Từ Đất Kangaroo mà đi Đất Thánh vào cuối tháng Bẩy quả là một liều lĩnh: khách hành hương phải kinh qua hai thái cực của Đông và Hạ. Nhưng đối với bản thân tôi, khó còn con đường nào khác. Đất Thánh nằm trong mơ ước đã từ rất lâu. Và từ cuối 2004, lúc vừa về hưu, việc đầu tiên tôi nghĩ tới là đi Đất Thánh để có dịp được theo bước chân Thầy, như kiểu nói của H.V. Morton (1). Nhưng các biến động quân sự cũng như chính trị tại Do Thái từ những năm đầu của Thiên Niên Kỷ Thứ Ba với những intifada liên tiếp xẩy ra và chính sách cứng rắn của Ariel Sharon khiến cho viễn tượng tới Đất Thánh gần như trở thành viển vông. Năm 2005, tôi có tham gia một cuộc hành hương gọi là theo bước chân Môsen, Thánh Gia và các Tông Đồng Phaolô, Gioan, Phêrô và Giacôbê, tới Cairô, Núi Sinai, Compostella, Smiếcna, Êphêsô, Patmos, Côrintô, Nhã Điển và Rôma. Nhưng Đất Thánh đúng nghĩa thì vẫn nằm ngoài bước chân mình.

Cuộc tông du của Đức Bênêđíctô XVI tới Đất Thánh vào tháng Năm vừa qua không những mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp cho mối liên hệ giữa Tòa Thánh, Nhà Nước Do Thái và Thẩm Quyền Palestine, cũng như cho các liên hệ đầy hứa hẹn giữa ba niềm tin lớn của nhân loại là Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo, mà còn hé mở cho thấy cả người Do Thái lẫn người Palestine đều rất cần các khách hành hương, bởi du lịch vẫn là nguồn lợi kinh tế quan trọng cho cả hai. Mặt khác, cuối năm 2008, từ Việt Nam, ít nhất cũng đã có 2 phái đoàn hành hương tới Đất Thánh, một do Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cầm đầu, và một do Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn hướng dẫn. Cả hai phái đoàn đều có những phản hồi tích cực. Và tại Sydney, hai phái đoàn, một Việt, một Úc, cũng đã dự tính lên đường tới Đất Thánh vào đầu tháng Bẩy và đầu tháng Chín, năm 2009. Tất cả những biến cố ấy khiến mộng ước tới Đất Thánh của tôi trở thành hết sức chín muồi, không thực hiện, nó sẽ rơi rụng và thối rữa mất.

Do Thái tại Hồng Kông

Vợ chồng tôi quyết định tham gia một phái đoàn hành hương khởi hành từ Sài Gòn vào cuối tháng Bẩy, thay vì cùng đi với phái đoàn do Cha Văn Chi hướng dẫn, khởi hành từ Sydney vào cuối tháng Sáu. Một phần vì đàng nào, chúng tôi cũng phải về Sài Gòn để dự lễ cưới và lễ hỏi của hai đứa cháu, con người anh em cột chèo, vào đầu tháng Tám. So ra, về phương diện chi phí, không khác nhau bao nhiêu: kể cả vé máy bay khứ hồi từ Sydney về Sài Gòn và chi phí cho trọn chuyến đi về Đất Thánh, mỗi người chúng tôi chỉ phải trả chưa tới bốn nghìn Úc Kim. Đường đi tất nhiên có dài hơn và do đó, vất vả hơn một chút. Trước nhất, chúng tôi phải dừng chân tại phi trường Singapore từ nửa đêm tới sáng hôm sau mới có chuyến bay về Sài Gòn. Ở đấy chưa đầy một ngày, đã phải khăn gói ra phi trường Tân Sơn Nhất để đáp chuyến bay Cathay Pacific đi Hồng Kông.

