Biển nhiều tên
Tại Nadarét, trước khi viếng Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, chúng tôi rẽ qua viếng Nhà Thờ Hội Đường, do Giáo Hội Công Giáo Melkite Hy Lạp sở hữu, nằm về phía cuối Chợ Chính. Theo Phúc Âm Luca, được vị tuyên úy đọc lớn tiếng giữa căn phòng, chính tại Hội Đường này, Chúa Giêsu đã mở sách Isaia mà cho người đồng hương biết rằng mình là Đấng Được Xức Dầu. Nhưng họ chỉ biết Người là “con ông Giuse” và vì quá tức giận, họ đã đem Người “lên tận đỉnh núi” dự tính xô Người xuống vực thẳm.
Núi ấy được truyền thống nhận dạng là Núi Vực Thẳm (Mount Precipice hay Mount Kedumim), tọa lạc ở bên ngoài Nadarét, khá xa với Nhà Thờ Hội Đường (ít ra cũng khoảng 3 cây số). Lúc đi viếng Núi Tabor, đoàn hành hương chúng tôi có đi qua núi này, nhưng không dừng lại. Triền ngọn núi quả dựng đứng, không giống các ngọn đồi trong nội thành Nadarét. Bị xô xuống đó, người bị xô chết là phần chắc. Nhưng Chúa đã thoát được. Điều đáng ghi nhận là trong chuyến tông du gần đây của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Núi Vực Thẳm đã được chọn làm địa điểm nghênh đón ngài tại Nadarét và chính tại đây ngài đã đọc bài diễn văn kết thúc Năm Gia Đình.
Như thế, chúng tôi đã viếng hầu hết các nơi thánh tại Nadarét, ngoại trừ Vương Cung Thánh Đường Chúa Giêsu Niên Thiếu, do các cha Salêdiêng quản lý, và Nhà Thờ Chúa Kitô do Giáo Hội Anh Giáo sở hữu.
Ngày hôm sau, chúng tôi đi viếng các thánh điểm quanh vùng Hồ Galilê. Khối nước ngọt khổng lồ dài 22 cây số, rộng 12 cây số này được người Kitô giáo biết nhiều nhất dưới cái tên vừa kể, một cái tên mà Morton cho là dịu dàng bậc nhất và dù tách biệt nó khỏi thừa tác vụ của Chúa Giêsu, nó vẫn là một từ ngữ đáng yêu vì chỉ cần nghe ba vần của nó, người ta cũng đã như thể nghe thấy tiếng nuớc hồ vỗ vào bờ. Nó êm ru không như tên Giuđêa cứng cỏi, nó dịu dàng không như Giuđêa hung dữ. Không cần viếng Đất Thánh, người ta cũng thấy được cái cứng cỏi đất đá của Giuđêa và nghe được tiếng nước rơi từ các mái chèo trên Galilê.
Ngoài tên Hồ hay Biển Galilê ra, Tân Ước còn dùng tên Hồ hay Biển Tiberias để gọi khối nước này (Ga 6:1), có lẽ vì nó gần thị trấn Tiberias, do Vua Hê-rô-đê An-ti-pa thiết lập và đặt tên theo Hoàng Đế Rô-ma Tiberius. Phúc âm Luca (5:1) thì gọi nó là Hồ hay Biển Gennesaret, theo một bình nguyên mầu mỡ nằm về phía tây. Cựu Ước, trái lại, gọi nó là Biển Chinnereth hay đọc là Kinnereth (Ds 34:11; Gs 13:27). Tên này có thể phát xuất từ chữ kinnor trong tiếng Hi Bá Lai, có nghĩa là cây đàn harp hay cây đàn lyre vì hình thù của Biển rất giống hai loại nhạc cụ này. Trên đường từ khu Kibbutz Ginosar xuống thuyền trên Biển Galilê, chúng tôi có thấy người ta trưng bày hai loại nhạc cụ này.
Điều trên cho thấy, đối với người Do Thái, họ thích dùng tên Kinneret hơn. Sở dĩ như thế, vì người Do Thái vốn không ưa những gì dính dáng tới Tân Ước. Mặt khác cái tên Galilê cũng không được họ thích nghe. Vì Galilê vốn có nghĩa là “vòng đai hay vùng dân ngoại”, nó chưa bao giờ có tính Do Thái hoàn toàn, ngay từ thời xa xưa. Salômôn từng hiến 10 thành thuộc Galilê cho Hiram, Vua của Tyre, để trả một phần món nợ xây đền thờ Giêrusalem. Những thời kỳ tiếp theo cũng đã xẩy ra nhiều cuộc xâm lấn của Dân Ngoại. Nên người Do Thái Giáo Chính Thống tại Giêrusalem luôn nhìn người Galilê với con mắt khinh miệt và từng cười nhạo giọng nói địa phương của họ, như câu truyện “chối Chúa” của Phêrô đã chứng tỏ. Nhưng vùng ấy là vùng thân thiết của Chúa Giêsu, quê hương Nadarét của Người không xa nơi này bao nhiêu, và nơi này là địa bàn rao giảng của Người, nó là thửa đất mầu mỡ cho lời của Người từ một hạt cải nhỏ xíu trở thành cây cao nhiều cành. Morton bảo mỗi lần nghe tiếng Galilê, tâm trí ông đều gợi lên hình ảnh Người, không phải hình ảnh Đức Kitô như trong lời giảng của Phaolô, mà là hình ảnh Chúa Giêsu thân thiết nhất với tâm hồn ta, Đấng đã để trẻ em tới với mình và rao giảng một phúc âm đầy yêu thương và lân tuất cho người khiêm hạ, đơn sơ và trĩu nặng.
