Sài Gòn:
Kính thưa Quý Vị thưa các bạn,
Trong những thời gian qua, Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, ofm đã gói trọn tâm tư cống hiến nhiều bài viết trên Vietcatholic. Từ nguồn Vietcatholic, trong tờ báo Dân Chúa Úc Châu số tháng 6 này cũng đã đăng một loạt trọn 3 bài của Cha.
Nhiều người không khỏi thắc mắc Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh là ai, thật ít ai biết tới và Cha cũng không muốn ai biết tới. Nhưng xin cống hiến một giải đáp ngắn gọn và dễ nhớ, nếu mai này theo ý Chúa muốn thì gia sản rất quý báu mà Cha để lại cho Giáo Hội Việt Nam, người giáo dân Việt Nam nào cũng cần tới đó là cuốn Kinh Thánh. Khi cầm đến cuốn Kinh Thánh thì hãy nhớ tới Cha, âu cũng là đủ. Đến nay đã đúng 38 năm, hơn nửa đời nguời, Cha đã cống hiến trọn thời gian dành công việc cho Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ để xuất bản cuốn Kinh Thánh được xuất bản theo nhiều thể loại, sách Các Giờ Kinh Phục Vụ các sách Bài Đọc trong Thánh Lễ.... .
Hôm nay nhân ngày sinh nhật của Cha, rất tiếc là khó đoán được ngày nào vì Cha Nguyễn Ngọc Tỉnh có 3 ngày sinh, thật vậy khi vào Chủng Viện Phanxicô vào năm 1948, thì phải có giấy khai sinh, vì giấy khai sinh đã thất lạc nên lấy giấy rửa tội ghi ngày 11/6 và lấy ngày đó là ngày khai sinh; khi lớn lên hỏi Bà Cố thì Mẹ bảo sinh ngaỳ 20 tháng 4 âm lịch, tức là ngày 9/6, sau đó 2 ngày thì rửa tội kể là đúng; khi di cư vào Nga Trang làm lại giấy tờ, tất cả đều được trẻ lại 2 tuổi tức là sanh năm 1938 nhưng cô thư ký lại đánh sai thành 16/6/1938. Hậu quả bây giờ theo giấy ngày sinh thật là ngày 9/6/1936, giấy tờ trong nhà Dòng ghi ngày 11/6/1936, còn giấy tờ ngoài đời là ngày 16/6/1938.
Nhân dịp này nhiều người đã hỏi Cha về cảm nghiệm và ngày 5/6/2009, từ Học Viện Phanxicô Thủ Đức, Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh đã viết lại cảm nghiệm nhân dịp năm nay 2009 cũng là đúng 50 năm khấn dòng của Cha.
Sau đây là toàn văn bài viết của Cha:
1959 – 2009
Khác nào một trống canh thôi
Tôi vào Chủng viện Phan-xi-cô Vinh sau lễ Phục Sinh 1948. Lớp chúng tôi có 24 người, hiện chỉ còn có 2: anh An-rê Phương và tôi. Mùa hè 1958, đúng 10 năm sau, vừa xong tú tài I theo chương trình Pháp tại Chủng viện Phan-xi-cô Nha Trang, đang nghỉ hè với gia đình tại trại định cư Vinh Phú, Phan Thiết, thì tôi nhận được giấy cha Phụ Tỉnh Pacifique Nguyễn Bình An bảo làm đơn xin vào Nhà Tập. Tôi còn nhớ lá thư bắt đầu với câu thánh vịnh 15 bằng tiếng La-tinh “Dominus pars haereditatis meae…” “Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng…”. Lễ Đức Mẹ Lên Trời năm đó 15-08-1958, 8 anh em lớp tôi vào nhà tập tại Tiểu Cần, Trà Vinh. Đến 16-08-1959, còn 6 người khấn tạm, nay còn lại một mình tôi, như thế tôi thuộc loài thú “quý” thì không dám nói, nhưng hiển nhiên là “hiếm”. Đến 16-08 tới là tròn 50 năm kể từ ngày khấn lần đầu. Đối với một anh em học viện, 50 năm là một quãng thời gian dài, nhưng với những anh em đã qua tuổi “thất thập cổ lai hy” như tôi thì cảm thấy vô cùng thấm thía khi đọc những câu thánh vịnh như:
“Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục,
Mạnh giỏi chăng là được tám mươi…”
(Tv 78,10)
hay “Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở,
Thấp thoáng trên đường tựa bóng câu”.
