Không ai phủ nhận chân lý: Giới trẻ hôm nay là xã hội, là Giáo Hội ngày mai. Một trong những nỗ lực của các Giáo Hội địa phương lẫn toàn cầu để xây dựng tương lai đó là tổ chức những ngày Đại hội Giới trẻ. Một vài ngày tập trung giới trẻ để sinh hoạt, để nghe thuyết trình, thảo luận, chia sẻ… quả là đáng quý, đáng trân trọng. Nhiều kết quả tốt đẹp thu hái được thật đáng khích lệ. Thế nhưng, gần đây, như một quả bom bùng nổ qua kết quả nghiên cứu của tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn và các cộng sự với đề tài: “Sự lựa chọn các giá trị đạo đức - nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên ở một số trường đại học tại TP HCM trong giai đoạn hiện nay”, một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ có tính khả tín rõ nét, cho dù con số sinh viên được tham khảo chưa đến 1000. Kết quả khảo sát cho thấy:

  • 36% sinh viên cho biết làm việc theo lương tâm sẽ bị thua thiệt;
  • 32% chấp nhận hành vi vô ơn;
  • 41% bảo rằng không nhất thiết phải sống cao thượng;
  • 28% có tư tưởng trả thù, báo oán;
  • 18% nói sẵn sàng đưa lợi ích cá nhân lên trên hết;
  • 60% đổ mọi trách nhiệm nuôi dạy con cái lên cha mẹ…
(Báo Pháp luật TPHCM ngày 22-6-2009; Tuần báo Cgvdt số 1713).

Biết rằng xưa lẫn nay, không có kết quả nghiên cứu nào mang tính khách quan hoàn toàn và phản ánh thực tại cách chính xác. Tuy nhiên với con số tuyệt đối là gần cả ngàn sinh viên được chọn lựa có chủ đích để mang tính đại diện thì kết quả nghiên cứu cũng mang nét khả tín cách nào đó. Hơn nữa, độ tin cậy của con số tương đối cũng khiến chúng ta giật mình để rồi cùng nhau đặt vấn đề, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, đến cung cách ứng xử, lối sống, nếp nghĩ của tầng lớp vốn là tương lai của xã hội. Đã khảo sát số liệu phản ánh một hiện tượng xã hội nào đó thì phải truy tìm nguyên nhân và đề ra giải pháp. Đây chính là mục đích nhắm của các nhà nghiên cứu, khảo sát. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn cùng các cộng sự ở trên, xin được góp một cái nhìn để truy tìm các nguyên nhân và từ đó đề ra một giải pháp khắc phục.

Trước hết chúng ta cùng điểm qua một vài nhận định của những người hữu trách hoặc có tâm huyết trong và ngoài Giáo Hội về thực trạng nền giáo dục tại Việt Nam.

Nhân ngày nhà giáo Việt Nam năm 2008, tác giả Hoàng Cúc qua bài viết về chuyện giáo dục đã nhận định rằng dân Việt chúng ta và nhất là nhũng vị nắm quyền điều hành đất nước đang mắc cái bệnh “tự huyễn hoặc”. Tự huyễn hoặc về bản thân, về dân tộc, về tập thể lãnh đạo là một trong những hình thức tự cao, tự đại, tự mãn. (x. bản tin Vietcatholic News- Thứ Ba 18/11/2008) Hệ quả tất yếu là không nhìn nhận đúng hiện trạng của mình, lừa dối kẻ khác và lừa dối cả bản thân. Dĩ nhiên bản thân nhận ra ngay sự không tương hợp giữa thực tại và điều mình nghĩ, điều mình nói, nhưng khi sự giả dối tồn tại cách lâu dài và mang tính phổ biến thì dần dà người ta an tâm trong sự giả dối ấy, chưa kể có khi, có người lại nhầm lẫn sự giả dối ấy là chân lý.

Ngay cả những vị hữu trách trong ngành giáo dục cũng đã nhìn nhận hiện trạng này khiến Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục đã phát động chiến dịch nói không với bệnh thành tích và sự gian dối trong thi cử. Năm 2009 Bộ Giáo Dục Đào tạo đã ra đề thi trong kỳ thi tuyển đại học khối C với nội dung yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống. Không lâu sau đó, báo Tuổi Trẻ đã mở diễn đàn “Sống trung thực, được gì?” (Tuần Báo CG và Dt số 1719 trang 9).