Địa điểm đầu tiên của vùng Biển Galilê mà chúng tôi tới thăm là Tagbah. Đây không phải là một thành phố mà là một khu vực nhỏ ở bờ tây bắc, không xa Caphácnaum. Thời xưa, Tagbah cũng được biết dưới tên Heptapegon có nghĩa là Chốn Bẩy Nguồn, vì có tới bẩy con suối cung cấp nước ấm, làm gia tăng lượng tảo (algae) cho vùng biển này, mà tảo thì rất lôi cuốn đối với cá. Chính vì thế, các ngư phủ kéo nhau tới Bẩy Nguồn cả hàng mấy ngàn năm nay. Đến thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, Bẩy Nguồn trở thành địa điểm quen thuộc để khách hành hương thời Byzantine nghỉ ngơi và dùng bữa ăn ngoài trời, nhờ nó có nhiều bóng cây và nhiều cá mú ngon miệng. Nên không phải là tình cờ mà hai trong ba thánh điểm hành hương tại vùng này có liên hệ tới thực phẩm dư thừa: phép lạ hóa bánh trong thừa tác vụ Galilê của Chúa Giêsu và bữa sáng với cá bên hồ sau khi Chúa sống lại. Ngọn đồi bên trên hai nơi đó chính là Núi Bát Phúc, nơi Chúa Giêsu giảng bài giảng bất hủ trong lịch sử nhân loại.
Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá (cũng gọi là Nhà Thờ Hóa Nhiều) là một nhà thờ hiện đại, nhưng được xây trên địa điểm một nhà thờ có từ thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Nó duy trì được một tranh ghép rất tuyệt diệu của Kitô Giáo sơ khai cũng như viên đá truyền thống trên đó bữa ăn lạ lùng đã được dọn ra. Bữa ăn này được thuật lại trong Máccô 6:30-44. Chúa Giêsu đã cho năm ngàn đàn ông và chắc chắn nhiều hơn thế các đàn bà và trẻ em ăn trưa bằng năm chiếc bánh và hai con cá được Người hóa ra nhiều, nhiều đến nỗi đám đông ăn no nê mà vẫn dư tới 12 thúng đầy bánh và cá vụn.
Theo Egeria, một nhà hành hương người Tây Ban Nha thuộc thế kỷ thứ 4, phiến đá trên đã trở thành một bàn thờ và tín hữu đến kính viếng thường đục lấy những mẩu đá nhỏ đem về lấy hên. Có lẽ vì thế nay phiến đá chỉ còn vào khoảng 1 x 0.60 x 0.14m, nằm dưới một bàn thờ mà phía trước có một tranh ghép rất đẹp, mới được phục hồi, mô tả hai con cá nằm hai bên một giỏ bánh. Không ai được phép đục đẽo nó nữa. Đoàn hành hương chúng tôi chỉ được phép chụp hình và hôn kính nó mà thôi.
Một phiến đá thứ hai cũng được nhận dạng từ lâu là phiến đá trên đó Chúa Giêsu Phục Sinh dọn bữa sáng cho các môn đệ bên bờ hồ Galilê. Hôm ấy, thấy Chúa Giêsu Phục Sinh trong ánh lửa bập bùng của buổi sáng tinh mơ, không một môn đệ nào dám lên tiếng hỏi xem người dọn bữa cho họ là ai. Vì còn là ai khác “chịu” giúp họ bắt được nhiều cá và còn dọn bữa sáng với đủ cả cá và bánh (lại cá và bánh nữa) cho họ một cách thân tình đến thế, ngoài Thầy mình (Ga 21). Phiến đá này, nằm trong Nhà Thờ Thánh Phêrô Tối Thượng Quyền, cũng thuộc Tagbah, to hơn phiến đá trong Nhà Thờ Hóa Nhiều và vì thế nằm choán phía trước một bàn thờ nhỏ, trông có phần “sạch sẽ” hơn, được đặt tên hẳn hòi là Mensa Christi (Bàn ăn của Chúa Kitô).
Gọi là Nhà Thờ Tối Thượng Quyền là để nhấn mạnh đoạn cuối câu truyện trong đó, Chúa Giêsu trao quyền chăm sóc các chiên và chiên con của Người cho Thánh Phêrô, sau khi hỏi ông có yêu Người không ba lần. Nhà hành hương Egeria nhắc tới thánh điểm này khi cho biết: gần Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá, “là một số bậc đá mà Chúa Giêsu đã đứng trên đó”. Có lẽ bà muốn nhắc tới những bậc bằng đá nằm về phía Hồ của Nhà Thờ. Người ta không rõ những bậc đá này có từ bao giờ, nhưng rất có thể đã có từ thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 lúc người ta khai thác hầm đá vôi ở đây. Điều lý thú là bên dưới các bậc đá này có sáu hàng cột đôi hình trái tim được đặt tên là Mười Hai Tòa. Có lẽ chúng được lấy từ một tòa nhà hoang phế, đem về đây để tưởng niệm Mười Hai Tông Đồ, theo câu nói của Chúa Giêsu trong Phúc Âm Luca “Để các con được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en” (Lc 22:30).
Egeria không nhắc gì tới ngôi nhà thờ nào tại đây. Nhưng từ cuối thế kỷ thứ 4, đã có một nhà thờ tại thánh điểm này. Đến thế kỷ thứ 9, ngôi nhà thờ tại đây được nhắc đến dưới tên Nhà Thờ Than Hồng với Mười Hai Tòa đã được đặt ở đó để tưởng niệm Mưới Hai Tông Đồ. Ngôi nhà thờ nhỏ hiện nay do Dòng Phanxicô xây năm 1933, bằng đá xám, tại ngay bờ tây bắc của Hồ Galilê. Tại chân tường nhà thờ về phía tây, người ta còn thấy rõ các bức tường của nhà thờ thế kỷ thứ 4. Morton nhận định rằng: Dòng Phanxicô luôn có cái nhìn khảo cổ chính xác và giá trị, không như phần lớn các nhà thờ của Chính Thống Giáo tại vùng này. Khách hành hương sau khi viếng Nhà Thờ, có thể tản bộ và ngâm chân dưới làn nước mát của Biển Hồ Galilê đang lăn tăn gợn sóng không xa.
