và được sai đi và sau đó trở lại nhà xứ Cabramatta. Vâng, vị giáo lý viên ấy chính là cha phó nhà thờ Thánh Tâm (Sacred Heart), được dùng làm địa điểm cho nghi thức sai đi hôm nay. Cha Dương Thanh Liêm là một linh mục rất trẻ, mới thụ phong linh mục tháng 8 năm 2006, trước đây là cha phó Nhà Thờ Chánh Tòa St Mary kiêm tuyên úy bán thời gian tại Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Sydney. Mới đây, cha được đề cử làm cha phó của giáo xứ Thánh Tâm này. Đây là một giáo xứ Úc khá lớn, dưới sự chăm sóc của một cha sở cao niên, cho nên trách nhiệm của cha Liêm khá nặng nề. Ấy thế mà cha vẫn dành thì giờ dạy giáo lý cho các thanh thiếu niên Việt Nam, vốn không hẳn là lãnh vực trách nhiệm của cha. Đó là một nét đặc biệt. Nhiều người cho rằng vì cha có ân tình với Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam tại Sydney, nơi cách nay khoảng 10 năm, cha vốn là một trong các huynh trưởng. Cho là như thế. Nhưng sự kiện ngài tự xếp mình vào hàng ngũ giáo lý viên để cùng tuyên hứa với họ và cùng ra mắt cộng đoàn với họ thì khó mà giải thích ngoại trừ nhận đó là một khích lệ vô cùng qúy giá đối với các anh chị em giáo lý viên Sydney, những người đang rất cần những khích lệ và hợp tác qúy giá như vậy. Nếu giáo lý viên là người trung gian, thì giáo lý viên linh mục hẳn phải là một siêu trung gian làm nở rộ cả một mùa xuân giáo lý cho Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Sydney này.