(Tv 38,6-7)
hay “Ngàn năm Chúa kể là gì
Tựa hôm qua đã qua đi mất rồi
Khác nào một trống canh thôi…” (Tv 89,4)
Nhưng hôm nay tôi không có ý định đứng đây để thở ngắn than dài, hối tiếc quãng thời gian đã trôi qua, cho bằng để chia sẻ với anh em một vài cảm nghĩ, và nhất là để mời anh em cùng tôi, cùng với anh niên trưởng linh mục Augustin Phượng và 6 tân linh mục chung lời cảm tạ Thiên Chúa.
Một chút màu Phan-xi-cô
Sau khi khấn tạm, tôi và anh em cùng lớp qua Pháp học Triết và Thần Học. Năm 1966, tròn 30 tuổi, tôi chịu chức linh mục rồi trở về Việt Nam dạy học ở Thủ Đức 6 năm, trong đó có 3 năm vừa dạy học, vừa đi Đại học Văn khoa Sàigòn với các anh An-rê Phương. Mát-thêu Phúc, Bốt-cô Đình và Sa-vi-ô Chức. Năm 1972 tôi ra Nha Trang làm Giám đốc Đệ tử viện Đệ Nhị cấp (tức cấp 3). Mùa hè 1974, được sự chấp thuận của cha Giám Hạt Agnello Đình và Hội đồng Hạt Dòng, tôi trở lại Sàigòn và từ đó đến nay là 35 năm, tôi được dành trọn thời gian cho công việc của Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ (CGKPV), và đặc biệt từ năm 1999 đến nay, sau khi xây xong nhà số 58/1 (trước là số 60A) đường Phạm Ngọc Thạch, tôi được đến ở đó, nghĩa là sống ngoài cộng đoàn.
Suốt cuộc đời đi học của tôi, từ tiểu học đến hết học viện, tôi không hề là một học trò xuất sắc. Học hành chỉ thuộc loại trung bình nên cũng chẳng ai thèm để ý. Nhưng nay nhìn lại, tôi thấy hãnh diện vì đã đi bằng đôi chân của mình. Nếu tôi nhớ đúng thì cả đời đi học, tôi chỉ nhận được lời khen khi đã làm thầy Sáu. Làm xong bài giảng đầu tiên nộp cha Giám sư, cha Gabriel-Marie Porté, ngài xem rồi gật gù: “Vous savez, c’est fort, c’est même très fort” (Anh biết đấy, bài của anh hay ! Phải nói là rất hay !) Nhưng cũng chính cha Giám sư đó, khi tôi chuẩn bị khấn trọn đời, đã cho tôi biết nhận định của ngài. Ngài nói: “Anh có óc tổ chức của một ông Dòng Tên, có tính kiên trì của một ông Biển-đức, và một chút màu Phan-xi-cô !” Nguyên văn: “Vous avez l’esprit d’organisation d’un jésuite, la ténacité d’un bénédictin, et une petite coloration franciscaine !” Nói nôm na là anh có điểm tối thiểu để được ở lại. Tôi tin rằng cha giáo của tôi đã có cái nhìn sâu sắc, đúng đắn, và bản thân tôi không hề là một tu sĩ Phan Sinh gương mẫu. Tuy nhiên tôi không bao giờ quên lời Cha Thánh Phan-xi-cô khi được hỏi ai là người anh em hèn mọn tốt, là người anh em hèn mọn gương mẫu. Ngài nói: “Đó là người có lòng tin của anh Bê-na-đô, có tâm hồn đơn sơ trong trắng của anh Lê-ô, có phong cách lịch lãm của anh An-giê-lô, vừa bặt thiệp vừa phán đoán đúng như anh Ma-xê-ô, có tinh thần chiêm niệm như anh Ê-gi-đi-ô, cầu nguyện sốt sắng và kiên trì như anh Ru-phi-nô, v.v.” (Gương trọn lành số 85).