Thánh điểm thứ ba tại Tagbah là Núi Bát Phúc, có ngôi nhà thờ bát giác nổi tiếng của Barluzzi, mà không một khách hành hương nào bỏ qua. Đoàn hành hương chúng tôi tới đó để dâng Thánh Lễ trong ngày. Phúc âm hôm đó dĩ nhiên là Mátthêu 5: 1-12: Bài Giảng Trên Núi hay Hiến Chương Nước Trời, đề cập tới tám mối phúc thật. Tám mối phúc này được in bằng tiếng Latinh, trên tám tấm kính mầu, gắn tại tám góc của mái vòm nhà thờ.
Từ thế kỷ thứ 4, khách hành hương đã tuốn đến đây để tưởng niệm Bài Giảng Trên Núi, như lời tường thuật của Egeria. Sau khi nhắc tới Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá, bà cho hay: “Gần đấy, trên núi cao, có một cái động được Chúa Cứu Thế leo lên và giảng Các Mối Phúc”. Vết tích ngôi nhà thờ nhỏ thuộc thế kỷ thứ 4 đã được tìm thấy ở chân đồi phía dưới nhà thờ hiện nay, có cả vết tích của một đan viện nữa. Còn nhà thờ hiện nay được xây dựng năm 1938. Đó là một ngôi nhà thờ, tuy nhìn bên ngoài khá cao và lớn, nhưng có nội cung nhỏ. Chính vì thế, chúng tôi không được cử hành Thánh Lễ trong đó, mà được chỉ thị rước cha từ trong nhà thờ tiến lên một bàn thờ ngoài trời ở trên đồi để cử hành. Từ bàn thờ này, chúng tôi được chiêm ngưỡng toàn bộ khung cảnh nhà thờ trên tấm phông xanh ngát của Biển Hồ Galilê, giữa một khung cảnh mát rượi của cây cao bóng cả. Khung cảnh này quả thích hợp để dân chúng tụ tập nghe bài giảng vô cùng độc đáo của Thầy Chí Thánh. Các nhà nghiên cứu cho rằng đó cũng là động lực khiến các khách hành hương “tái khám phá” ra nơi Chúa giảng này để vừa vang vọng lời của Người vừa ngắm toàn diện khung cảnh những nơi Người từng sống và giảng dạy (4).
Con thuyền Giêsu
Tuy nhiên, cao điểm trong ngày phải kể là cuộc đi thuyền trên Biễn Hồ Galilê. Đoàn hành hương chúng tôi băng qua khu Kibbutz Ginosar để lên riêng một chiếc thuyền gỗ tương đối còn mới và sạch sẽ có khoảng bốn người phục vụ. Thuyền mang cờ Do Thái và người đàn bà trưởng toán nói tiếng Anh rất thành thạo. Bà hãnh diện cho rằng thuyền của bà là một mô phỏng Con Thuyền Giêsu thuộc thế kỷ thứ nhất mà hai anh em Moshe và Yval Lufan, vốn là các ngư phủ thuộc thế hệ thứ hai của Kibbutz này, mới tìm ra năm 1986. Tiếc rằng chúng tôi không được vào Bảo Tàng Viện Yigal Allon nằm ngay trong khu Kibbutz Ginosar, nơi trưng bày Con Thuyền Giêsu này, nên không kiểm nghiệm được lời nói của người trưởng toán chiếc thuyền gỗ đưa chúng tôi lênh đênh trên Biển Hồ từng là nơi diễn ra khá nhiều phép lạ của Chúa Giêsu, được Người dùng làm phương tiện đào tạo các môn đệ của Người. Tại đây, Người từng dẹp yên sóng gió (Mt 8:23-27), bước đi trên nước (Mt 14:24-33), giúp các môn đệ thu hoạch mẻ cá lạ (Ga 21:6) và từng ngồi thuyền để dạy dỗ dân chúng (Mc 4:1-2).
Khác thuyền của các môn đệ ngày xưa, thuyền chở chúng tôi chạy bằng động cơ, với tay lái đặt ở một khoang thuyền trên cao, đứng ở đó, người điều khiển có thể bao quát cả vùng chung quanh. Nhưng điều ấy vẫn không tránh được một tai nạn suýt xẩy ra với một toán đua xe máy nước cận kề. Rất may, chiếc thuyền thắng kịp.
Thuyền đưa khách hành hương đi một vòng, đủ thì giờ cho chúng tôi cùng nhau đọc và suy niệm đoạn phúc âm Chúa dẹp yên sóng gió và suy niệm về những can thiệp của Chúa trong cuộc đời mình. Phải nhận một điều: cũng đoạn phúc âm đã được đọc và suy niệm nhiều lần này nay vang lên một âm sắc thật đặc biệt như ru hồn khách hành hương trở lại với gần hai ngàn năm trước để cùng đồng hành với Thầy Chí Thánh và các môn đệ của Người, những người ngư phủ tầm thường và xoàng xĩnh, đến sóng gió vật lý cũng run sợ, nhưng được Thầy vừa huấn luyện vừa ban sức mạnh cho, đã đủ can đảm vượt bất cứ thứ trùng khơi nào sau này, kể cả trùng khơi chính trị và tôn giáo, để xây dựng Nước của Người. Chúng tôi còn ở rất xa lý tưởng ấy.
