Một thoáng Nghi Lộc

1. Theo sử sách, hạt giống Tin Mừng được gieo vào mảnh đất Nghi Lộc vào khoảng năm 1780. Mãi đến năm 1860, dưới thời Đức cha Ngô Gia Hậu (Gauthier, 1810-1877), họ đạo Nghi Lộc mới được thiết lập, thuộc xứ mẹ Hội Yên. Tên gọi "Nghi Lộc" bắt nguồn từ câu danh Nho:

Khánh vô bất nghi
Thọ thiên bách lộc


(Thụ hưởng muôn ơn Trời, vui mừng vì làm việc gì cũng thành công mĩ mãn)

Năm 1881, giáo họ được chuyển nhập vào giáo xứ Đông Thành (Phi Lộc ngày nay). Ngày 10.7.1929, giáo xứ Nghi Lộc được chính thức thành lập, với khoảng 800 nhân danh. Vị linh mục tiên khởi cai quản giáo xứ là cha Phêrô Nguyễn Đình (1929-1933). Kế tiếp là các cha: Giuse Nguyễn Đôn (1933-1939), Phêrô Bùi Nhật Nghiệm (1939-1952 và 1954-1960), Phêrô Vinh (1952-1954), Gioan Bùi Trọng Đề (1960-1973), Phêrô Hà Ngọc Cai (1973-1981), Giuse Nguyễn Đức Bảo (1982-1985), Phaolô Nguyễn Minh Trí (1985-1990), Phaolô Cao Đình Thuyên (1990-1991, nay là Giám mục đương kim giáo phận Vinh), Phêrô Nguyễn Sĩ Nho (1991-1995), Gioan Baotixita Nguyễn Xuân Huyền (1995-1999), Giuse Nguyễn Đình Linh (1999, kiêm nhiệm).

2. Nghi Lộc có một lịch sử lâu dài và bi hùng. Nổi bật là biến cố Thiêu sát năm Giáp Tuất 1874 và sự kiện Di cư năm 1955 - những mốc thời gian khó phai trong lòng mỗi người dân Nghi Lộc. Vào thời Văn Thân (bắt đầu từ năm 1864, kết thúc năm 1886), lúc bấy giờ Nghi Lộc là một xóm đạo nhỏ bé, chìm khuất giữa các làng ngoại đạo của huyện Đông Thành (nay là huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Ngày 6.3.1874, hơn 4000 quân Văn Thân với gươm đao, súng ống bắt đầu bao vây tấn công Nghi Lộc. Gần 200 người dân trong làng đã anh dũng chống lại và đẩy lùi được bọn Văn Thân. Nhưng nhận thấy thế cô, sợ khó thắng nổi khi chúng trở lại phục thù, nên một số bà con đã phải chạy nạn ra Thuận Nghĩa, Quỳnh Lưu. Qủa nhiên, sáng ngày 8.3.1874, Văn Thân trở lại tàn sát những người không kịp lánh nạn. Hậu quả là 77 người bị giết (kể cả 30 người bị giết trên đường chạy nạn), toàn làng bị đốt phá bình địa. Biến cố này đã được cố quản Phạm Đường ghi lại đầy đủ trong bản “DÂN KHỔ KHIẾU” gửi Đức cha Ngô Gia Hậu, Giám mục tiên khởi giáo phận Nam Đàng Ngoài - tức giáo phận Vinh ngày nay.

3. Sau Hiệp định Genève 21.7.1954, trước những biến động của thời cuộc và những lý do khác nhau, cùng với làn sóng di cư ồ ạt vào Nam, rất nhiều bà con trong giáo xứ Nghi Lộc đã rời bỏ quê hương vào miền Nam lập nghiệp. Theo một danh sách đầy đủ, chi tiết, số giáo dân di cư là 169 gia đình, với 751 nhân khẩu, chiếm hơn 2/3 tổng giáo dân toàn xứ. Số người còn lại chỉ vỏn vẹn khoảng 300. Phần lớn những người di cư tập trung về Trại Định cư Bình Giã, được thành lập vào tháng 10 năm 1955, thuộc địa phận huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngày nay, Bình Giã gồm 3 làng, với 3 giáo xứ: giáo xứ Vinh Hà, giáo xứ Vinh Châu, giáo xứ Vinh Trung. Trong đó, giáo xứ Vinh Châu là trung tâm, với 5801 giáo dân (năm 2004), mà Nghi Lộc là họ trị sở. Vì thế, khi nói đến giáo xứ Nghi Lộc, nhiều người vẫn gọi chung là giáo xứ Nghi Lộc – Vinh Châu cho thân tình, trìu mến.