Hiển nhiên là chẳng có ai trong anh em hội đủ tất cả các đức tính đó. Điều đáng nói là Cha Thánh rán tìm trong mỗi anh em cái gì là hay là tốt, và xem đó là những nét đặc trưng của người anh em hèn mọn lý tưởng. Dĩ nhiên là muốn sống được với nhau thì tất cả mọi anh em đều phải có một cái “chung” tối thiểu, và cái “chung” đó đã được quy định, đó là Luật Dòng. Và một khi đã có cái “chung” tối thiểu đó rồi, thì Cha Thánh đề cao cái “riêng” của từng anh em, làm cho cái “chung” nên phong phú. Và đây là truyền thống 8 thế kỷ của Dòng. Lời Cha Thánh Phan-xi-cô khiến tôi tin rằng: dẫu gì thì tôi cũng còn một chỗ đứng trong Dòng Phan-xi-cô, với chút màu Phan-xi-cô theo kiểu nói của cha Giáo học viện của chúng tôi 44 năm về trước.
Tình anh em như nét đặc trưng
Cha Thánh đặt tên cho Dòng chúng ta là Dòng Anh Em Hèn Mọn. Trước khi nói đến tính “hèn mọn”, chúng ta phải là “anh em”. Trong gia đình thiêng liêng cũng như trong gia đình ruột thịt, người ta chọn bạn, không ai chọn anh em. Chúng ta không chọn nhau, nhưng Chúa chọn chúng ta. Trong truyền thống đan tu, bề trên nắm uy quyền và trách nhiệm một người cha, nên mới gọi là “viện phụ”. Còn chúng ta, để bày tỏ lòng tôn kính, chúng ta gọi Đấng sáng lập Dòng chúng ta là “Cha Thánh Phan-xi-cô”, nhưng bản thân ngài chỉ muốn là một người anh em, hay một người mẹ “ân cần dưỡng nuôi con cái mình”. Cứ nhìn cách những anh em tiên khởi sống với Cha Thánh ở Portiuncula, ta thấy một cộng đoàn anh em thương mến nhau, tôn trọng nhau, mỗi người một vẻ, thật là phong phú. Dòng chúng ta không hề có một thứ khung tạo hình để có một mẫu tu sĩ Phan-xi-cô duy nhất. Lúc nãy ta đã thấy Cha Thánh Phan-xi-cô có một cái nhìn cởi mở, phóng khoáng, linh hoạt như thế nào. Chắc chẳng có ai trong anh em phủ nhận những điều tôi vừa nói. Thế nhưng trong xã hội phong kiến Á Đông của chúng ta, khuynh hướng độc tài của người cầm quyền rất mạnh, và khi điều đó xảy ra trong đời sống cộng đoàn thì đó là một thảm hoạ: tình anh em bị tổn thương, đời sống cộng đoàn trở thành đơn điệu, mất tính đa dạng, mất vẻ phong phú.
Bản thân tôi từ 38 năm nay làm việc và 10 năm sống ngoài cộng đoàn, tôi sống và làm việc trong một môi trường thuận lợi cho phép tôi khai thác tối đa nén bạc Chúa ban cho tôi. Môi trường đó là Nhóm Phiên Dịch CGKPV. Nguyên tắc căn bản của chúng tôi là chấp nhận nhau khác biệt để bổ túc cho nhau. Ở nhà, tôi nổi tiếng là người khó tính, điều đó không hoàn toàn sai. Nhưng trong Nhóm CGKPV, anh em gọi tôi một cách thân thương là “xếp”. Tôi nắm vai trò điều hành tổ chức kể từ khi Nhóm thành lập, nghĩa là đã 38 năm nay. Nếu tôi chỉ là một tên độc tài, hẳn nhiên là không ai để tôi giữ vai trò tôi đang giữ trong suốt một thời gian dài như vậy. Nhất là các thành viên trong Nhóm không phải là những kẻ khù khờ. Nhiều người đã và đang giữ những chức vụ quan trọng: giám học, giám sư, giám đốc, bề trên cộng đoàn, bề trên giám tỉnh, kể cả cố vấn Dòng. Tôi hãnh diện vì với chút màu Phan-xi-cô ít ỏi của tôi, tôi đã góp phần không nhỏ trong việc tạo ra bầu khí anh em trong Nhóm CGKPV.