Lần đầu tiên được đặt chân tới phi trường Hồng Kông, khách hành hương khá phấn khích. Đó là một phi trường lớn. Đi hoài không hết. Một phần, vì anh hướng dẫn viên không thông thạo đường đi nước bước ở đây, nên cả gần một giờ sau, đoàn mới tìm ra quầy “check-in” của Hãng Hàng Không El Al của Do Thái. Hồn phách chưa ổn định, khách hành hương đã phải giáp mặt với bộ máy an ninh nghiêm nhặt của Nhà Nước Israel ngay trên mảnh đất cựu thuộc địa của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị. Có thể nói: Nhà Nước ấy đã thiết lập cả một bộ máy an ninh thu nhỏ ngay tại đây. Họ phỏng vấn từng khách hành hương, hỏi han về những người cùng đi, đồ đoàn mang theo bị họ lục lọi không sót một món, kể cả những món đã được gửi đi trước. Ngay cuốn Sách Hành Hương, gồm các bài đọc Thánh Lễ, các bài thánh ca, các trích đoạn Thánh Kinh, và nhiều hướng dẫn du lịch khác bằng tiếng Việt, cũng được nhân viên an ninh Do Thái kiên nhẫn rở từng trang khám xét. Bất cứ một đề nghị giúp bạn hành hương nào trong khả năng tiếng Anh cũng bị nhân viên Do Thái bác bỏ. Đoàn hành hương của chúng tôi chỉ có 15 người mà thời gian phỏng vấn và khám xét kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Vào được phòng chờ đợi chỉ còn biết tìm chỗ đặt tạm chiếc lưng xuống nằm nghỉ, chờ giờ máy bay cất cánh. Rất may, thời gian chuyển tiếp từ Cathay Pacific qua El Al khá dài: hơn 5 tiếng đồng hồ.

Khởi đầu, chỉ có đoàn hành hương chúng tôi, sau có thêm sự hiện diện của đoàn “ô sin” người Phi Luật Tân, rồi lần lượt xuất hiện những người thuộc dòng giống được chúng tôi đoán là Do Thái, vì đa số họ đội mũ chỏm (kiểu mũ giám mục, nhưng mầu đen) hay mũ rộng vành cũng mầu đen. Người đội mũ chỏm có thể ăn vận bất cứ loại trang phục gì, nhưng người đội mũ rộng vành thường mặc quần dài đen, áo sơ-mi trắng và áo vét đen. Họ có phải là “rabbi” cả không? Cậu thiếu niên Do Thái 18 tuổi trả lời: không hẳn, họ chỉ là người “tôn giáo”. Không biết cậu ta có ý nói gì khi bảo họ là người “tôn giáo”. Sau này trên máy bay, tôi có hỏi một thương gia Do Thái ngồi bên cạnh, ông ta cũng cho biết “họ chỉ là người tôn giáo”. Phải chăng không phải người Do Thái nào cũng là người tôn giáo? Và như thế, có những người Do Thái không phải là người tôn giáo? Dù sao, thì cậu thiếu niên Do Thái 18 tuổi kia, người đang thi hành nghĩa vụ quân sự trong ba năm, cũng rất ghét “những người tôn giáo” đang nhởn nhơ trước mặt cậu tại phòng chờ của phi trường Hồng Kông này. Cậu bảo: bọn họ không thi hành nghĩa vụ quân sự, không đóng thuế như tôi. Và khi thấy nhóm người tôn giáo ấy bắt đầu đứng lên, hướng về Giêrusalem cầu nguyện, cậu bảo: thôi đi, về Giêrusalem mà thi hành nghĩa vụ quân sự và đóng thuế như tôi đi mấy cha nội!

Hình ảnh nhóm người “tôn giáo” Do Thái đứng cầu nguyện ngay tại phi trường Hồng Kông khiến người ta phải chú ý. Họ “bất cần” thiên hạ. Tâm trí họ hoàn toàn mất hút vào lời cầu nguyện, đầy tính cộng đoàn. Và họ cầu nguyện bằng cả con người của họ, khiến ta nhớ tới lối cầu nguyện của Môsen, của Miriam chị gái ông, với trống với phách, với ca hát nhẩy múa hân hoan trước mặt Giavê. Người nào cũng có một Sách Cầu Nguyện loại bỏ túi, họ vừa đọc, vừa tiến lên phía trước, lùi lại phía sau, quay qua bên trái, quay qua bên phải, cúi đầu, dang tay, có khi xoay cả người một vòng. Điều đáng lưu ý, không một bóng phụ nữ nào trong nhóm họ. Cậu thiếu niên 18 tuổi cho hay: còn lâu họ mới ghét phụ nữ; họ là người không cần biết gì tới kế hoạch hóa gia đình, có những tay có tới hàng tá con. Bọn tôi nuôi chúng chứ họ có phải nuôi đâu!

