Nhận được giấy mời về dự lễ kỷ niệm 51 năm linh mục và 28 năm Giám mục của Đức cha F.x Nguyễn Văn sang, chúng tôi mau chóng thu xếp công việc để được trở lại Thái Bình. Dĩ nhiên, đây không phải lần đầu tôi ghé thăm Toà giám mục. Từ khi Đức cha F.X Nguyễn Văn Sang được Toà thánh bổ nhiệm về làm Giám mục chính toà Thái Bình (3-12-1990), hầu như năm nào tôi cũng về thăm Thái Bình. Mỗi lần về đây, tôi lại nhận ra những điều mới lạ để thêm yêu và kính trọng giáo phận cũng như vị chủ chăn của giáo phận này.

Trước đây, tôi cứ đinh ninh rằng chỉ có người dân Bùi Chu quê tôi mới có lòng sùng đạo “nhất nhì quả đất”. Thời còn bao cấp, ngăn chặn thế nào, cấm đoán thế nào họ cũng nghĩ ra muôn ngàn cách để vượt qua những trạm kiểm soát về dự lễ “Đầu Dòng” ở Bùi Chu hay lễ Đức Mẹ vô nhiễm ở Phú Nhai. Chỉ cần một người nằm trong cáng đi viện là đã có thể có 4-5 người đi lễ ngon lành. Nhưng hoá ra lòng sùng đạo của giáo dân Thái Bình cũng không kém chút nào. Hôm 20-2-2009 vừa qua, khi cùng phái đoàn Toà thánh về thăm giáo phận, chứng kiến cảnh vài chục ngàn giáo dân đội mưa, đứng yên lặng trong gió lạnh để tham dự thánh lễ tại Đền thánh Đông Phú, Đức ông Pietro Parolin- Thứ trưởng ngoại giáo Vatican và là Trưởng phái đoàn của Toà thánh đã cảm động nói rằng: xin Đức Thánh Cha đến thăm Việt Nam, đến thăm Thái Bình vì những điều phái đoàn báo cáo không thể nói hết lòng sốt mến của giáo dân nơi đây.

Giáo dân Thái Bình mộ mến quá và cũng yêu mến vị chủ chăn của giáo phận quá nên lễ nào cũng đông đúc không có chỗ chen chân. Tôi nhớ lễ cung hiến nhà thờ chính toà hồi tháng 10-2007. Nhiều người đã chen chúc từ khắp nơi về để giữ chỗ ngay từ chiều hôm trước và khu vực Toà Giám mục rộng như thế mà không thể chen chân. Tôi được Đức cha bố trí phòng nghỉ và còn cấp cho một thẻ “Nhà báo, có quyền đi lại đặc biệt” nhưng cũng đành ngủ lại trên ghế nhà thờ cùng với những khách hành hương qua đêm. Thái Bình có lẽ cũng là nơi duy nhất có những đội kèn đồng mà các nhạc công toàn là nữ. Phải yêu mến giáo hội lắm những phụ nữ này mới vượt được e thẹn cũng như nỗ lực để làm công việc mà xưa nay chỉ giành cho nam giới.

Ngôi nhà thờ chính toà Thái Bình to đẹp nhất nhì Việt Nam này chắc chắn kinh phí không nhỏ. Tiền ở đâu ra? Tôi đã không ít lần phản bác lại ý kiến của một số người nói rằng Vatican cho tiền các Giám mục để lôi kéo dân chúng! Xin thưa, tiền của giáo dân tất. Dĩ nhiên giáo dân phải hiểu rộng hơn vì giáo hội là hoàn vũ nên người hảo tâm không chỉ là những ai hiện đang sống ở Thái Bình mà khắp thế giới. Trong bảng đá ghi công ở cuối nhà thờ thấy ân nhân ở mọi châu lục. Song cũng còn nhiều ân nhân chưa kịp khắc tên hoặc không muốn kể tên. Đức cha Thái Bình có kể cho tôi một gia đình buôn bán ở ngay thành phố Thái Bình khi nhà thờ đã khánh thành, ông mới vào xin gặp và muốn đóng góp tý chút vào công trình vì thấy Đức cha “làm được”. Và số tiền “tý chút” đó cũng vượt con số hàng tỷ. Sản phẩm của tấm lòng đó, hôm nay đã thấy hiện diện một pho tượng đá trắng “Trái tim Chúa Giê su”, cao tới 3m ở phía cuối cổng nhà thờ vẫn còn đang bọc trong túi nilon, chắc vừa vận chuyển từ xa mới về.