Nói lời cám ơn
Đến đây, tôi không thể không lợi dụng cơ hội được ngỏ lời với anh em để nói lên một lời cám ơn vừa sâu xa, vừa chân thành. Cám ơn Dòng đã chấp nhận tôi với một vốn liếng Phan Sinh tối thiểu, đã cho tôi cơ may học tập, đặc biệt qua những năm tôi sống ở Pháp là lúc diễn ra Công Đồng Va-ti-ca-nô II. Cám ơn các bề trên đã tin tưởng tôi, đặc biệt anh Agnello Đình là người đã chấp thuận cho tôi ngưng công việc trong nhà để dành thì giờ sức lực cho công việc của Nhóm CGKPV, và người thứ hai là anh Alexis Trần Đức Hải đã cho phép tôi đến ở tại căn nhà tôi xây xong năm 1999. Và cám ơn các anh em khác đã gánh vác công việc ở nhà thay tôi. Tôi tin rằng phần đông anh em trong Tỉnh Dòng chấp nhận tôi, cũng như chấp nhận công việc tôi làm trong Nhóm CGKPV. Cũng có thể có người xem tôi như kẻ “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng”. Dĩ nhiên phê phán là quyền của mỗi người. Nhưng bản thân tôi, tôi xác tín là công việc tôi làm chí ít cũng hữu ích cho Giáo Hội Việt Nam bằng công việc của một anh em làm cha phó trong một giáo xứ hay làm quản lý cộng đoàn. Anh em thông cảm thì tôi nhờ, không thông cảm thì tôi chịu.
Tin Chúa quan phòng
Điều cuối cùng tôi muốn chia sẻ với anh em hôm nay, là nhìn lại 73 năm tuổi đời, 50 năm khấn Dòng, đó là xác tín mãnh liệt của tôi vào Thiên Chúa Quan Phòng. Trong đời người, chẳng có chi là tình cờ hết. Khi mọi việc xảy ra thuận buồm xuôi gió, khi gặp những anh em hay bạn bè tận tình thương yêu nâng đỡ mình thì chẳng nói làm gì, nhưng ngay cả khi gặp những người kém thân thiện, thậm chí chống đối hay cản trở, khi ở trong những hoàn cảnh éo le, ngặt nghèo, bây giờ nhìn lại dưới cặp mắt đức tin, mới nhận ra rằng tất cả những người hay việc vừa nói là những yếu tố Chúa dùng để hướng dẫn đời mình, cũng như tác giả sách Đệ nhị luật ngày xưa, khi nhìn lại biến cố Xuất Hành, mới nhận ra bàn tay Thiên Chúa Quan Phòng, mới cảm nghiệm sâu sắc tình yêu vô biên của Thiên Chúa, và cũng như tác giả Thánh vịnh 88 khi ôn lại lịch sử cứu độ đã thốt lên:
Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng,
Qua muôn ngàn thế hệ,
Miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài.
(Tv 88,2)
Đó cũng là tâm tình của tôi khi nhìn lại đời mình, nhất là chặng đường 50 năm, kể từ lúc mon men cùng Cha Thánh Phan-xi-cô đi theo Chúa.
Kết luận
Không dám dông dài thêm nữa kẻo mất thì giờ anh em. Xin mọi người tiếp tục cầu nguyện cho 6 anh em trẻ chập chững bước vào đời linh mục với tinh thần hy sinh cao cả của Vị Mục Tử Nhân Lành, cầu cho anh niên trưởng linh mục Augustin Phượng càng cao tuổi càng dày nhân đức, và cuối cùng cầu nguyện cho tôi tuy chưa già lắm nhưng cũng đang lững thững đi vào đoạn cuối cuộc đời như lời cầu xin tha thiết của tác giả Thánh vịnh:
Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa,
Con đã được Ngài thương dạy dỗ.
Tới giờ này,
con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài.
Cả lúc con già nua, da mồi tóc bạc,
Lạy Thiên Chúa, xin đừng bỏ rơi con.