Tôi bước vào chuyến bay của hãng hàng không El Al để đi Tel Aviv với nhiều hình ảnh khá độc đáo về đất nước và con người Do Thái: một đất nước khá ý thức về sự mỏng dòn của nền an ninh riêng và những con người không đơn khối như người ta vốn nghĩ. Ngồi trên máy bay, cảm nghĩ về ý thức an ninh kia càng lớn thêm lên: Từ Hồng Kông đến Tel Aviv, nếu bay theo đường thẳng, chắc chắn chỉ mất chừng 7 tiếng đồng hồ là tới nơi. Nhưng El Al bay lên phía Bắc, vào hẳn không phận của Nga, bay ngang Biển Caspian rồi mới bay xuống phía dưới, vào không phận Thổ Nhĩ Kỳ, rồi vòng qua Địa Trung Hải mà vào Tel Aviv, gần như đi hết một nửa vòng tròn, mất khoảng 10 tiếng đồng hồ mới tới nơi. Tuy nhiên, tới Tel Aviv, khách hành hương gặp một bộ mặt khác hẳn. Thủ tục chỉ bao gồm việc kiểm soát giấy thông hành và sau khi lãnh hành lý, khách hành hương được tự do lên xe rời phi trường thoải mái. Không một bóng cảnh sát, không một bóng nhân viên quân sự như tại phi trường Hồng Kông.

Ấn tượng đẹp trước đây về Hồng Kông có chăng chỉ còn trong trí tưởng tượng. Thực tế, nó là một khu vực có trần thấp nặng nề, tìm một vòi nước uống công cộng không có, không có những tiệm bán thức ăn “nhanh” như phi truờng Singapore, mua đồ bằng mỹ kim, bị thối bằng tiền Hồng Kông. Không lớn bằng Hồng Kông và vì chúng tôi không có nhu cầu ăn uống như lúc ngồi chờ hàng mấy tiếng đồng hồ tại Hồng Kông, phi trường Tel Aviv tránh được việc không bị khách hành hương chỉ trích, ít nhất cũng cho chuyến tới.

Núi Tabor

Đáp xuống Tel Aviv sớm, trời còn lãng đãng sương, chúng tôi được đưa thẳng về Nadarét, một thị trấn cách Tel Aviv chừng 2 giờ xe buýt. Và sau khi nhận phòng khách sạn, chúng tôi lên đường tham quan ngay. Thánh điểm đầu tiên là Núi Tabor. Vừa băng qua Làng Nain, nơi Chúa Giêsu cho người con trai duy nhất của một bà goá sống lại, một quãng, nhìn về tay trái đã thấy sừng sững ngọn núi Tabor xanh đậm, mờ nhạt phía xa. Tới gần, cảnh trí ngọn núi khá nên thơ với cây rừng xanh rờn và nhà cửa san sát dưới sườn núi, xa xa các thị trấn quanh vùng trùng điệp xuất hiện. Xe buýt phải dừng lại lưng chừng núi. Khách hành hương một là phải leo bộ tiếp lên tới đỉnh, theo con một con đường ngoằn ngoèo mà có tài liệu cho rằng gồm 4,300 bậc được xây từ thế kỷ thứ 4 dành cho các khách hành hương Kitô giáo (có lẽ tính từ dưới chân núi). Hai là đón taxi. Đoàn chúng tôi chọn giải pháp sau để lên tận đỉnh theo một con đường tân lập khá vòng vèo. Trời Galilê vào mùa này khá nóng, nhưng trên đỉnh Tabor, không khí dịu hẳn lại và tươi vui hẳn lên vì những khuôn mặt tươi trẻ, đủ mầu đủ sắc của các sinh viên đại học tới từ tổng giáo phận Paris. Họ không phải là 15 người như chúng tôi, mà là 1,700 người và 1,700 người này hành động như một đoàn người cùng có chung một cảm thức, một động thái. Cũng như các thanh thiếu niên chúng tôi gặp năm 2005 tại cánh đồng Marienfeld ở Cologne nhân Ngày Giới Trẻ Thế Giới, các sinh viên đại học Paris tại Núi Tabor này là hình ảnh trung thực của những người hành hương Kitô giáo muôn thuở: họ tới đây tìm vết chân Thầy bằng cách thực sự sánh bước với Người cả theo nghĩa vật lý (cuốc bộ từ chân núi) lẫn theo nghĩa thiêng liêng (vừa đi vừa đọc và suy niệm Lời Người). Quả là một kinh nghiệm nâng cao tâm hồn khi ngắm nhìn họ tiến bước và suy niệm, nhất là được trò truyện với họ. Đẹp thay những bước chân chim, nhún nhẩy sánh bước với Thầy.

