KHÓA CURSILLO 26 TẠI PARIS

KỶ NIỆM 60 NĂM SÁNG LẬP PHONG TRÀO


Cách đây 60 năm, vào tháng giêng 1949, Đức Cha Hervas đã SÁNG lập Cursillo đầu tiên tại Tây Ban Nha. Trước đó 5 năm, vào tháng 8-1944 tại Cala Figuera, trên đảo Majorque (hải đảo Tây Ban Nha nằm trong Địa Trung Hải), anh Eduardo Bonnin 28 tuổi mở khóa học Cursillo nhằm đào tạo các trưởng toán hành hương tại Saint-Jacques-de-Compostelle. 60 năm sau ngày sáng lập phong trào (1949-2009), đồng thời đánh dấu 42 năm thành lập Phong trào Cursillo tại Việt Nam (1967-2009) và 16 năm thành lập Phong trào tại Pháp (1993-2009), từ 5 đến 8-8-2009, Phong trào Cursillo Việt Nam tại Âu châu đã tổ chức khóa 26 tại Giáo Xứ Việt Nam tại Paris, quy tụ 24 học viên. Cha Phêrô Lưu Văn Tâm là linh hướng khóa học, anh Phêrô Huỳnh Chấn Thinh: trưởng khóa, anh Phêrô Phạm Đức Vượng: phụ tá khóa trưởng. 66 cursillistas là trợ tá khóa học. Phong trào Cursillo tại Pháp do Đức Ông Mai Đức Vinh là linh hướng, anh Giuse Nguyễn Minh Dương là chủ tịch. Khóa học đã được chuẩn bị về nhiều mặt. Về phương diện thiêng liêng, các cursillistas đã dự 3717 Thánh lễ cầu nguyện và nhiều sinh hoạt thiêng liêng khác nữa để cầu nguyện cho khóa học. Ngoài ra, Phong trào Cursillo Paris còn được sự hỗ trợ tích của nhiều Cursillos tại Pháp và trên thế giới dưới hình thức các Palancas: Cursillo Toulouse: 2178 Thánh lễ, Cursillo Viêt Nam tại Úc: 1691 Thánh lễ, Cursillo Việt Nam tại Bỉ: 513 Thánh lễ, Cursillo Việt Nam tại Đức: 513 Thánh lễ, 3 phong trào Cursillos tại Mexicô, 2 tại Ý, 4 tại Hoa Kỳ, 1 tại Uruguay, 1 tại Bồ Đào Nha, 1 tại Venezuela, 1 tại Colombia, 1 tại Úc và 1 tại Tây Ban Nha cũng đã có các Palancas cầu nguyện cho khóa học.

Cursillo là phong trào tông đồ nhằm đào tạo các chiến sĩ Kitô nòng cốt để trở nên men Phúc âm trong môi trường của mỗi người. Theo Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, ‘‘Cursillo là công cụ do Thiên Chúa thúc đẩy nhằm loan báo Tin Mừng trong thời đại chúng ta’’.

Khóa học 3 ngày nhằm giúp các học viên hiểu thấu một số chân lý căn bản của Kitô giáo, được trình bầy sống động qua một các chứng từ và sinh hoạt vui tươi, diễn tả ba nhân đức ‘‘Tin, Cậy, Mến’’. Mỗi nhân đức đối thần là chủ đề một ngày học tập. Khóa học hội 3 ngày nhằm giúp các học viên thấm nhuần lẽ đạo (Cursillo de Cristiandad), khám phá những điều căn bản của Kitô giáo để sống đạo tốt hơn qua việc gặp gỡ bản thân, gặp gỡ Thiên Chúa và gặp gỡ tha nhân trong niềm vui và tình huynh đệ. Sau khóa học, các tân cursillistas tiếp tục thánh hóa bản thân và phúc âm hóa môi truờng qua các buổi họp nhóm từ 2 đến 5 người cùng chung một chí hướng, gặp nhau thường xuyên để cùng cầu nguyện, học hỏi và sống đạo. Ngoài ra còn các đại hội Ultreya, có nghĩa là tiến xa hơn, nhóm họp chiều chủ nhật thứ 4 trong tháng. Từ ngữ gốc Tây Ban Nha ‘‘Ultreya’’ do tiếng latinh ‘‘Ultra ’’ có nghĩa là ‘‘Tiến lên’’.