Trong cuộc trả lời phỏng vấn, tiến sĩ Trịnh Hòa Bình cho rằng căn bệnh giả dối của xã hội chúng ta hôm nay là hậu quả của ba tầng tàng dư văn hóa: xã hội phong kiến tôn thờ đạo Khổng, cái văn minh salon phong khách của Pháp và cái giáo điều, giả dối trong mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu cũ. (Vietnamnet Thứ ba 11/8/2009) Mức khách quan và chính xác của nhận định này ra sao chúng ta cũng nên xem xét. Tuy nhiên, cần chân nhận rằng cái nguyên nhân gây ra căn bệnh giả dối không thể xuất phát tư những người thấp cổ bé miệng hay khố rách áo ôm, mà phải từ những người ở địa vị cao, chức quyền lớn. Cha ông chúng ta đã thừa nhận sự thật này: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Một trong những sự bất chính của những người ở vai vế trên, đó là thiếu ngay thẳng với bản thân mình cũng như với xã hội. Bên cạnh đó, những luật lệ chế tài cũng thường thiếu công minh với những người bên trên khi họ vi phạm một lỗi gì đó. Quan xử tình, dân xử nhặt hoặc kiểu đứng nhìn con hổ tha con trâu mà tìm cách đánh cho được con mèo tha con cá vẫn còn là chuyện thường ngày. Tiến Sĩ Trịnh Hòa Bình đã làm so sánh: “Ở một số quốc gia có sự tương đồng về văn hóa với Việt nam chúng ta như Hàn Quốc, Nhật Bản, tại sao một cựu Tổng thống có thể tự tử vì xấu hổ, dĩ nhiên đã có nhận tội, tại sao một Thủ Tướng hay một vị Bộ trưởng sẵn sàng từ chức khi làm một điều gì đó sai trái hay khi để một hậu quả nào đó xảy ra, dù mình không trực tiếp gây ra, nhưng nó lại nằm trong phạm vi trách nhiệm của mình ? Còn ở Việt nam chúng ta thì sao đây ?

Một giáo viên bộc bạch tâm tình trên phương tiện truyền thông rằng cho dù phong trào nói không với bệnh thành tích đã phát động được vài năm, nhưng môi trường giáo dục vẫn còn rất nặng về thành tích (Tuổi trẻ ngày 21-7-2009). Cùng với giáo viên ấy, nhà giáo Khổng Thành Ngọc băn khoăn thêm: “đó là chưa kể đến môi trường công cộng mà người trẻ hằng ngày vẫn tham dự. Ở đó khó lòng phân định thật – giả, đúng – sai, phải – trái …ở đó không ít tình cảnh sự thật bị bóp méo, thiện chí bị nghi ngờ. Sự tráo trở, đổi trắng thay đen vẫn phơi bày trước mặt người ta (CG và DT số 1719 trang 9). Là Kitô hữu Công giáo, hẳn nhiên chúng ta đã không thể không bức xúc trước sự kiện các phương tiện truyền thông chính thức đã cố tình cắt xén để xuyên tạc, bóp méo lời phát biểu vốn rất chân tình, rất đầy tình yêu quê hương của Đức Tống Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt thời gian vừa qua mà cho đến nay vẫn chưa thấy một lời đính chính hay xin lỗi công khai.

Trong bối cảnh ấy, ngày 25-9-2008 Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã minh nhiên trình bày “Quan điểm của HĐGMVN về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay” mà một trong những nhận định ấy là: “Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối luơng tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường. Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và dân tộc, không thể không quan tâm đến tình trạng này”.

Cùng với những nhận định của các bậc vị vọng và những người đang thao thức với tiền đồ dân tộc trên, xin được góp một cái nhìn, cho dù rất có thể vẫn còn mang tính phiếm diện. Xin được mượn một phạm trù mà giáo sư Dương Ngọc Dũng đã dùng, đó là tình trạng “phi chuẩn”, đồng thời xin thêm một phạm trù khác là “sự lệch chuẩn” trong nhận thức của con người xã hội chúng ta nói chung.