4. Vốn giỏi kinh doanh, người dân Nghi Lộc ở trong Nam cũng như ngoài Bắc luôn đi đây đi đó buôn bán, làm ăn. Cho nên, hiện nay, con cái Nghi Lộc đã sống rải rác khắp bốn phương. Trong nước thì có mặt ở Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Thuận, Ban Mê Thuột, TP. Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Phan Rang..; ngoài nước thì đặt chân đến Hoa Kỳ, Australia, Canada, Italia, Bỉ, Đức, Anh, Nga, …Trong đó, những cộng đoàn Nghi Lộc hải ngoại đông đảo nhất vẫn là ở Hoa Kỳ. Cũng nên thêm rằng, “phong trào di cư” này xem ra vẫn chưa dừng lại ở đó. Tuy xa cố hương, nhưng nhiều người con Nghi Lộc ở các nơi rất tích cực đóng góp phần mình xây dựng xứ sở quê mẹ.

5. Nhà thờ giáo xứ Nghi Lộc tuy không to lớn, bề thế, nhưng là một công trình kiến trúc vào loại cổ và đẹp hiếm có ở giáo phận Vinh hiện nay. Ước mong về một ngôi thánh đường được thai nghén từ thời cha già Phêrô Nguyễn Đình (1929-1933), và được chuẩn bị nguyên vật liệu từ thời cha Giuse Nguyễn Đôn (1933-1939). Tuy nhiên, phải đến đầu năm 1943, công trình mới được chính thức khởi công, với sự lao động tích cực của hết thảy bà con trong xứ, dưới sự thiết kế và điều khiển của linh mục, kiến trúc sư tài ba Phêrô Bùi Nhật Nghiệm. Chỉ trong một thời gian ngắn, công trình đã nhanh chóng được hoàn thành vào tháng 10 cùng năm, mà hầu hết chi phí đều do giáo dân đóng góp. Thánh đường dài 37m, rộng 13m, tháp chuông cao 25m, được xây dựng theo kiến trúc Roman Tây phương, nhưng vòm và cửa sổ có những phá cách rất độc đáo, mỹ thuật. Đến cả kiến trúc sư nổi tiếng người Liên Xô trước đây là ông Alêxây Brucôp, trong một lần công tác ở Việt Nam năm 1970, cũng phải tìm đến chiêm ngưỡng, chụp hình lưu niệm, và phát biểu: “Công trình này phải là một kiến trúc sư cừ khôi mới thiết kế được!”. Đến nay, tuy đã gần bước vào tuổi “trung thọ” rồi nhưng ngôi nhà thờ vẫn hiên ngang, sừng sững với thời gian.

Do nhu cầu và mục đích phụng vụ, từ tháng 12.2008 giáo xứ Nghi Lộc đã khởi công dự án mở rộng cung thánh, hai cánh gà và xây đôm cho nhà thờ. Hy vọng với một dáng vẻ mới khi hoàn thành, công trình sẽ không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của các tín hữu, mà còn lưu giữ được những nét kiến trúc xinh xắn ban đầu.

6. Cha ông ta xưa đã từng nói: “địa linh nhân kiệt”. Mảnh đất “địa linh” Nghi Lộc quả đã sinh ra và cống hiến cho Giáo hội không ít “nhân kiệt” là các linh mục, tu sĩ. Theo thống kê, đến nay đã có khoảng 30 linh mục gốc Nghi Lộc, gốc Nghi Lộc cha mẹ di cư, quê nội ngoại ở Nghi Lộc, hay mới gia nhập, đó là các linh mục: JB. Ngô Ngân, FX. Nguyễn Phước, Gregorio Vũ Duy Khiêm, JB. Lê Xuân Hoa (Đức ông, Tổng Đại diện giáo phận Phan Thiết), Pet. Vũ Văn Giáo, FX. Nguyễn Sơn Miên, FX. Lê Quang Diễn, FX. Đinh Tiên Đường, JB. Đinh Tiến Hướng, Paul Đinh Huỳnh Hoa, FX. Nguyễn Xuyên, JB. Đinh Thanh Sơn, Paul Lê Quang Luân, FX. Nguyễn Thanh Đương, Anton Nguyễn Đình Thăng, FX. Đinh Huỳnh Phùng, JB. Phan Kế Sự, Gioan Vũ Minh Nghiệm, Jos. Đinh Vĩ Đại, Pet. Đinh Đình Chiến, Paul Nguyễn Đức Châu, JB. Nguyễn Đức Tuân, Phêrô Tự Nguyễn Tín, FX. Đinh Văn Quỳnh, Anton Đinh Bá Cẩn, Anton Nguyễn Qúy Hải, Jos. Nguyễn Văn Hiệu, Pet. Nguyễn Đình Dung, Paul Vũ Xuân Quế, FX. Đặng Hùng Tân, FX. Nguyễn Thanh Huy…; nhiều tu sĩ nam nữ trong và ngoài giáo phận cũng như ở hải ngoại. Ngoài ra hiện có hai thầy đang theo học ở Đại chủng viện Vinh Thanh, một thầy tu sinh.