Nhân Đại hội Ultreya toàn quốc Ý ngày 24-11-1990, ĐTC Gioan-Phaolô II đã nhắc lại tôn chỉ của phong trào Cursillo như sau:

‘‘Nhiệm vụ của phong trào trong Giáo hội là đào tạo những người Kitô giáo nòng cốt, mang theo thông điệp cứu độ, nhằm tác động đến tha nhân không chỉ bằng lời nói mà bằng sức mạnh chứng tá của chính mình.’’

Tôn chỉ của Phong trào là ‘‘trở nên men Phúc âm trong môi trường’’ như lời Chúa phán: ‘‘Nước Trời cũng giống như nắm men thiếu phụ kia vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.’’ (Mt 13,33). Men Phúc âm chính là phương thức truyền giáo từ trong lòng môi trường, góp phần hình thành một thế giới huynh đệ, thực hiện giáo huấn của Chúa Kitô. Việc dậy men là tùy thuộc vào chứng từ. Phong trào áp dụng các kinh nghiệm chung và riêng nhằm giúp các kitô hữu nòng cốt khám phá và thực hiện ơn gọi của mình như men Phúc âm trong môi trường sống chuyện biệt.

Bài Ca Đức Ái

Các bài suy niệm và diễn giảng (rollos) trong khóa học được thể hiện qua sắc hoa phụng vụ diễn tả ba nhân đức: Tin, Cậy, Mến. Trong ngày Đức Tin (nhập khóa) với sắc hoa đỏ tím diễn tả một Đức Tin kiên trung, sắt son. Tiếp đó là ngày Đức Ái được coi là trọng tâm của khóa học, sắc hoa phụng vụ gồm toàn hoa trắng, diễn tả tình yêu đơn sơ và tinh tuyền. Ngày Hy Vọng kết khóa mang màu xanh, tổng kết ba nhân đức đối thần, vì ngoài ý nghĩa hy vọng, màu xanh còn diễn tả sự tin yêu. Phần phụng vụ Lời Chúa của Thánh lễ giữa khóa gồm Bài Ca Đức Mến (1Cr 13, 1-13) và Tin Mừng Tình Yêu theo Thánh Gioan (Ga 13, 14-21.

Trong phần chia sẻ Lời Chúa, cha linh hướng Lưu Văn Tâm nhắn nhủ các cursillistas Tin Mừng Đức Ái như sau:

‘‘Yêu thương nhau là chìa khóa để gặp được Chúa Giêsu trong cuộc sống. Ai biết yêu thì sẽ được Chúa Giêsu tỏ mình cho và sẽ được Chúa ở cùng. Trong bài đọc 1, được mệnh danh là bài ca đức ái, thánh Phaolô đã cho thấy đức ái, hay tình yêu thương, phải là yếu tính của mọi hành động của người kitô hữu. Trong 3 câu đầu Ngài dùng điệp từ “dù tôi, dù tôi, dù tôi” biết được gì, nói được gì, làm được gì đi chăng nữa mà không có đức ái thì mọi sự sẽ trở nên vô ích. Những câu tiếp theo, ngài liệt kê một bảng danh sách những nhân đức như là một đối chiếu cho người tín hữu xem thử nơi họ đã có sự hiện diện của đức ái hay chưa: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được.” (13, 4-8) Và ngài kết luận “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.” (13, 13)

‘‘Quả thật, ở đời này, người kitô hữu cần có các nhân đức đối thần TIN, CẬY, MẾN trong đời sống đạo. Nhưng ở đời sau, nguời tín hữu được thấy Thiên Chúa nhãn tiền, được hưởng phước Thiên Đàng thì họ không còn phải tin, phải cậy nữa. Họ chỉ còn một điều duy nhất đó là Yêu Mến Thiên Chúa mà thôi. Đúng như lời khẳng định của thánh Phaolô “Đức mến không bao giờ mất được.” (13, 8)