Nói đến giáo phận Thái Bình không thể không nhắc đến Đức cha F.x Nguyễn Văn Sang. Trong các dịp lễ kỷ niệm của giáo phận cũng như chính trứơc khi vào dâng lễ ngày 22-4-2009 vừa qua, linh mục Tổng đại diện giáo phận Đa minh Đặng Văn Cầu đã thay mặt gia đình giáo phận nói lên tấm lòng tri ân của cộng đoàn với vị chủ chăn nhưng vẫn chưa đủ và có lẽ chẳng bao giờ đủ vì Ngài không muốn kể ra. Trong những ngày chạy tìm kinh phí để xây nhà thờ, có lúc Ngài đã tính phải bán đi cả cơ sở mà các cha, các xơ vẫn dùng làm chỗ tạm trú ở Hà Nội. Bôn ba hải ngoại, ngửa mũ Giám mục đứng cuối nhà thờ xin từng đồng tiền lẻ. Bán sách. Xin ý lễ…Tất cả gom góp để xây nhà thờ.

Tôi cũng đã vào phòng ở của Ngài mấy lần và rất ngạc nhiên, chỗ ở của vị chủ chăn có ngôi nhà thờ lớn nhất nhì Việt Nam vẫn tuyềnh toàng, đơn sơ như hồi mới về. Chỉ có sách là nhiều thêm. Tôi cũng đã vài lần được dùng bữa cùng mâm với ngài: cũng đơn sơ, đạm bạc vì ngài phải ăn kiêng. Nhớ hôm tổ chức hội thảo ở Huế năm 2004, ngài bảo tôi: thôi tiết kiệm đi ô tô từ Hà Nội. Vậy là mấy Giáo sư, mấy linh mục tham gia hội thảo đều đi ô tô vượt 700km từ Thủ đô vào Huế. Nhưng bù lại, chúng tôi được ghé thăm động Phong Nha và cùng tham dự một thánh lễ sốt sắng ở nhà thờ Hà Lời, một họ lẻ nằm ngay giữa kỳ quan di sản thế giới và mừng kỷ niệm 46 năm thụ phong linh mục của ngài ở ngay bến phà Xuân Sơn lịch sử. Tiết kiệm là thế nhưng lúc cần, ngài cũng hào phóng lắm. Để hỗ trợ cho phiên “Chợ quê” của Tổng giáo phận Huế năm 2004, đón vài ngàn thực khách, ngài cũng rút hầu bao ủng hộ cả trăm triệu đồng. Dịp hội thảo ở Huế năm 2000, chúng tôi đã mua vé máy bay khứ hồi cho các Giáo sư có tham luận nhưng Ban thư ký lại thanh toán lần nữa cùng tiền nhuận bút. Biết chuyện, chúng tôi định hồi lại, nhưng ngài bảo thôi. Các Giáo sư ngoài đời, họ đến tham gia với mình để giao lưu với mình đã là quý lắm rồi nên chút tiền coi như biếu họ mua quà cho gia đình. Ngài ân cần giao lưu với các nhà nghiên cứu trong đạo ngoài đời nên ngài cũng là người tổ chức thành công những buổi gặp gỡ giữa các nhà nghiên cứu đạo đời với nhau. Khi chuẩn bị hội thảo, cũng có những ý kiến không đồng tình: Cần gì phaỉ mời các nhà nghiên cứu bên ngoài? Trong đạo cũng nhiều người giỏi, thông thạo chuyên môn…Nhưng ngài vẫn quyết tâm mở ra những cơ hội để gặp gỡ, đối thoại trong giới nghiên cứu. Và bây giờ các cơ quan nghiên cứu như Viện Triết học, Viện nghiên cứu tôn giáo, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng hoạt động theo xu hướng này.

Có cuốn sách gì mới, ngài lại nhờ tôi gửi biếu các GS.TS quen biết ở Hà Nội. Mà sách của ngài in ra không ít. Công khai, nội bộ đều có. Tôi cũng đã có hẳn một giá sách của ngài lên tới hàng trăm cuốn. Không dịp lễ trọng thể nào ngài quên mời các nhà nghiên cứu. Chính tình cảm chân thành này đã làm cho rất nhiều GS, nhà báo, nhà văn ở Hà Nội yêu mến ngài.