Chúng tôi được giới thiệu tượng bán thân của Đức Phaolô VI ngay tại đường dẫn vào Nhà Thờ Hiển Dung. Ngài từng tới đây năm 1964 và dâng thánh lễ tại thánh điểm này. Gần nhà thờ hơn chút nữa là khuôn mặt bằng đồng của Kiến Trúc Sư Antonio Barluzzi. Ông là người thiết kế và xây dựng phần lớn các ngôi nhà thờ của Giáo Hội Công Giáo tại Đất Thánh, trong đó phải kể tới Nhà Nguyện (Latinh) Canvariô trong Nhà Thờ Mộ Thánh tại Giêrusalem, Vương Cung Thánh Đường Diệtsimani tại Núi Cây Dầu, Nhà Thờ Thánh Ladarô tại Bêthania; Nhà Nguyện Chăn Chiên tại Bêlem, Nhà Thờ Chúa Chiên Lành tại Giêricô, Nhà Thờ Thăm Viếng tại En Karem, Vương Cung Thánh Đường Tabor, Nhà Thờ Bát Phúc tại Galilê…

H.V. Morton ca tụng nét độc đáo và tính đa dạng trong các thiết kế của Barluzzi, không do văn phong hay truyền thống kiến trúc nào cho bằng do lòng đạo hạnh của nhà sáng tạo. Vì mọi đền thờ của Barluzzi đều nhằm mục đích nói lên một đáp ứng xúc cảm đối với trình thuật Phúc Âm. Người ta nên so sánh nét ảm đạm uy nghiêm của Vương Cung Thánh Đường Diệtsimani ở Núi Cây Dầu với nét hân hoan đầy tính thánh ca Giáng Sinh của Nhà Nguyện Chăn Chiên tại Bêlem. Người ta cũng thấy cùng một nét tương phản như thế giữa Nhà Thờ Thăm Viếng tại Ain Karem và Vương Cung Thánh Đường Tabor; và giữa hai thánh đường này với Nhà Thờ Bát Phúc tại Galilê. Đức Hồng Y Celso Constantini, người qua đời trước Barluzzi hai năm, khi viếng Đất Thánh đã viết mấy dòng lưu niệm như sau: “Cơ Quan Trông Coi Đất Thánh đã khôn ngoan và may mắn chọn làm giám đốc các công trình nghệ thuật của mình tại Palestine nhà kiến trúc sư lỗi lạc người Rôma là Antonio Barluzzi. Được phú bẩm một bén nhậy sâu sắc về nghệ thuật tôn giáo, nhà kiến trúc sư này đã hiểu được nhu cầu phải làm sống lại thảm kịch Kitô giáo ngay tại chỗ này (in situ), và đã rút tỉa được cảm hứng cho các thiết kế nghệ thuật của mình từ tiếng nói của Chúa Kitô đang vang vọng từ những chỏm núi này, thung lũng kia và Mặt Hồ Genezaret này”.