(Tv 70,17-18)
Học viện Phan-xi-cô Thủ Đức, 05-06-2009
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
********
Kính thưa Quý Vị thưa các bạn,
Trong những thời gian qua, Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, ofm đã gói trọn tâm tư cống hiến nhiều bài viết trên Vietcatholic. Từ nguồn Vietcatholic, trong tờ báo Dân Chúa Úc Châu số tháng 6 này cũng đã đăng một loạt trọn 3 bài của Cha.
Nhiều người không khỏi thắc mắc Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh là ai, thật ít ai biết tới và Cha cũng không muốn ai biết tới. Nhưng xin cống hiến một giải đáp ngắn gọn và dễ nhớ, nếu mai này theo ý Chúa muốn thì gia sản rất quý báu mà Cha để lại cho Giáo Hội Việt Nam, người giáo dân Việt Nam nào cũng cần tới đó là cuốn Kinh Thánh. Khi cầm đến cuốn Kinh Thánh thì hãy nhớ tới Cha, âu cũng là đủ. Đến nay đã đúng 38 năm, hơn nửa đời nguời, Cha đã cống hiến trọn thời gian dành công việc cho Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ để xuất bản cuốn Kinh Thánh được xuất bản theo nhiều thể loại, sách Các Giờ Kinh Phục Vụ các sách Bài Đọc trong Thánh Lễ.... .
Hôm nay nhân ngày sinh nhật của Cha, rất tiếc là khó đoán được ngày nào vì Cha Nguyễn Ngọc Tỉnh có 3 ngày sinh, thật vậy khi vào Chủng Viện Phanxicô vào năm 1948, thì phải có giấy khai sinh, vì giấy khai sinh đã thất lạc nên lấy giấy rửa tội ghi ngày 11/6 và lấy ngày đó là ngày khai sinh; khi lớn lên hỏi Bà Cố thì Mẹ bảo sinh ngaỳ 20 tháng 4 âm lịch, tức là ngày 9/6, sau đó 2 ngày thì rửa tội kể là đúng; khi di cư vào Nga Trang làm lại giấy tờ, tất cả đều được trẻ lại 2 tuổi tức là sanh năm 1938 nhưng cô thư ký lại đánh sai thành 16/6/1938. Hậu quả bây giờ theo giấy ngày sinh thật là ngày 9/6/1936, giấy tờ trong nhà Dòng ghi ngày 11/6/1936, còn giấy tờ ngoài đời là ngày 16/6/1938.
Nhân dịp này nhiều người đã hỏi Cha về cảm nghiệm và ngày 5/6/2009, từ Học Viện Phanxicô Thủ Đức, Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh đã viết lại cảm nghiệm nhân dịp năm nay 2009 cũng là đúng 50 năm khấn dòng của Cha.
Sau đây là toàn văn bài viết của Cha:
1959 – 2009
50 NĂM NHÌN LẠI
Khác nào một trống canh thôiTôi vào Chủng viện Phan-xi-cô Vinh sau lễ Phục Sinh 1948. Lớp chúng tôi có 24 người, hiện chỉ còn có 2: anh An-rê Phương và tôi. Mùa hè 1958, đúng 10 năm sau, vừa xong tú tài I theo chương trình Pháp tại Chủng viện Phan-xi-cô Nha Trang, đang nghỉ hè với gia đình tại trại định cư Vinh Phú, Phan Thiết, thì tôi nhận được giấy cha Phụ Tỉnh Pacifique Nguyễn Bình An bảo làm đơn xin vào Nhà Tập. Tôi còn nhớ lá thư bắt đầu với câu thánh vịnh 15 bằng tiếng La-tinh “Dominus pars haereditatis meae…” “Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng…”. Lễ Đức Mẹ Lên Trời năm đó 15-08-1958, 8 anh em lớp tôi vào nhà tập tại Tiểu Cần, Trà Vinh. Đến 16-08-1959, còn 6 người khấn tạm, nay còn lại một mình tôi, như thế tôi thuộc loài thú “quý” thì không dám nói, nhưng hiển nhiên là “hiếm”. Đến 16-08 tới là tròn 50 năm kể từ ngày khấn lần đầu. Đối với một anh em học viện, 50 năm là một quãng thời gian dài, nhưng với những anh em đã qua tuổi “thất thập cổ lai hy” như tôi thì cảm thấy vô cùng thấm thía khi đọc những câu thánh vịnh như:
“Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục,
Mạnh giỏi chăng là được tám mươi…”
(Tv 78,10)
hay “Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở,
Thấp thoáng trên đường tựa bóng câu”.