Trong thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu (Deus Caritas Est), Đức Giáo hoàng đương kim đă phân biệt 2 cấp độ của đức ái. Ở cấp độ thứ nhất, ngài dùng một từ Hylạp để giải thích, eros. Từ này diễn tả một tình yêu chiếm hữu, mang ý nghĩa giới tính, trao đổi qua lại giữa những nguời yêu nhau. Trong khi ở cấp độ thứ 2, một từ khác được dung: agape. Từ này diễn tả một tình yêu trao ban, vô vị lợi, chia sẻ, hiến thân cho người khác… Nếu đức ái kitô giáo được thực thi thì cần phải tiến đến mức độ thứ hai này. Nghĩa là phải làm đúng như Chúa Giêsu và theo lời Ngài vừa dạy chúng ta trong bài Tin Mừng: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (13,24). Mà yêu thương như Chúa Giêsu có nghĩa là phải đi cho đến tận cùng: chết cho người mình yêu.’’

Sau đó, cha linh hướng Lưu Văn Tâm đã minh họa ý nghĩa của Tin Mừng Đức Ái chỉ bằng một nụ cười:

Palanca của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu (1873-1897)
‘‘Hans Bergen, một chàng thanh niên sống trong một ngôi làng nhỏ bên Hòa Lan. Anh ta có một bộ mặt dị dạng xấu trai, nên bị mọi người khinh dể và không ai muốn nói chuyện tiếp xúc. Anh ta cảm thấy rất buồn phiền khi bị người ta đối xử cách thiếu thân thiện như vậy và chỉ thầm mong cho mình được chết sớm !

‘‘Rồi một hôm, anh chàng cô độc buồn khổ ấy bị chết thực sự. Dân làng cũng chẳng thèm quan tâm. Thế nhưng sau đó mọi người đều ngạc nhiên khi đọc chúc thư của Hans Bergen: Anh ta để lại gia tài 40 ngàn mỹ kim cho một cô bé chẳng có họ hàng gì với anh, là cô bé Anne Martine. Trong chúc thư anh cho biết lý do như sau: “Tất cả mọi người dân làng đã cau mày hoặc nhìn đi nơi khác khi gặp mặt tôi. Nhưng một ngày kia, tôi đã gặp cô bé Anne và em đã trao cho tôi một nụ cười khả ái. Đó chính là nụ cười chân thành duy nhất mà tôi nhận được trong cuộc đời tôi”.

Chỉ một nụ cười chân thành cũng đủ làm cho người khác hạnh phúc. Mỗi người chúng ta đều có khả năng làm nhiều hơn thế. Tại sao ta lại không mau mắn giúp những người xung quanh nhân được tình yêu, sự cảm thông và sự giúp đỡ cần thiết như là dấu chỉ của Đức Ái đang hiện diện trong ta, theo những tiêu chuẩn thánh Phaolô đưa ra trong thư gởi tín hữu Corintô: ‘‘Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.’’ (1Cor 13, 4-7).’’ Nụ cười ‘‘Niêm hoa vi tiếu’’ diễn tả ý nghĩa của ngày hội học thứ hai chính là nụ cười mà Mẹ Têrêsa hằng khuyên nhủ chúng sinh: ‘‘Mầm mống âu yếm đợi chờ một nụ cười đằm thắm để nở hoa’’ (Un germe de tendresse n'attend qu'un sourire chaleureux pour se developer).

Nụ cười của Mẹ Têrêsa và bông hồng của Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu là những palancas tô điểm cho cuộc đời thêm tươi thắm.