Cuộc đời Barluzzi là một cuộc đời đáng tưởng niệm. Khi Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt, dù lúc ấy đã trở thành một kiến trúc sư có hạng, Barluzzi có ý định đi tu làm linh mục. Nhưng thay vì ơn gọi ấy, cha giải tội khuyên ông qua Đất Thánh để tái tạo các thánh đường. Ông vâng lời ra đi, sống với các tu sĩ Phanxicô như một tu sĩ Phanxicô chính hiệu, hoàn toàn tuân giữ luật Dòng. Không màng chi tiền tài hay danh vọng, ông chỉ một lòng dùng gỗ đá và bàn tay con người tạo nên những công trình đầy chất nghệ thuật để thay mặt Giáo Hội ca tụng Thiên Chúa giữa một thế giới càng ngày càng ra xa lạ với niềm tin Công Giáo. Các công trình của ông, cộng với niềm tin dai dẳng, trì chí, đầy kiên nhẫn “bám trụ” của người Palestine Công Giáo, chính là những viên đá sống động sẽ hiện diện hết sức lâu dài tại Đất Thánh, bất chấp mọi thoả hiệp chính trị có thể có từ bất cứ phe phái nào. Ngày nay, khó có thể có một sức mạnh nào đó dám phá đổ những viên đá sống động này. Xin ngả mũ chào nhà sáng tạo đạo hạnh, biết nhìn xa trông rộng, trồng ngay ngắn cây hiện diện Công Giáo giữa lòng một xã hội đang tìm mọi cách thu gọn sự hiện diện ấy. Một mình ông đã thực hiện được hầu hết công trình của mười mấy thập tự chinh thuở nào.

Morton hy vọng ông được người đời biết đến. Tuy nhiên cho đến hiện nay, cuộc đời ông hầu như đã bị đẩy vào quên lãng, rất ít người viết về ông và ông đã lặng lẽ qua đời tại Rôma năm 1960, sau một cơn nhồi máu cơ tim khiến ông bị điếc não (cerebral deafness) và khí thũng (pulmonary emphysema), mất hết trí nhớ và mù loà, gây ra do cơn xúc động bị nhà chức trách bác bỏ dự án xây dựng ngôi vương cung thánh đường mới cho Nadarét vào năm 1958. Morton, gặp ông mấy tuần trước khi ông lâm chung, nhận xét rằng: trước đây ông vốn là một ông già quắc thước, cao, gầy với mái tóc hoa râm, nhưng đau khổ đã biến ông “thành một ông thánh đang sinh thì, giống hệt các bức tranh của El Greco hay Ribera”. Morton không thể hiểu được tại sao một Kitô hữu đạo hạnh từng đem lại cho Đất Thánh một nét đẹp chưa từng có như thế lại kết thúc đời mình trong một hoàn cảnh bi thương như vậy. Nhưng thực ra, đó là cuộc đời của Antonio Barluzzi. Vì theo Canon Peter C Nicholson (2), Barluzzi sống cuộc sống của một tu sĩ Phanxicô đích thực, đơn giản và thánh thiện, hoàn toàn tránh xa sự dòm ngó của thế gian. Ông làm mọi sự chỉ để vinh danh Thiên Chúa và không bao giờ quan tâm tới danh tiếng bản thân. Ông là đầy tớ trung thành của Thầy Chí Thánh và mọi sự ông làm đều vì một mục đích duy nhất là để tôn vinh Thầy. Cha Pacifico Gori thuộc Christian Information Centre ở Giêrusalem, từng viết: Barluzzi từ bỏ mọi lợi điểm mà nghề nghiệp của ông có thể mang tới, và chỉ muốn sống và chết như một người nghèo với các tu sĩ Phanxicô tại Đất Thánh. Đối với nhiều người từng biết, từng qúy trọng và từng yêu mến ông, quả là cảm kích khi nghĩ rằng con người từng hiến cả cuộc đời mình một cách cao thượng để tôn kính và vinh danh Giêrusalem dưới thế không thể nào lại không được Chúa Cha mời gọi để trở thành viên đá sống động trên Giêrusalem thiên quốc”.

Điều đáng tiếc: người phiên dịch cho đoàn hành hương của chúng tôi, dù rất thông thạo Thánh Kinh và khoa khảo cổ, vì đã học 4 năm tại Pháp và hiện đang theo học tại Viện Thánh Kinh và Khảo Cổ Pháp ở Giêrusalem này, tỏ ra không biết gì tới Barluzzi.

Phía trên cửa vào Vương Cung Thánh Đường, người ta đọc được trích đoạn Phúc Âm Mátthêu 17:1-8 khắc vào tường đá, nói về việc Chúa Giêsu Biến Hình hay Hiển Dung. Nhưng cả ba Phúc Âm Nhất Lãm (Mc 9:2-8; Lc 9:28-36), khi tường thuật lại biến cố Hiển Dung, đều chỉ nhắc tới “một ngọn núi cao”, chứ không nhắc chi tới tên ngọn núi. Bởi lẽ đó, có người, cho đến bây giờ, vẫn cho ngọn núi cao này là Núi Hermon, chứ không phải Tabor, vì so với Hermon, Tabor chỉ là một ngọn đồi cao khoảng 500 thước, trong khi Hermon cao tới 2,700 thước.