Sự phi chuẩn trong nhận thức về nguồn gốc các hiện hữu:

Vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan của một trào lưu triết học hay của một tôn giáo nào đó đều là một cái nhìn dưới một góc cạnh nào đó về con người, về thế giới, về vũ trụ. Lịch sử nhân loại cống hiến cho chúng ta nhiều cái nhìn khác nhau, bổ túc cho nhau và có khi là đối nghịch nhau. Về nguồn gốc của các hiện hữu, chúng ta có thể xếp thành ba cái nhìn chính: nhất nguyên, nhị nguyên và vô nguyên (không có nguyên nhân nào). Cuộc sống và cách sống của con người chúng ta và của xã hội thường bị chi phối bởi cái nhìn về nguồn gốc các hiện hữu.

Dù là nhất nguyên hay nhị nguyên thì những cái nhìn này vẫn có chuẩn mực để hướng dẫn lối sống của con người. Trái lại với cái nhìn của triết học duy vật – vô thần thì sự hiện hữu của vũ trụ của con người không có nguyên nhân nào cả. Mọi sự hiện hữu được xem là tự nhiên nếu không muốn gọi là ngẫu nhiên. Đã là ngẫu nhiên thì có thể thế này, có thể thế khác và nhất là không mang giá trị nào cả. Nếu đã nhìn các hiện hữu này là do tự nhiên hay ngẫu nhiên và sự tồn tại của chúng là do sự đấu tranh sinh tồn thì con người sẽ chẳng chịu bất cứ sự chi phối nào bên trên. Ngoài ra nếu hiểu rằng sự tồn tại của bản thân là do kết quả của sự đấu tranh sinh tồn thì vô tình hay hữu ý chúng ta sẽ đặt lợi ích của chính mình lên trên hết, trước hết. Điều này dẫn đến hệ quả là ở các thể chế chọn quan điểm duy vật – vô thần làm nền tảng, sẽ có chủ trương lấy “mục đích biện minh cho phương tiện”, một lối hành xử trái với tiêu chuẩn luân lý tự nhiên và dĩ nhiên trái với luân lý Kitô giáo.

Để có độc lập, có tự do…người ta bất chấp mọi phương tiện, sẵn sàng sử dụng mọi hình thức bạo lực. Để bảo vệ cái thành quả được gọi là “cách mạng”, người ta cũng sẵn sàng sử dụng mọi hình thức độc đoán, độc tài, độc quyền lẫn độc ác. Để duy trì và phát triển lợi ích cá nhân hay tập thể của mình người ta sẵn sàng sử dụng mọi hình thức gian dối, bất công... Đã có đó nhiều nhà lãnh đạo các nước theo chủ nghĩa duy vật – vô thần như Gopbachop, Triệu Tử Dương, sau khi hồi tâm đã nhìn nhận rẳng hậu quả của chủ nghĩa duy vật – vô thần mà nhiều quốc gia chọn lựa chỉ đem đến bạo lực, hận thù, bất công, gian dối.

Khi đã đặt lợi ích của mình lên trên hết và khi nhìn nhận lợi ích ấy là do kết quả của sự đấu tranh sinh tồn thì người ta luôn cảnh giác với tha nhân như là “kẻ thù”. Chính vì thế mà các khẩu hiệu như cảnh giác với thù trong, giặc ngoài, cảnh giác với các thế lực thù địch, với diễn biến hòa bình, với thế lực phản động… được nêu lên nhan nhãn. Nếu tất cả là vì lợi ích của mình thì người ta không từ bỏ mọi thủ đoạn bất chính, gian tà. Để bảo vệ sự bất công thì người ta sẵn sàng sử dụng bạo lực. Để hợp pháp hóa sự bất chính thì người ta sử dụng sự gian dối. Và ngược lại người ta lại dùng sự bạo lực để duy trì sự gian dối. Nhiều người nhận định rằng hai hình thái gian dối và bạo lực luôn đi song hành với nhau, nếu chúng muốn tồn tại. Không có bạo lực thì sự gian dối sẽ bị vạch trần. Nếu sự thật được phát huy và gìn giữ thì bạo lực sẽ không còn có đất sống.