Và vì bụng bắt đầu đói, nên người trưởng đoàn đã dẫn chúng tôi vào một nhà hàng gần đó. Dường như nhà hàng này là nhà hàng duy nhất trong vùng cung cấp bữa ăn đặc biệt trong đó bắt buộc phải có món Cá Phêrô. Hầu hết các đoàn hành hương đều đổ dồn về đây để dùng bữa. Lúc chúng tôi tới, hầu như các dẫy bàn của nhà hàng đều đã có người chiếm dụng. Họ thuộc đủ các quốc tịch và ngôn ngữ khác nhau và ai cũng hân hoan thưởng thức nguyên một con Cá Phêrô, được chiên dòn, sắp sẵn trên một chiếc dĩa lớn. Phục vụ trong nhà hàng toàn là nam giới. Họ rất thành thạo, và không khách hành hương nào phải chờ đợi lâu trước khi con Cá Phêrô được bưng lên thơm phức. Loại cá này hiển nhiên có rất nhiều trong vùng. Lúc chúng tôi ăn ở đó, ít nhất số thực khách cũng phải là 200 người và còn nhiều đợt khác nữa. Ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng nọ, chưa hề nghe có ai tới Hồ Galilê lại không ăn Cá Phêrô. Thực ra, tại biển Galilê có đến ba loại cá. Cá mòi (sardine) có lẽ là loại cá nhỏ mà cậu bé trong Phúc Âm cung cấp để Chúa Giêsu hóa nhiều, nuôi hơn 5,000 người. Loại cá thứ hai là loại cá dầy có râu mép tiếng Anh gọi là barbel. Loại cá thứ ba chính là Cá Phêrô trông giống như cá rô nhưng to và dẹp hơn, có con nặng tới 1 ký rưỡi, tiếng Anh gọi là musht. Không hiểu tại sao, người ta gọi loại cá này là Cá Phêrô. Nhưng nếu Thánh Phêrô chuyên môn đi lùng loại cá này mà đánh, thì hẳn ngài phải phát đạt lắm, vì loại cá này ai ăn cũng khoái. Người nào trong chúng tôi cũng cho rằng bữa trưa hôm nay là bữa trưa ngon nhất trên Đất Thánh.
Tại vùng Biển Hồ Galilê, chúng tôi còn tới viếng thánh điểm Caphácnaum mà ngày xưa vốn là địa bàn hoạt động của Chúa Giêsu và các môn đệ. Khu chúng tôi tới thăm nằm ngay bên cạnh Biển Hồ Galilê, về phía bắc, được rào chung quanh, có tấm biển trên cổng ra vào viết hàng chữ “Caphácnaum của Chúa Giêsu”. Điều ấy quả không ngoa, vì Mátthêu 9:1 và Máccô 2:1 gọi nó là “thành của Người”. Ở đấy, Người thực hiện rất nhiều phép lạ. Dù sao, nó cũng là thành của hai môn đệ đầu tiên: Phêrô và Anrê (Mc 1: 29). Tại đây, Người cũng kêu gọi anh em Giacôbê và Gioan (Mc 1:16), rồi Mátthêu (Mc 2:13). Tuy nhiên, cũng như Nadarét, Caphácnaum từng bị Chúa nguyền rủa: “Vào ngày chung thẩm, Xôđôm sẽ được xử khoan hồng hơn ngươi” (Mt 11:23-24).
Tại khu khảo cổ này, chúng tôi được viếng Nhà Thờ Caphácnaum. Nhà thờ này được xây trên địa điểm truyền thống vẫn cho là nhà của Thánh Phêrô. Đây là một căn nhà nằm gần bãi biển, thuộc khu nghèo nàn vì tường làm bằng đá đen basan, có mái nhẹ và không cửa sổ (nên phải đục mái để hạ người bất toại xuống, xem Mc 2:1-2). Có bằng chứng cho thấy từ giữa thế kỷ thứ nhất, một phòng của căn nhà đã được để riêng ra cho công chúng sử dụng và khi Egeria tới đó năm 381, bà cho hay, căn nhà của “thủ lãnh các tông đồ đã được biến thành một nhà thờ, với các tường nguyên thuỷ vẫn còn đấy”. Qua thế kỷ thứ 5, một nhà thờ lớn hơn, hình bát giác thay thế nhà thờ cũ. Và năm 570, nhà hành hưoơg người Piacenza cho hay “nhà Thánh Phêrô nay là một vương cung thánh đường”. Sau thời gian này, Caphácnaum hầu như bị bỏ hoang, đến cả Thập Tự Chinh cũng không lưu ý tới. Một du khách vào thế kỷ 13 cho hay thị trấn này chỉ còn khoảng bẩy căn nhà của các ngư phủ nghèo nàn.
Phải chờ đến thế kỷ 19, các tu sĩ Dòng Phanxicô mới tới đây mua đất đai, dựng hàng rào, trồng cây cối làm nơi dừng chân cho khách hành hương. Và họ bắt đầu các công trình khai quật và trùng tu trong các năm từ 1905 tới 1926. Nhà Thánh Phêrô được họ khám phá năm 1968. Ngôi nhà này chắc chắn là nhà của Thánh Phêrô, nơi Chúa Giêsu từng cư ngụ, vì có bằng chứng nó được tôn kính và được công chúng sử dụng rất sớm (từ giữa thế kỷ thứ nhất). Mặt khác, sự nhận diện này không hề mâu thuẫn với bất cứ điều gì đã được khai quật và thực sự phù hợp với những chi tiết Thánh Kinh. Năm 1990, Dòng Phanxicô cho xây một nhà thờ tân tiến có hình dáng hết sức đặc biệt, ngay trên địa điểm căn nhà trên. Nhà thờ hình sáu cạnh, trông giống con thuyền vũ trụ, dựng trên cột cao, có nền bằng kính để khách hành hương có thể nhìn thấy ngôi nhà thờ nguyên thủy ở bên dưới. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có tới đây năm 2000.