Phong trào Cursillo vẫn thường mời gọi các cursillistas làm ‘‘Palanca’’. Từ ngữ gốc Tây Ban Nha này có nghĩa là đòn bẩy: các đoàn viên dự Thánh lễ, hy sinh, hãm mình, ăn chay, viếng Thánh thể, lần hạt v.v. để xin Chúa nhấc đi một gánh nặng khỏi cuộc sống. Archimède (287-212 trước CN) từng nói: ‘‘Cho tôi một đòn bẩy và một điểm tựa, tôi sẽ nâng cả địa cầu’’. Bằng lời cầu nguyện, các cursillistas tìm điểm tựa, nài xin Chúa cất đi gánh nặng khổ cực.

Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu đã viết về Palanca như sau:

‘‘Một nhà bác học từng nói: Hãy cho tôi đòn bẩy và một điểm tựa, tôi sẽ nâng được trái đất. Điều này Archimède không thể làm được, vì phát biểu của ông không hướng về Thiên Chúa và chỉ dựa trên điểm tựa vật lý. Thiên Chúa toàn năng ban ơn cho các thánh nam nữ nhờ điểm tựa tinh thần: chỉ có Thiên Chúa và riêng Chúa. Đòn bẩy này có được là nhờ kinh nguyện, được nung nấu bằng lửa yêu thương. Nhờ vậy, chư thánh nâng dậy cả thế giới. Các thanh cũng như các chiến sĩ nhiệt tâm nâng dậy thế trần vào ngày tận thế, khi đó các thánh sắp tới cũng sẽ vực dậy thế giới’’.

Palanca của Mẹ Têrêsa Calcutta (1910-1997)


Trong kinh nguyện sau đây, Mẹ Têrêsa có ý nguyện trở thành palanca để nâng đỡ thế trần. Chúng tôi chuyển dịch kinh nguyện của Mẹ Têrêsa sang thể lục bát như sau:

Vai con gánh vác nặng nề,

Con xin vác hộ ê chề thế nhân.

Tuy con túng thiếu nợ nần,

Con xin chia sẻ thanh bần vị tha.

Con tuy bận bịu việc nhà,

Con xin giúp đỡ người ta khốn cùng.

Con bị hạ nhục mông lung,

Một lòng một ý vui cùng thế nhân.

Khi con thất vọng muộn màng,

Con xin nâng đỡ ủi an thế trần.

Con mong săn sóc ân cần,

Nay con tự nguyện đỡ đần chúng sinh.

Khi con chỉ nghĩ đến mình,

Con liền nghĩ đến tội tình ba sinh.


De Colorès
Ca khúc ‘‘De Colorès’’diễn tả niềm vui khi tìm được tình yêu Thiên Chúa và sự ấm áp của tình người. Ca khúc này rất thịnh hành trên đảo Majorque vào năm 1949, nơi diễn ra Đại hội Cursillo đầu tiên trên thế giới. Các thế hệ cursillistas tiên phong và ngày nay khắp nơi trên thế giới đều đồng ca khúc hát này, diễn tả cuộc đời muôn màu muôn sắc, như mầu sắc hình chụp khóa 26:

Nhân khóa học hội 26 của Phong trào Cursillo Paris, chúng tôi có bài thơ đề tặng các cursillistas cũ mới như sau:

Cursillo de Cristiandad 1

Khóa học ba ngày hướng dẫn ta,

Từ nay bốn bể 2 cũng chung nhà.

Ghi lòng tạc dạ làm nhân chứng,

Ý hiệp tâm đầu nghĩa vị tha.

Gặp gỡ anh em ơn phúc cả,

Hành trình vạn lý 3 cũng không xa.

Đến bữa thứ tư nhập thế cục 4.

Cuộc đời tươi thắm tựa ngàn hoa 5.


Paris, ngày 8-8-2009

Lê Đình Thông

1 Tiểu học hội hun đúc tinh thần Kitô giáo

2 Tứ hải giai huynh đệ (bốn bể đều là anh em)

3 Ultreya: tiến xa hơn (aller plus loin)

4 Ngày thứ tư: le quatrième jour, còn gọi là Hậu Cursillo (Postcursillo)

5 De Colorès.