Sự lệch chuẩn trong việc thiết lập bậc thang các giá trị:

Đã là người thì phải sống có đạo đức. Đạo đức con người được quy định và thẩm định căn cứ trên các giá trị được nhìn nhận. Hệ thống giáo dục đất nước ta nói riêng và nhiều nước xã hội chủ nghĩa nói chung đã một thời lại đặt “đạo đức cách mạng” làm tiêu chuẩn hàng đầu và làm nền tảng cho việc thẩm định tư cách đạo đức con người. Ngoài ra người ta còn đồng hóa chủ nghĩa xã hội với quê hương, với dân tộc. Như thế đã có một sự lệch chuẩn trong việc thiết lập bậc thang giá trị. Vì vô tình hay vô tri và cũng có thể là cố ý, người ta đồng hóa những người không ủng hộ cách mạng là không có đạo đức, những người không yêu chủ nghĩa xã hội là không yêu nước. Chắc chắn tổ tiên ông bà chúng ta sẽ không hài lòng, đúng hơn là rất bất bình với cháu con, vì thời các ngài đâu có cách mạng và chủ nghĩa xã hội. Chưa kể đến đại đa số dân chúng hiện nay của cả gần như toàn thế giới (ngoại trừ vài nước còn theo chủ nghĩa xã hội) đang không theo hay không biết gì đến cách mạng vô sản hay chủ nghĩa xã hội.

Vì quá nhấn mạnh đến thuộc tính cách mạng nên chúng ta đã bỏ qua cái nền tảng là con người. Với công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986, hệ thống giáo dục nước nhà mới thoặt nhận ra sự khập khiễng, hụt hẫng này để rồi tìm cách xây dựng cái nền tảng là đạo đức làm người với các tiêu chí đạo đức truyền thống Đông phương như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, lòng tôn sư, sự hiếu đạo…Tuy nhiên, từ sự nhận thức đến thực tiễn hành động vẫn còn đó nhiều khoảng cách khó vượt qua, nhất là khi cái cơ chế duy vật vốn hình thành tâm lý duy hiệu năng bằng mọi giá đã thống trị, chi phối các hoạt động xã hội một thời gian khá dài.

Ngoài ra còn còn cần phải kể đến các chủ trương, chính sách đang làm bó tay những người có tâm huyết, các nhà đạo đức, các tập thể tôn giáo trong việc giáo dục con người. Sợ rằng chủ nghĩa xã hội sẽ bị người ta đào thải, đúng hơn là sợ rằng vai trò lãnh đạo, cầm quyền của mình bị lung lay (mất quyền lực sẽ kéo theo mất quyền lợi), nên những người cai trị đất nước vẫn còn cố giữ hệ thống giáo dục đào tạo của mình với một vài cố gắng cải cách mà thực tế là chưa đi đến đâu, thậm chí nhiều mặt còn tệ hại hơn trước.

Một vài giải pháp cho việc giáo dục:

Là con cái Chúa trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, cùng với Hội Đồng Giám Mục, chúng ta không thể và không được phép làm người đúng bên ngoài, bàng quan với tiền đồ đất nước, với tương lai của dân tộc và dĩ nhiên là với Giáo Hội Việt Nam. Trước tình trạng sự thật bị rẽ rúng, lòng cao thượng bị cho là vô ích, lương tâm đang thua lương tháng…, chúng ta cần xăn tay áo làm ngay những gì trong tầm tay và quyết vươn tới những gì đang ngoài tầm tay của mình để cải thiện nền giáo dục nước nhà, để đào tạo lương tri của người trẻ hầu góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho quê hương, dân tộc, cho Giáo Hội địa phương.

1. Nhận diện rõ chân tướng, nguồn gốc của bạo lực và sự gian dối: Chúa Kitô đã minh nhiên vạch trần bộ mặt của thần dữ: “Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối và là cha của sự gian dối” (Ga 8,44). Xuất hiện ngay từ đầu buổi lịch sử nhân loại, dưới hình con rắn, thần dữ đúng là tên xảo quyệt nhất, không ngừng tìm đủ cách để cám dỗ con người (x. St 3, 1).