Ngoài nhà thờ này, chúng tôi cũng được thấy tàn tích của một hội đường Do Thái, chỉ cách nhà thờ một dẫy nhà đã có từ các thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ sáu. Khác với nhà Thánh Phêrô, hội đường này được xây bằng đá vôi trắng, vốn không có trong vùng, trên một thế đất cao và được trang hoàng hết sức mỹ thuật. Phía sau hội đường là một dẫy nhà có tới mấy chục căn, dĩ nhiên đã đổ nát, chỉ còn lại những bức tường phân cách các phòng. Tiếp nối dẫy nhà này và song song với hội đường là nơi thu góp rất nhiều các tảng đá được đẽo gọt và khắc rất tinh xảo đủ hình từ ngôi sao Đavit tới chân nến bẩy ngọn. Các cây cọ (palm) và khuynh diệp Úc Châu mà các tu sĩ Phanxicô trồng ngày nào là bóng mát qúy giá đối với chúng tôi giữa cái nắng chói chang của trời Caphácnaum đang hạ. Hàng trăm sinh viên đại học Paris đang im lặng suy niệm dưới bóng những hàng cây ấy khiến người ta nhớ lại việc Chúa Giêsu từng giảng dạy tại hội đường này.
Đoàn chúng tôi cũng thuận đường xuống cực nam Biển Hồ Galilê để viếng Yardenit, nơi người ta tin Chúa Giêsu được Thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho. Yardenit vốn có nghĩa là Yarden Nhỏ. Mà Yarden là tiếng Do Thái chỉ Sông Gióc-đan. Yardenit, nằm trong khuôn viên Kibbutz Kineret, là một địa điểm hành hương rất sầm uất của Kitô giáo thế giới: hàng năm, nó đón tiếp ít nhất nửa triệu người đến thăm, riêng năm 2000, số du khách tới đây là hơn một triệu. Lúc chúng tôi tới nơi, rất nhiều đoàn hành hương đang ở dưới sông. Có đoàn với đồng phục trắng toát đang cử hành nghi thức rửa tội bằng cách dìm hẳn người xuống nước, trong khi đồng đạo ca hát trong điệu thánh vũ nhịp nhàng. Cả một bầu khí đạo hạnh và vui tươi xuất hiện dưới làn nước trong xanh, giữa một khung cảnh thơ mộng của trời, của mây, của cây, của đá, của công trình nhân bản và công trình thiên nhiên hòa lẫn. Đoàn chúng tôi chọn địa điểm rửa tội yên tĩnh ở cuối khúc sông, ngay chỗ Gióc-đan rẽ để chẩy về Biển Chết cách đó gần 100 cây số. Ở đấy, chúng tôi cùng cầu nguyện và tham dự nghi thức đổ nước trên đầu, với chính làn nước đã từng được đổ lên đầu Thầy Chí Thánh. Quả không còn phương tiện nào cảm kích hơn để tưởng nhớ bí tích Rửa Tội đã tiếp nhận từ hồi tấm bé. Lên bờ, chúng tôi còn có dịp đọc lại đoạn trích Phúc Âm Thánh Máccô 1: 9-11 bằng tiếng Việt, được đoàn hành hương của Giáo Xứ Mẹ Việt Nam ở Washington D.C., do Đức Ông Peter Nguyễn Thanh Long hướng dẫn, ghi trên một bảng đá lớn gắn lên bờ tường bao quanh khu Yardenit vào ngày 15 tháng 11 năm 2007. Trong giây phút rất nhanh, chúng tôi có cảm giác như quê hương Việt Nam đang hiện diện đâu đó rất gần.
Chú thích
(4) Jerome Murphy O'Connor, Oxford Archaeological Guides: The Holy Land, tr.280)
Tại Nadarét, trước khi viếng Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, chúng tôi rẽ qua viếng Nhà Thờ Hội Đường, do Giáo Hội Công Giáo Melkite Hy Lạp sở hữu, nằm về phía cuối Chợ Chính. Theo Phúc Âm Luca, được vị tuyên úy đọc lớn tiếng giữa căn phòng, chính tại Hội Đường này, Chúa Giêsu đã mở sách Isaia mà cho người đồng hương biết rằng mình là Đấng Được Xức Dầu. Nhưng họ chỉ biết Người là “con ông Giuse” và vì quá tức giận, họ đã đem Người “lên tận đỉnh núi” dự tính xô Người xuống vực thẳm.
Núi ấy được truyền thống nhận dạng là Núi Vực Thẳm (Mount Precipice hay Mount Kedumim), tọa lạc ở bên ngoài Nadarét, khá xa với Nhà Thờ Hội Đường (ít ra cũng khoảng 3 cây số). Lúc đi viếng Núi Tabor, đoàn hành hương chúng tôi có đi qua núi này, nhưng không dừng lại. Triền ngọn núi quả dựng đứng, không giống các ngọn đồi trong nội thành Nadarét. Bị xô xuống đó, người bị xô chết là phần chắc. Nhưng Chúa đã thoát được. Điều đáng ghi nhận là trong chuyến tông du gần đây của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Núi Vực Thẳm đã được chọn làm địa điểm nghênh đón ngài tại Nadarét và chính tại đây ngài đã đọc bài diễn văn kết thúc Năm Gia Đình. Như thế, chúng tôi đã viếng hầu hết các nơi thánh tại Nadarét, ngoại trừ Vương Cung Thánh Đường Chúa Giêsu Niên Thiếu, do các cha Salêdiêng quản lý, và Nhà Thờ Chúa Kitô do Giáo Hội Anh Giáo sở hữu.