Tabor đích danh chỉ được nhắc tới trong Sách Thủ Lãnh (Tl 4: 6-7) khi đề cập đến trận chiến quyết định giữa Barak của Israel và Sisera, thống lãnh đoàn quân Jabin, trong đó đoàn quân Sisera bị triệt hạ toàn bộ, Sisera phải bỏ trốn và chết dưới tay một thiếu phụ tên Jael. Và Sách Thánh Vịnh (Tv 89:13) đã nhắc đến Tabor cùng một lúc với Hermon: “Người sáng tạo phương trời Nam Bắc; núi Tabor cùng với đỉnh Hermon hò reo kính danh Người”.

Tuy nhiên, năm 348, Giám Mục Giêrusalem là Cyril cho rằng Núi Tabor mới chính là thánh điểm nơi Chúa đã hiển dung trước mặt ba môn đệ và đến cuối thế kỷ thứ 4, đã có một nhà thờ tại ngọn núi này. Đến năm 570, ba nhà thờ theo kiểu Byzantine đã được ghi chú là hiện diện tại nơi đây hay đúng hơn một nhà thờ lớn với ba nhà nguyện dâng kính Chúa Kitô, Môsê và Êlia. Vào khoảng cuối thế kỷ thứ 7, đã có một đan viện kiên cố cuả các đan sĩ người Armenian trên đỉnh Tabor. Qua thế kỷ thứ 9, người ta có nhắc tới một vị giám mục Hy Lạp tại thánh điểm này. Núi Tabor là một thánh điểm quan trọng thời Thập Tự Chinh và rất nhiều vị ẩn tu đã tới đây tu tập tại các hang động trên sườn núi. Khoảng năm 1099, một đan viện phụ Latinh đã được đề cử tới đây và lúc đó, ngôi nhà thờ lớn với ba nhà nguyện nói trên vẫn còn tồn tại tại thánh điểm này.

Năm 1631, Fakhr al-Din cho phép các tu sĩ Phanxicô sống trên đỉnh Tabor và phép này được chế độ Ottoman xác nhận nhiều lần trong các thế kỷ 17 và 18. Các tu sĩ này phần lớn sử dụng các phòng ốc cũ của lâu đài hoang phế cho đến khi họ tái khám phá ra ngôi nhà thờ đổ nát của Thập Tự Chinh vào năm 1858 và bắt đầu tái thiết nó. Năm 1924, ngôi nhà thờ hiện nay được hoàn tất, xây trên chính ngôi nhà thờ của thế kỷ 12, do kiến trúc sư A. Barluzzi thực hiện.

Bất kể lai lịch của nó ra sao, Tabor đã trở thành thánh điểm hành hương của Kitô hữu từ thế kỷ thứ 4. Lúc chúng tôi bước vào nhà thờ, đoàn hành hương của các sinh viên đại học Paris đang cử hành Thánh Lễ với sự đồng tế của hơn 7 vị linh mục. Bàn Thờ rực rỡ ánh sáng, đóng khung sau một cầu vồng muôn sắc, với phía cộng đoàn chìm trong một thứ ánh sáng lờ mờ, quả đã đưa chúng tôi trở lại với khung cảnh Hiển Dung ngày nào khiến Phêrô ngây ngất, hồn ra khỏi xác, nói như mơ: chúng con sẽ làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia. Những ba chìm bầy nổi của thừa tác vụ rao giảng sau đó đã làm Ông quên khuấy lời nói đó. Nhưng hậu thế Ông không quên và hiện nay ngôi nhà thờ chính và hai nhà nguyện kính Môsê và Êlia vẫn sừng sững trên đỉnh Tabor và đã được nâng lên hàng Vương Cung Thánh Đường.

(còn tiếp)

Ghi Chú

(1) In The Steps Of The Master, Methuen, 1934

(2) The Churches of Anttonio Barluzzi, compiled for McCabe Foundation Trust