2. Chỉnh sửa bản thân trong sự thật và tình nhân ái: Tu thân – Tề gia – Trị quốc – Bình thiên hạ. Một tiến trình như mang tính quy luật. Không ai có thể cho điều mình không có. Trước hết, trên hết, những người tiền bối, cha mẹ, ông bà, những bậc quyền cao, chức trọng, những người đang nắm trọng trách trong Giáo Hội hay ngoài xã hội, cách riêng nhưng người đang trực tiếp hay gián tiếp tham gia công tác giáo dục đào tạo… hãy hoàn thiện chính bản thân trong chân lý và tình yêu.

Để sống trong sự thật chắn chắn cần sự can đảm và khiêm nhu. Sự thật nhiều khi dễ mất lòng. Nói lên sự thật nhiều khi sẽ mất phần. Bảo vệ sự thật nhiều khi phải thiệt thân. Nhìn nhận sự thật, nhất là những sự thật không hay, chẳng đẹp của bản thân thì không dễ chút nào. Cái danh vọng hảo dù biết rằng hảo, nhưng cũng khó từ bỏ làm sao. Một trong những sự thật cần đối diện và nhiều khi cần thú nhận với tha nhân là ta không toàn tri, toàn năng và toàn hảo. Nói cách khác, sai và lầm là chuyện đương nhiên của kiếp người. Xin chớ quanh co, bào chữa hay dùng kế sách cả vú lấp miệng em. Giới trẻ hôm nay không còn quá đơn sơ “kiểu khù khờ” đâu, nhất là với sự trợ lực của nền công nghệ thông tin hiện đại. Hơn nữa, dù ta có thể lừa dối một người nhiều lần, hay ta có thể dối lừa nhiều người một lần, nhưng ta thật khó lòng lừa dối nhiều người nhiều lần, cách riêng là Kitô hữu, chúng ta tin nhận rằng không một ai có thể ‘qua mặt” Đấng thấu suốt mọi bí ẩn tâm can.

Để sống trong tình yêu, ngoài ân sủng Chúa ban thì không gì hơn hãy truy vấn về ý nghĩa mục đích đời mình cũng như nguồn gốc sự hiện hữu của mình. Đã có hai ngài tiến sĩ nước ta hành hạ cách nhẫn tâm người mẹ sinh ra mình suốt trên hai mươi năm ròng rã, đã biện minh rằng mình làm người, chào đời chỉ do ngẫu nhiên qua sự kết hợp của hai cá thể khác giống khi tìm thú vui thể xác. Trước hiện tượng cá biệt này thì nguyên người bình thường trong xã hội cũng xá dài và kết luận: “hết nói”. Quả thật làm sao có thể nói chuyện với hai tiến sĩ mà chưa thành người !

Khi nhìn nhận mình làm người, chào đời là do một ai đó, nhờ những ai đó, thì chắc hẳn sự việc làm người của ta không ngẫu nhiên chút nào nhưng sẽ vì ai đó, cho những ai đó. Câu hỏi: Ta sống ở đời này để làm gì ? Đã từng là câu hỏi đầu tiên trong sách giáo lý Công giáo. Không nguyên gì người Công giáo, các bậc hiền triết, các thức giả, những người có lương tri cũng thường trăn trở với nội hàm của câu hỏi này, tức là mục đích, ý nghĩa của đời người.

Không ai là một hòn đảo. Nhốt riêng, nuôi riêng một con vật như con chó, con heo, con gà…thì lớn lên chúng vẫn thành gà thành heo thành chó… còn con người nếu không có tha nhân, như một vài trẻ lạc trong rừng thì khi lớn lên chúng sẽ không trở thành người đúng nghĩa. Như thế, tính xã hội không chỉ là một thuộc tính của con người mà còn là một yếu tính làm nên con người. Đã là người thì phải ở trong tương quan với ai đó. “ Trăm năm trong cõi người ta”, thi hào Nguyễn Du mở đầu pho tình sử “ Truyện Kiều” như thầm khẳng định rằng cõi đời này không riêng gì của một ai. Đã có ta là phải có người. Ta chỉ là ta trong tương quan với người. Tấm lòng nhân được dệt xây trên nền tảng chân lý này. Sống mà không có tấm lòng thì chưa phải là người cách đúng nghĩa. Con người không chỉ là hữu thể trong các mối tương quan với tha nhân xét theo không gian địa lý của hôm nay mà còn với những người đi trước và với các thế hệ tiếp bước theo sau. Chính vì thế, khi đã là người thì phải biết gắn bó với cội nguồn tiên tổ và phải biết sống cho có hậu.