Ngày hôm sau, chúng tôi đi viếng các thánh điểm quanh vùng Hồ Galilê. Khối nước ngọt khổng lồ dài 22 cây số, rộng 12 cây số này được người Kitô giáo biết nhiều nhất dưới cái tên vừa kể, một cái tên mà Morton cho là dịu dàng bậc nhất và dù tách biệt nó khỏi thừa tác vụ của Chúa Giêsu, nó vẫn là một từ ngữ đáng yêu vì chỉ cần nghe ba vần của nó, người ta cũng đã như thể nghe thấy tiếng nuớc hồ vỗ vào bờ. Nó êm ru không như tên Giuđêa cứng cỏi, nó dịu dàng không như Giuđêa hung dữ. Không cần viếng Đất Thánh, người ta cũng thấy được cái cứng cỏi đất đá của Giuđêa và nghe được tiếng nước rơi từ các mái chèo trên Galilê.
Ngoài tên Hồ hay Biển Galilê ra, Tân Ước còn dùng tên Hồ hay Biển Tiberias để gọi khối nước này (Ga 6:1), có lẽ vì nó gần thị trấn Tiberias, do Vua Hê-rô-đê An-ti-pa thiết lập và đặt tên theo Hoàng Đế Rô-ma Tiberius. Phúc âm Luca (5:1) thì gọi nó là Hồ hay Biển Gennesaret, theo một bình nguyên mầu mỡ nằm về phía tây. Cựu Ước, trái lại, gọi nó là Biển Chinnereth hay đọc là Kinnereth (Ds 34:11; Gs 13:27). Tên này có thể phát xuất từ chữ kinnor trong tiếng Hi Bá Lai, có nghĩa là cây đàn harp hay cây đàn lyre vì hình thù của Biển rất giống hai loại nhạc cụ này. Trên đường từ khu Kibbutz Ginosar xuống thuyền trên Biển Galilê, chúng tôi có thấy người ta trưng bày hai loại nhạc cụ này.
Điều trên cho thấy, đối với người Do Thái, họ thích dùng tên Kinneret hơn. Sở dĩ như thế, vì người Do Thái vốn không ưa những gì dính dáng tới Tân Ước. Mặt khác cái tên Galilê cũng không được họ thích nghe. Vì Galilê vốn có nghĩa là “vòng đai hay vùng dân ngoại”, nó chưa bao giờ có tính Do Thái hoàn toàn, ngay từ thời xa xưa. Salômôn từng hiến 10 thành thuộc Galilê cho Hiram, Vua của Tyre, để trả một phần món nợ xây đền thờ Giêrusalem. Những thời kỳ tiếp theo cũng đã xẩy ra nhiều cuộc xâm lấn của Dân Ngoại. Nên người Do Thái Giáo Chính Thống tại Giêrusalem luôn nhìn người Galilê với con mắt khinh miệt và từng cười nhạo giọng nói địa phương của họ, như câu truyện “chối Chúa” của Phêrô đã chứng tỏ. Nhưng vùng ấy là vùng thân thiết của Chúa Giêsu, quê hương Nadarét của Người không xa nơi này bao nhiêu, và nơi này là địa bàn rao giảng của Người, nó là thửa đất mầu mỡ cho lời của Người từ một hạt cải nhỏ xíu trở thành cây cao nhiều cành. Morton bảo mỗi lần nghe tiếng Galilê, tâm trí ông đều gợi lên hình ảnh Người, không phải hình ảnh Đức Kitô như trong lời giảng của Phaolô, mà là hình ảnh Chúa Giêsu thân thiết nhất với tâm hồn ta, Đấng đã để trẻ em tới với mình và rao giảng một phúc âm đầy yêu thương và lân tuất cho người khiêm hạ, đơn sơ và trĩu nặng.
Địa điểm đầu tiên của vùng Biển Galilê mà chúng tôi tới thăm là Tagbah. Đây không phải là một thành phố mà là một khu vực nhỏ ở bờ tây bắc, không xa Caphácnaum. Thời xưa, Tagbah cũng được biết dưới tên Heptapegon có nghĩa là Chốn Bẩy Nguồn, vì có tới bẩy con suối cung cấp nước ấm, làm gia tăng lượng tảo (algae) cho vùng biển này, mà tảo thì rất lôi cuốn đối với cá. Chính vì thế, các ngư phủ kéo nhau tới Bẩy Nguồn cả hàng mấy ngàn năm nay. Đến thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, Bẩy Nguồn trở thành địa điểm quen thuộc để khách hành hương thời Byzantine nghỉ ngơi và dùng bữa ăn ngoài trời, nhờ nó có nhiều bóng cây và nhiều cá mú ngon miệng. Nên không phải là tình cờ mà hai trong ba thánh điểm hành hương tại vùng này có liên hệ tới thực phẩm dư thừa: phép lạ hóa bánh trong thừa tác vụ Galilê của Chúa Giêsu và bữa sáng với cá bên hồ sau khi Chúa sống lại. Ngọn đồi bên trên hai nơi đó chính là Núi Bát Phúc, nơi Chúa Giêsu giảng bài giảng bất hủ trong lịch sử nhân loại.
Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá (cũng gọi là Nhà Thờ Hóa Nhiều) là một nhà thờ hiện đại, nhưng được xây trên địa điểm một nhà thờ có từ thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Nó duy trì được một tranh ghép rất tuyệt diệu của Kitô Giáo sơ khai cũng như viên đá truyền thống trên đó bữa ăn lạ lùng đã được dọn ra. Bữa ăn này được thuật lại trong Máccô 6:30-44. Chúa Giêsu đã cho năm ngàn đàn ông và chắc chắn nhiều hơn thế các đàn bà và trẻ em ăn trưa bằng năm chiếc bánh và hai con cá được Người hóa ra nhiều, nhiều đến nỗi đám đông ăn no nê mà vẫn dư tới 12 thúng đầy bánh và cá vụn.