(Tv 38,6-7)
hay “Ngàn năm Chúa kể là gì
Tựa hôm qua đã qua đi mất rồi
Khác nào một trống canh thôi…” (Tv 89,4)
Nhưng hôm nay tôi không có ý định đứng đây để thở ngắn than dài, hối tiếc quãng thời gian đã trôi qua, cho bằng để chia sẻ với anh em một vài cảm nghĩ, và nhất là để mời anh em cùng tôi, cùng với anh niên trưởng linh mục Augustin Phượng và 6 tân linh mục chung lời cảm tạ Thiên Chúa.
Một chút màu Phan-xi-cô
Sau khi khấn tạm, tôi và anh em cùng lớp qua Pháp học Triết và Thần Học. Năm 1966, tròn 30 tuổi, tôi chịu chức linh mục rồi trở về Việt Nam dạy học ở Thủ Đức 6 năm, trong đó có 3 năm vừa dạy học, vừa đi Đại học Văn khoa Sàigòn với các anh An-rê Phương. Mát-thêu Phúc, Bốt-cô Đình và Sa-vi-ô Chức. Năm 1972 tôi ra Nha Trang làm Giám đốc Đệ tử viện Đệ Nhị cấp (tức cấp 3). Mùa hè 1974, được sự chấp thuận của cha Giám Hạt Agnello Đình và Hội đồng Hạt Dòng, tôi trở lại Sàigòn và từ đó đến nay là 35 năm, tôi được dành trọn thời gian cho công việc của Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ (CGKPV), và đặc biệt từ năm 1999 đến nay, sau khi xây xong nhà số 58/1 (trước là số 60A) đường Phạm Ngọc Thạch, tôi được đến ở đó, nghĩa là sống ngoài cộng đoàn.
Suốt cuộc đời đi học của tôi, từ tiểu học đến hết học viện, tôi không hề là một học trò xuất sắc. Học hành chỉ thuộc loại trung bình nên cũng chẳng ai thèm để ý. Nhưng nay nhìn lại, tôi thấy hãnh diện vì đã đi bằng đôi chân của mình. Nếu tôi nhớ đúng thì cả đời đi học, tôi chỉ nhận được lời khen khi đã làm thầy Sáu. Làm xong bài giảng đầu tiên nộp cha Giám sư, cha Gabriel-Marie Porté, ngài xem rồi gật gù: “Vous savez, c’est fort, c’est même très fort” (Anh biết đấy, bài của anh hay ! Phải nói là rất hay !) Nhưng cũng chính cha Giám sư đó, khi tôi chuẩn bị khấn trọn đời, đã cho tôi biết nhận định của ngài. Ngài nói: “Anh có óc tổ chức của một ông Dòng Tên, có tính kiên trì của một ông Biển-đức, và một chút màu Phan-xi-cô !” Nguyên văn: “Vous avez l’esprit d’organisation d’un jésuite, la ténacité d’un bénédictin, et une petite coloration franciscaine !” Nói nôm na là anh có điểm tối thiểu để được ở lại. Tôi tin rằng cha giáo của tôi đã có cái nhìn sâu sắc, đúng đắn, và bản thân tôi không hề là một tu sĩ Phan Sinh gương mẫu. Tuy nhiên tôi không bao giờ quên lời Cha Thánh Phan-xi-cô khi được hỏi ai là người anh em hèn mọn tốt, là người anh em hèn mọn gương mẫu. Ngài nói: “Đó là người có lòng tin của anh Bê-na-đô, có tâm hồn đơn sơ trong trắng của anh Lê-ô, có phong cách lịch lãm của anh An-giê-lô, vừa bặt thiệp vừa phán đoán đúng như anh Ma-xê-ô, có tinh thần chiêm niệm như anh Ê-gi-đi-ô, cầu nguyện sốt sắng và kiên trì như anh Ru-phi-nô, v.v.” (Gương trọn lành số 85).