3. Kiến tạo môi trường sống đầy tình nhân ái và trong sự thật. Môi trường đầu tiên phải nói đến đó là gia đình. Thẳng thắn, trung thực là những yếu tố không thể thiếu để gìn giữ sự bền vững của tình yêu hôn nhân và gia đinh. Cần thừa nhận rằng mối dây hôn nhân và tình nghĩa huyết nhục là môi trường thuận lợi để cho sự thật hiện diện và tình yêu phát triển. Trong môi trường này, chính người cha, người mẹ là những người có trách nhiệm hướng dẫn giáo dục con cái sống trong sự thật, tôn trọng sự thật, giáo dục con cái tấm lòng nhân ái, sống quảng đại yêu thương.

Kế đến là trường học mà ở đó vai trò của các thầy cô giáo thật quan trọng. Các vị ấy đã được ví là những kỷ sư tâm hồn. Đến tuổi đến trường thì con trẻ chịu ảnh hưởng thầy cô giáo rất lớn. Cô giáo không chỉ như mẹ hiền mà nhiều khi với trẻ bé, lời dạy của thầy cô còn “nặng ký” hơn cả mẹ cả cha ở nhà. Nhiều người thành danh, có vị vọng trong xã hội luôn ghi khắc hình ảnh và lời dạy bảo các thầy cô giáo mẫu mực đã giúp họ, lớn lên, trưởng thành và vào đời. Một thầy cô giáo vừa độ lượng, vừa công minh và công tâm sẽ giúp học sinh biết sống trung thực và yêu mến sự thật, biết sống tương thân tương ái và quảng đại dấn thân quên mình.

Ngoài ra còn phải kể đến các môi trường lưu xá, trọ học của các em học sinh, sinh viên. Nếu những người phụ trách các nơi ấy có tấm lòng và biết cách hướng dẫn thì không chỉ hạn chế được những tệ nạn thường có nơi mà nhiều thanh thiếu vốn khác nhau về xuất xứ, về hoàn cảnh gia đình nay lại chung sống với nhau, mà trái lại có thể giúp các bạn ấy sống trưởng thành, có tinh thần trách nhiệm và tình liên đới. Muốn được vậy thì trước hết cần phải có những luật lệ, quy định nghiêm minh, rõ ràng. Ngoài tấm lòng nhân và bản lãnh sư phạm, thì các vị hữu trách cũng cần có những sáng kiến tạo những hoạt động bác ái xã hội giúp những em trọ học sống tình liên đới với tha nhân theo khả năng và hoàn cảnh.

Các môi trường đặc biệt như chủng viện, tu viện thì đã có Giáo Hội chỉ dạy cách tường tận và sâu sát. Xin được bỏ qua các môi truờng này.

Chúng ta không thể không nói đến môi trường giáo xứ với các lớp giáo lý, các sinh hoạt hội đoàn… Hiện tượng các em thiếu nhi làm bài thi giáo lý vẫn quay cóp là chuyện cũng không hiếm. Đại Chủng Viện Hà Nội khi tổ chức thi tuyển ứng sinh cũng đã từng đề ra các tiêu chí mà một trong các tiêu chí ấy là sự thành thật khi làm bài kiểm tra. Ứoc gì các linh mục quản xứ cùng các cộng tác viên nỗ lực biến các giáo xứ thành những mái gia đình thực sự.