7. Ngày nay, tuy là một giáo xứ trung bình về dân số, với khoảng 2500 giáo dân, nhưng Nghi Lộc lại rất vang xa về danh tiếng. Cách thị trấn Diễn Châu 4km về phía tây, sau khi đi qua những cách đồng lúa, ngô, cây cảnh xanh mướt, trù phú, rẽ trái vào làng Nghi, du khách sẽ dễ dàng nhận ra sự khởi sắc nơi giáo xứ Nghi Lộc thân yêu. Nhà cửa xây dựng khang trang, hàng quán mọc lên san sát, xe cộ đi lại tấp nập, nam thanh ăn mặc lịch sự, nữ tú nói năng ngọt ngào: tất cả cho thấy sự giàu có, hiện đại, năng động nơi giáo xứ vùng quê này. Phong trào học tập văn hóa, giáo lý, thi đua văn nghệ – thể thao trong giáo xứ rất được quan tâm, đẩy mạnh. Vào các dịp lễ trọng, đặc biệt là lễ Giáng Sinh hàng năm, Nghi Lộc vẫn được xem là một điểm đến của nhiều du khách. Bà con giáo dân cũng như các ân nhân không tiếc hầu bao, bỏ ra hàng trăm triệu đồng để trang hoàng nhà thờ, nhà xứ, khuôn viên, hang đá, lễ đài Đức Mẹ, ao cá, trường Thiên Khải Đường; hoặc “chịu chơi” hơn, mời luôn cả những dàn nhạc sống, những đoàn diễn viên, ca sĩ về biểu diễn: rất hoành tráng và ấn tượng. Câu cửa miệng “nhất Thiên đàng, nhì làng Nghi” ra đời cũng một phần xuất phát từ đó.

8. Cách đây gần 10 năm, cha Phaolô Cao Đình Thuyên (khi ấy còn là Tổng Đại diện kiêm Quản lý Nhà chung) được cử phụ trách giáo xứ Nghi Lộc trong vòng một năm. Chúa nhật hàng tuần ngài đều vượt hơn 30 km từ Tòa Giám mục Xã Đoài đến dâng lễ cho bà con. Hôm nay, Chúa nhật IV Mùa Chay năm 2009, về lại Nghi Lộc trong cương vị Giám mục giáo phận vào dịp Tuần Chầu lượt của giáo xứ, Đức cha Phaolô Maria không khỏi bồi hồi, xúc động khi được ngắm lại những hình ảnh thân thương ngày nào; đồng thời ngài cũng hết sức vui mừng, phấn khởi về sự đổi thay không ngừng của “chốn xưa”. Ngỏ lời với cộng đoàn trong thánh lễ, Đức cha đã đi sâu phân tích những ý nghĩa sâu xa trong 7 lời trăng trối cuối cùng của Chúa Giêsu lúc hấp hối trên thánh giá, đó là: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34), “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng” (Lc 23, 43), “Thưa Bà, đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh” (Ga 19, 26-27), “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mt 27, 46), “Tôi khát” (Ga 19, 28), “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19, 30), “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46). Đặc biệt, với lời thứ 5 của Chúa Giêsu: “Tôi khát” (Ga 19, 28), Đức cha đã “mạc khải” rằng: cái “khát” của Chúa Giêsu không đơn thuần chỉ là cơn khát vật chất như chúng ta khát nước, nhưng là cái “khát” tình yêu nhân loại, khát linh hồn chúng sinh. Vì thế, Ngài thêm rằng: “Không chỉ con người chẳng thể sống thiếu tình yêu của Thiên Chúa, mà ngay cả Thiên Chúa cũng rất “cần” đến tình yêu của con người. Bởi vậy, anh chị em hãy hết lòng yêu mến Chúa, ăn năn quay trở về với Ngài, nhất là trong Mùa Chay thánh này, vì Ngài là hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của chúng ta. Có như thế thì chúng ta mới công bằng với Ngài…”.

Tạm biệt Nghi Lộc, vị Chủ chăn giáo phận không quên căn dặn và mong muốn con cái trong giáo xứ ổn định cuộc sống, đoàn kết, đồng lòng góp phần xây dựng Nghi Lộc ngày càng thăng tiến hơn nữa.