Hiển nhiên là chẳng có ai trong anh em hội đủ tất cả các đức tính đó. Điều đáng nói là Cha Thánh rán tìm trong mỗi anh em cái gì là hay là tốt, và xem đó là những nét đặc trưng của người anh em hèn mọn lý tưởng. Dĩ nhiên là muốn sống được với nhau thì tất cả mọi anh em đều phải có một cái “chung” tối thiểu, và cái “chung” đó đã được quy định, đó là Luật Dòng. Và một khi đã có cái “chung” tối thiểu đó rồi, thì Cha Thánh đề cao cái “riêng” của từng anh em, làm cho cái “chung” nên phong phú. Và đây là truyền thống 8 thế kỷ của Dòng. Lời Cha Thánh Phan-xi-cô khiến tôi tin rằng: dẫu gì thì tôi cũng còn một chỗ đứng trong Dòng Phan-xi-cô, với chút màu Phan-xi-cô theo kiểu nói của cha Giáo học viện của chúng tôi 44 năm về trước.
Tình anh em như nét đặc trưng
Cha Thánh đặt tên cho Dòng chúng ta là Dòng Anh Em Hèn Mọn. Trước khi nói đến tính “hèn mọn”, chúng ta phải là “anh em”. Trong gia đình thiêng liêng cũng như trong gia đình ruột thịt, người ta chọn bạn, không ai chọn anh em. Chúng ta không chọn nhau, nhưng Chúa chọn chúng ta. Trong truyền thống đan tu, bề trên nắm uy quyền và trách nhiệm một người cha, nên mới gọi là “viện phụ”. Còn chúng ta, để bày tỏ lòng tôn kính, chúng ta gọi Đấng sáng lập Dòng chúng ta là “Cha Thánh Phan-xi-cô”, nhưng bản thân ngài chỉ muốn là một người anh em, hay một người mẹ “ân cần dưỡng nuôi con cái mình”. Cứ nhìn cách những anh em tiên khởi sống với Cha Thánh ở Portiuncula, ta thấy một cộng đoàn anh em thương mến nhau, tôn trọng nhau, mỗi người một vẻ, thật là phong phú. Dòng chúng ta không hề có một thứ khung tạo hình để có một mẫu tu sĩ Phan-xi-cô duy nhất. Lúc nãy ta đã thấy Cha Thánh Phan-xi-cô có một cái nhìn cởi mở, phóng khoáng, linh hoạt như thế nào. Chắc chẳng có ai trong anh em phủ nhận những điều tôi vừa nói. Thế nhưng trong xã hội phong kiến Á Đông của chúng ta, khuynh hướng độc tài của người cầm quyền rất mạnh, và khi điều đó xảy ra trong đời sống cộng đoàn thì đó là một thảm hoạ: tình anh em bị tổn thương, đời sống cộng đoàn trở thành đơn điệu, mất tính đa dạng, mất vẻ phong phú.
![]() |
| Đức TGM Bary J Hicky, Tổng Giáo Phận Perth Úc Châu thăm nhóm Phiên Dịch CGKPV, Cha Tỉnh, Cha Nhân, Cha Thao |
Bản thân tôi từ 38 năm nay làm việc và 10 năm sống ngoài cộng đoàn, tôi sống và làm việc trong một môi trường thuận lợi cho phép tôi khai thác tối đa nén bạc Chúa ban cho tôi. Môi trường đó là Nhóm Phiên Dịch CGKPV. Nguyên tắc căn bản của chúng tôi là chấp nhận nhau khác biệt để bổ túc cho nhau. Ở nhà, tôi nổi tiếng là người khó tính, điều đó không hoàn toàn sai. Nhưng trong Nhóm CGKPV, anh em gọi tôi một cách thân thương là “xếp”. Tôi nắm vai trò điều hành tổ chức kể từ khi Nhóm thành lập, nghĩa là đã 38 năm nay. Nếu tôi chỉ là một tên độc tài, hẳn nhiên là không ai để tôi giữ vai trò tôi đang giữ trong suốt một thời gian dài như vậy. Nhất là các thành viên trong Nhóm không phải là những kẻ khù khờ. Nhiều người đã và đang giữ những chức vụ quan trọng: giám học, giám sư, giám đốc, bề trên cộng đoàn, bề trên giám tỉnh, kể cả cố vấn Dòng. Tôi hãnh diện vì với chút màu Phan-xi-cô ít ỏi của tôi, tôi đã góp phần không nhỏ trong việc tạo ra bầu khí anh em trong Nhóm CGKPV.