Ngài tuổi cao, chân đi khó nhọc, tai nghe phải dùng máy trợ thính nhưng đầu óc còn tỉnh táo minh mẫn lắm. Đến viếng Thái Hà, Toà Khâm sứ, ngài cũng mở đầu. Gây quỹ ủng hộ Thái Hà, ngài cũng nêu ý tưởng đầu tiên. Bây giờ đi viếng Năm thánh Thái Hà với tư cách dẫn đầu một giáo phận vào 2-5-2009, ngài cũng tiên phong. Ngài viết nhanh, viết khoẻ và bộc trực thẳng thắn cũng làm nhà chức trách lo ngại. Có lẽ thế mà Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng – Thứ trưởng Bộ công an đã đôi lần phải thân chinh về tận Thái Bình “thăm” ngài. Cuối năm 2007, tôi nghe ngài gọi điện thoại bảo, không hiểu tại sao thấy công an các loại tràn ngập quanh khu toà giám mục. Tôi dò hỏi bạn bè quen biết thì ra nhà chức trách lo ngại về tin đồn Giám mục Sang huy động 100 ngàn người đến cầu nguyện đòi đất! Họ lo ngại cũng có cơ sở vì chuyện Thái Hà, Toà Khâm sứ mà ngài còn hăng hái như vậy thì ở Thái Bình phải biết. Nhưng thực ra là ngài mời gọi giáo dân đến để dự khai mạc Năm thánh Hồng đào 2008 mà thôi. Còn xin lại đất, Ngài có cách khác cũng hữu hiệu không kém.

Cũng có người không thích các cuộc gặp gỡ của ngài với nhà chức trách vì coi đó là công việc của các “Giám mục đỏ”. Một bạn đọc ở Hoa Kỳ đã viết trên Vietcatholic rằng: nếu giám mục đỏ mà được như Đức cha Thái Bình thì cũng nên có nhiều Giám mục đỏ. Tôi cũng đã chứng kiến những cuộc gặp gỡ của ngài ở Ban tôn giáo Chính phủ, ở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam những dịp tết cổ truyền. Sau những lời thăm chúc xã giao là ngài kiến nghị việc nọ việc kia. Nào là tại sao chỉ cho các linh mục “chui” ở các giáo phận khác đi học hợp thức ở Sao Biển, vậy Thái Bình không phong “chui’ thì chịu thiệt sao? Tại sao Nhà nước vẫn tự hào tổ chức được các hội nghị quốc tế lớn ở Việt Nam an toàn mà không dám cho phía giáo hội thuê sân vận động Mỹ Đình để đón Đức Hồng y Sepe hay tổ chức gặp gỡ giới trẻ?... Chắc chắn Đại chủng viện Thánh Tâm được mở ra ở Thái Bình cho hơn 30 thày cao tuổi theo đuổi con đường tu trì, dòng Đaminh nữ được tái lập, nhiều dòng tu mới đang tìm Thái Bình làm nơi “ đất lành”…là có sự tác động của những cuộc đối thoại thẳng thắn đó.

Ngài không bao giờ lợi dụng hay bị cuốn vào danh vọng của quyền thế. Khi ông Thứ trưởng Bộ công an về Thái Bình có đưa cho ngài số điện thoại riêng với con số rất đẹp và nói rằng nếu xe đi trên đường có bị cảnh sát hỏi han thì cứ gọi. Anh lái xe của ngài biết chuyện này nên hôm đi Lạng Sơn cứ “mát tay ga”, bị bắn tốc độ. Cảnh sát giao thông chặn lại, anh tài xế xin ngài gọi điện cầu cứu vì có thể bị phạt nặng. Ngài xuống xe bảo người cảnh sát giao thông: nếu lái xe vi phạm luật xin cứ phạt. Vậy là tài xế buồn rầu móc túi triệu đồng nộp. Mấy lần các vị cán bộ cao cấp cứ khẩn khoản xin ngài tham gia Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngài đều chối khéo, tôi là vị Giám mục nhà quê, lại hay ốm yếu, tai điếc. Đến họp Hội đồng Giám mục có khi còn cáo ốm không đi. Nay vào đấy, mình nói người ta nghe, người ta nói mình điếc lại sinh chuyện. Thôi xin để các vị mạnh khoẻ, thông thái.

Ngài cũng ao ước Thái Bình sớm có Giám mục kế vị để được nghỉ ngơi viết sách hay về phục vụ những anh chị em bệnh nhân ở trại phong Vân Môn – những người mà ngài cho nhiều tình cảm quý mến. Ngài đã từng cõng bệnh nhân phong lên lễ đài, rửa chân cho họ trong tuần Thánh và bón cả cơm cho họ nữa. Mấy năm nay, cứ vào dịp đầu xuân cả giáo phận tập hợp về đây cùng ngài chia vui với các bệnh nhân. ở Việt Nam mới có Đức cha J. Cassaigne chọn trại phong Di Linh làm nơi an nghỉ cuối đời từ năm 1955 cho đến khi chết (31-10-1973). Còn các Giám mục người Việt chưa có ai theo được gương đó.

Dù thế nào, chúng tôi cũng hợp ý cùng ngài trong bài giảng hôm 22-4-2009: Xin tạ ơn Chúa hết thảy. Vì tất cả đều là hồng ân Thiên Chúa ban cho.

Thái Bình - Hà Nội, tháng 4 năm 2009