Cuối cùng là các môi trường ngoài xã hội: công sở, chợ phố…Với những môi trường này, chắc chắn không thể thiếu các luật lệ nghiêm minh cùng với những chế tài công thẳng. Chắc hẳn các tổ chức xã hội, các quốc gia không thể lơ là chuyện này. Tuy nhiên vấn đề cần đặt ra là thái độ thực thi luật lệ của những người “lập pháp, hành pháp và tư pháp” ra sao, có công bình và ngay thẳng không ? “ Pháp bất vị thân”. Nếu lời dạy của cha ông được chân thành tuân giữ thì công lý và sự thật sẽ ngự trị, đồng thời tình người từ đó sẽ rộng lan.

4. Giáo dục con em biết cách kiếm tìm các thiện hảo bằng những phương thế chính đáng, hợp pháp, tôn trọng sự công bình, trong tình liên đới và chí cống hiến. Học hành để đổ đạt cao là điều tốt, thi đổ để có văn bằng, chứng chỉ là điều tốt, có được một nghề để sinh sống là điều tốt, có được một vai trò, vị trí quan trong trong xã hội là một điều tốt, kiếm được nhiều tiền cũng là điều tốt…Tuy nhiên cần hướng dẫn giáo dục làm sao để con em chúng ta nỗ lực, gắng công tìm kiếm các thiện hảo ấy cách hợp pháp và chính đáng, nghĩa là trong sự công bình, trong tình liên đới và chí cống hiến.

Một học sinh cố công học tập rồi làm bài, thi cử cách ngay thẳng, không quay cóp hay giở tài liệu là đang sống trong sự thật. Em không chỉ học cho mình mà còn biết giúp đỡ các bạn học kém, đó là đang sống tình liên đới. Học ngành y không chỉ mai ngày làm bác sĩ kiếm tiền mà còn mang hoài bão sẽ tìm ra những phương thế, phương thuốc chữa trị các bịnh nan y thì đó là người đang có chí cống hiến.

5. Gợi mở một cái nhìn về chiều sâu thuộc linh, xây dựng một lối sống, một cung cách ứng xử cao thượng, biết hướng thượng. Là Kitô hữu, chúng ta không thể bỏ qua chiều kích tâm linh. Trong đức tin, chúng ta xác quyết rằng không ai có thể làm được điều gì tốt đẹp nếu không có ân sủng Chúa ban. Chúa Kitô đã khẳng định: “Không có Thầy, chúng con không làm được sự gì” (Ga 15,5). Là những nhà giáo dục Kitô giáo, chúng ta cần khai mở cho thanh thiếu niên biết nhìn các sự vật hiện tượng với cái nhìn vượt quá những gì khả giác, biết xem xét bản chất hơn là dừng lại ở hiện tượng, biết truy tìm nguyên nhân các hiện hữu cho đến cùng, biết trân trọng các giá trị tinh thần hơn là những giá trị vật chất, biết nghĩ đến thực tại thường tồn hơn là chỉ dừng lại ở những thực tại chóng qua, nhất thời…

Để đạt điều này thì ngoài các cử hành Phụng vụ, các em cần được tiếp cận với Lời Chúa thường xuyên để Lời Chúa trở thành một loại hình văn hóa chi phối nếp nghĩ, cung cách ứng xử, các hoạt động của các em một cách tự động, tự nhiên. Bên cạnh đó chúng ta cần phải tập cho các em thói quen cầu nguyện hằng ngày. Việc dâng mình ban sáng và kiểm điểm bản thân khi đêm về không phải chỉ là những thói quen đạo đức mà đúng là những nhân đức đáng quý và rất hữu ích. “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,17). Những hoạt động bác ái, tông đồ cụ thể là những phương thế giáo dục, đào tạo rất hữu hiệu. Qua những hoạt động cụ thể ấy các em không chỉ phát triển các khả năng mà còn lớn lên trong nhận thức cũng như niềm tin, đồng thời hoàn thiện bản thân mình.

Cha ông chúng ta nhận thức sự thật này: “Tùng thiện như đăng, tùng ác như băng”. Leo núi là công việc đòi hỏi nhiều gắng công. Để cho tương lai của xã hội và của xã hội mang mầu sắc tươi sáng thì cùng với ơn Chúa, các nhà giáo dục cần phải đào tạo giới trẻ cách toàn diện trong sự kiên trì và bền bỉ.