Theo Egeria, một nhà hành hương người Tây Ban Nha thuộc thế kỷ thứ 4, phiến đá trên đã trở thành một bàn thờ và tín hữu đến kính viếng thường đục lấy những mẩu đá nhỏ đem về lấy hên. Có lẽ vì thế nay phiến đá chỉ còn vào khoảng 1 x 0.60 x 0.14m, nằm dưới một bàn thờ mà phía trước có một tranh ghép rất đẹp, mới được phục hồi, mô tả hai con cá nằm hai bên một giỏ bánh. Không ai được phép đục đẽo nó nữa. Đoàn hành hương chúng tôi chỉ được phép chụp hình và hôn kính nó mà thôi.
Một phiến đá thứ hai cũng được nhận dạng từ lâu là phiến đá trên đó Chúa Giêsu Phục Sinh dọn bữa sáng cho các môn đệ bên bờ hồ Galilê. Hôm ấy, thấy Chúa Giêsu Phục Sinh trong ánh lửa bập bùng của buổi sáng tinh mơ, không một môn đệ nào dám lên tiếng hỏi xem người dọn bữa cho họ là ai. Vì còn là ai khác “chịu” giúp họ bắt được nhiều cá và còn dọn bữa sáng với đủ cả cá và bánh (lại cá và bánh nữa) cho họ một cách thân tình đến thế, ngoài Thầy mình (Ga 21). Phiến đá này, nằm trong Nhà Thờ Thánh Phêrô Tối Thượng Quyền, cũng thuộc Tagbah, to hơn phiến đá trong Nhà Thờ Hóa Nhiều và vì thế nằm choán phía trước một bàn thờ nhỏ, trông có phần “sạch sẽ” hơn, được đặt tên hẳn hòi là Mensa Christi (Bàn ăn của Chúa Kitô).
Gọi là Nhà Thờ Tối Thượng Quyền là để nhấn mạnh đoạn cuối câu truyện trong đó, Chúa Giêsu trao quyền chăm sóc các chiên và chiên con của Người cho Thánh Phêrô, sau khi hỏi ông có yêu Người không ba lần. Nhà hành hương Egeria nhắc tới thánh điểm này khi cho biết: gần Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá, “là một số bậc đá mà Chúa Giêsu đã đứng trên đó”. Có lẽ bà muốn nhắc tới những bậc bằng đá nằm về phía Hồ của Nhà Thờ. Người ta không rõ những bậc đá này có từ bao giờ, nhưng rất có thể đã có từ thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 lúc người ta khai thác hầm đá vôi ở đây. Điều lý thú là bên dưới các bậc đá này có sáu hàng cột đôi hình trái tim được đặt tên là Mười Hai Tòa. Có lẽ chúng được lấy từ một tòa nhà hoang phế, đem về đây để tưởng niệm Mười Hai Tông Đồ, theo câu nói của Chúa Giêsu trong Phúc Âm Luca “Để các con được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en” (Lc 22:30).
Egeria không nhắc gì tới ngôi nhà thờ nào tại đây. Nhưng từ cuối thế kỷ thứ 4, đã có một nhà thờ tại thánh điểm này. Đến thế kỷ thứ 9, ngôi nhà thờ tại đây được nhắc đến dưới tên Nhà Thờ Than Hồng với Mười Hai Tòa đã được đặt ở đó để tưởng niệm Mưới Hai Tông Đồ. Ngôi nhà thờ nhỏ hiện nay do Dòng Phanxicô xây năm 1933, bằng đá xám, tại ngay bờ tây bắc của Hồ Galilê. Tại chân tường nhà thờ về phía tây, người ta còn thấy rõ các bức tường của nhà thờ thế kỷ thứ 4. Morton nhận định rằng: Dòng Phanxicô luôn có cái nhìn khảo cổ chính xác và giá trị, không như phần lớn các nhà thờ của Chính Thống Giáo tại vùng này. Khách hành hương sau khi viếng Nhà Thờ, có thể tản bộ và ngâm chân dưới làn nước mát của Biển Hồ Galilê đang lăn tăn gợn sóng không xa.
Thánh điểm thứ ba tại Tagbah là Núi Bát Phúc, có ngôi nhà thờ bát giác nổi tiếng của Barluzzi, mà không một khách hành hương nào bỏ qua. Đoàn hành hương chúng tôi tới đó để dâng Thánh Lễ trong ngày. Phúc âm hôm đó dĩ nhiên là Mátthêu 5: 1-12: Bài Giảng Trên Núi hay Hiến Chương Nước Trời, đề cập tới tám mối phúc thật. Tám mối phúc này được in bằng tiếng Latinh, trên tám tấm kính mầu, gắn tại tám góc của mái vòm nhà thờ.
Từ thế kỷ thứ 4, khách hành hương đã tuốn đến đây để tưởng niệm Bài Giảng Trên Núi, như lời tường thuật của Egeria. Sau khi nhắc tới Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá, bà cho hay: “Gần đấy, trên núi cao, có một cái động được Chúa Cứu Thế leo lên và giảng Các Mối Phúc”. Vết tích ngôi nhà thờ nhỏ thuộc thế kỷ thứ 4 đã được tìm thấy ở chân đồi phía dưới nhà thờ hiện nay, có cả vết tích của một đan viện nữa. Còn nhà thờ hiện nay được xây dựng năm 1938. Đó là một ngôi nhà thờ, tuy nhìn bên ngoài khá cao và lớn, nhưng có nội cung nhỏ. Chính vì thế, chúng tôi không được cử hành Thánh Lễ trong đó, mà được chỉ thị rước cha từ trong nhà thờ tiến lên một bàn thờ ngoài trời ở trên đồi để cử hành. Từ bàn thờ này, chúng tôi được chiêm ngưỡng toàn bộ khung cảnh nhà thờ trên tấm phông xanh ngát của Biển Hồ Galilê, giữa một khung cảnh mát rượi của cây cao bóng cả. Khung cảnh này quả thích hợp để dân chúng tụ tập nghe bài giảng vô cùng độc đáo của Thầy Chí Thánh. Các nhà nghiên cứu cho rằng đó cũng là động lực khiến các khách hành hương “tái khám phá” ra nơi Chúa giảng này để vừa vang vọng lời của Người vừa ngắm toàn diện khung cảnh những nơi Người từng sống và giảng dạy (4).