Nói lời cám ơn
Đến đây, tôi không thể không lợi dụng cơ hội được ngỏ lời với anh em để nói lên một lời cám ơn vừa sâu xa, vừa chân thành. Cám ơn Dòng đã chấp nhận tôi với một vốn liếng Phan Sinh tối thiểu, đã cho tôi cơ may học tập, đặc biệt qua những năm tôi sống ở Pháp là lúc diễn ra Công Đồng Va-ti-ca-nô II. Cám ơn các bề trên đã tin tưởng tôi, đặc biệt anh Agnello Đình là người đã chấp thuận cho tôi ngưng công việc trong nhà để dành thì giờ sức lực cho công việc của Nhóm CGKPV, và người thứ hai là anh Alexis Trần Đức Hải đã cho phép tôi đến ở tại căn nhà tôi xây xong năm 1999. Và cám ơn các anh em khác đã gánh vác công việc ở nhà thay tôi. Tôi tin rằng phần đông anh em trong Tỉnh Dòng chấp nhận tôi, cũng như chấp nhận công việc tôi làm trong Nhóm CGKPV. Cũng có thể có người xem tôi như kẻ “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng”. Dĩ nhiên phê phán là quyền của mỗi người. Nhưng bản thân tôi, tôi xác tín là công việc tôi làm chí ít cũng hữu ích cho Giáo Hội Việt Nam bằng công việc của một anh em làm cha phó trong một giáo xứ hay làm quản lý cộng đoàn. Anh em thông cảm thì tôi nhờ, không thông cảm thì tôi chịu.
Tin Chúa quan phòng
Điều cuối cùng tôi muốn chia sẻ với anh em hôm nay, là nhìn lại 73 năm tuổi đời, 50 năm khấn Dòng, đó là xác tín mãnh liệt của tôi vào Thiên Chúa Quan Phòng. Trong đời người, chẳng có chi là tình cờ hết. Khi mọi việc xảy ra thuận buồm xuôi gió, khi gặp những anh em hay bạn bè tận tình thương yêu nâng đỡ mình thì chẳng nói làm gì, nhưng ngay cả khi gặp những người kém thân thiện, thậm chí chống đối hay cản trở, khi ở trong những hoàn cảnh éo le, ngặt nghèo, bây giờ nhìn lại dưới cặp mắt đức tin, mới nhận ra rằng tất cả những người hay việc vừa nói là những yếu tố Chúa dùng để hướng dẫn đời mình, cũng như tác giả sách Đệ nhị luật ngày xưa, khi nhìn lại biến cố Xuất Hành, mới nhận ra bàn tay Thiên Chúa Quan Phòng, mới cảm nghiệm sâu sắc tình yêu vô biên của Thiên Chúa, và cũng như tác giả Thánh vịnh 88 khi ôn lại lịch sử cứu độ đã thốt lên: Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng,
Qua muôn ngàn thế hệ,
Miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài.
(Tv 88,2)
Đó cũng là tâm tình của tôi khi nhìn lại đời mình, nhất là chặng đường 50 năm, kể từ lúc mon men cùng Cha Thánh Phan-xi-cô đi theo Chúa.
Kết luận
Không dám dông dài thêm nữa kẻo mất thì giờ anh em. Xin mọi người tiếp tục cầu nguyện cho 6 anh em trẻ chập chững bước vào đời linh mục với tinh thần hy sinh cao cả của Vị Mục Tử Nhân Lành, cầu cho anh niên trưởng linh mục Augustin Phượng càng cao tuổi càng dày nhân đức, và cuối cùng cầu nguyện cho tôi tuy chưa già lắm nhưng cũng đang lững thững đi vào đoạn cuối cuộc đời như lời cầu xin tha thiết của tác giả Thánh vịnh:
Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa,
Con đã được Ngài thương dạy dỗ.
Tới giờ này,
con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài.
Cả lúc con già nua, da mồi tóc bạc,
Lạy Thiên Chúa, xin đừng bỏ rơi con.
(Tv 70,17-18)
Học viện Phan-xi-cô Thủ Đức, 05-06-2009
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
********