Con thuyền Giêsu
Tuy nhiên, cao điểm trong ngày phải kể là cuộc đi thuyền trên Biễn Hồ Galilê. Đoàn hành hương chúng tôi băng qua khu Kibbutz Ginosar để lên riêng một chiếc thuyền gỗ tương đối còn mới và sạch sẽ có khoảng bốn người phục vụ. Thuyền mang cờ Do Thái và người đàn bà trưởng toán nói tiếng Anh rất thành thạo. Bà hãnh diện cho rằng thuyền của bà là một mô phỏng Con Thuyền Giêsu thuộc thế kỷ thứ nhất mà hai anh em Moshe và Yval Lufan, vốn là các ngư phủ thuộc thế hệ thứ hai của Kibbutz này, mới tìm ra năm 1986. Tiếc rằng chúng tôi không được vào Bảo Tàng Viện Yigal Allon nằm ngay trong khu Kibbutz Ginosar, nơi trưng bày Con Thuyền Giêsu này, nên không kiểm nghiệm được lời nói của người trưởng toán chiếc thuyền gỗ đưa chúng tôi lênh đênh trên Biển Hồ từng là nơi diễn ra khá nhiều phép lạ của Chúa Giêsu, được Người dùng làm phương tiện đào tạo các môn đệ của Người. Tại đây, Người từng dẹp yên sóng gió (Mt 8:23-27), bước đi trên nước (Mt 14:24-33), giúp các môn đệ thu hoạch mẻ cá lạ (Ga 21:6) và từng ngồi thuyền để dạy dỗ dân chúng (Mc 4:1-2).
Khác thuyền của các môn đệ ngày xưa, thuyền chở chúng tôi chạy bằng động cơ, với tay lái đặt ở một khoang thuyền trên cao, đứng ở đó, người điều khiển có thể bao quát cả vùng chung quanh. Nhưng điều ấy vẫn không tránh được một tai nạn suýt xẩy ra với một toán đua xe máy nước cận kề. Rất may, chiếc thuyền thắng kịp.
Thuyền đưa khách hành hương đi một vòng, đủ thì giờ cho chúng tôi cùng nhau đọc và suy niệm đoạn phúc âm Chúa dẹp yên sóng gió và suy niệm về những can thiệp của Chúa trong cuộc đời mình. Phải nhận một điều: cũng đoạn phúc âm đã được đọc và suy niệm nhiều lần này nay vang lên một âm sắc thật đặc biệt như ru hồn khách hành hương trở lại với gần hai ngàn năm trước để cùng đồng hành với Thầy Chí Thánh và các môn đệ của Người, những người ngư phủ tầm thường và xoàng xĩnh, đến sóng gió vật lý cũng run sợ, nhưng được Thầy vừa huấn luyện vừa ban sức mạnh cho, đã đủ can đảm vượt bất cứ thứ trùng khơi nào sau này, kể cả trùng khơi chính trị và tôn giáo, để xây dựng Nước của Người. Chúng tôi còn ở rất xa lý tưởng ấy.
Và vì bụng bắt đầu đói, nên người trưởng đoàn đã dẫn chúng tôi vào một nhà hàng gần đó. Dường như nhà hàng này là nhà hàng duy nhất trong vùng cung cấp bữa ăn đặc biệt trong đó bắt buộc phải có món Cá Phêrô. Hầu hết các đoàn hành hương đều đổ dồn về đây để dùng bữa. Lúc chúng tôi tới, hầu như các dẫy bàn của nhà hàng đều đã có người chiếm dụng. Họ thuộc đủ các quốc tịch và ngôn ngữ khác nhau và ai cũng hân hoan thưởng thức nguyên một con Cá Phêrô, được chiên dòn, sắp sẵn trên một chiếc dĩa lớn. Phục vụ trong nhà hàng toàn là nam giới. Họ rất thành thạo, và không khách hành hương nào phải chờ đợi lâu trước khi con Cá Phêrô được bưng lên thơm phức. Loại cá này hiển nhiên có rất nhiều trong vùng. Lúc chúng tôi ăn ở đó, ít nhất số thực khách cũng phải là 200 người và còn nhiều đợt khác nữa. Ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng nọ, chưa hề nghe có ai tới Hồ Galilê lại không ăn Cá Phêrô. Thực ra, tại biển Galilê có đến ba loại cá. Cá mòi (sardine) có lẽ là loại cá nhỏ mà cậu bé trong Phúc Âm cung cấp để Chúa Giêsu hóa nhiều, nuôi hơn 5,000 người. Loại cá thứ hai là loại cá dầy có râu mép tiếng Anh gọi là barbel. Loại cá thứ ba chính là Cá Phêrô trông giống như cá rô nhưng to và dẹp hơn, có con nặng tới 1 ký rưỡi, tiếng Anh gọi là musht. Không hiểu tại sao, người ta gọi loại cá này là Cá Phêrô. Nhưng nếu Thánh Phêrô chuyên môn đi lùng loại cá này mà đánh, thì hẳn ngài phải phát đạt lắm, vì loại cá này ai ăn cũng khoái. Người nào trong chúng tôi cũng cho rằng bữa trưa hôm nay là bữa trưa ngon nhất trên Đất Thánh.
Tại vùng Biển Hồ Galilê, chúng tôi còn tới viếng thánh điểm Caphácnaum mà ngày xưa vốn là địa bàn hoạt động của Chúa Giêsu và các môn đệ. Khu chúng tôi tới thăm nằm ngay bên cạnh Biển Hồ Galilê, về phía bắc, được rào chung quanh, có tấm biển trên cổng ra vào viết hàng chữ “Caphácnaum của Chúa Giêsu”. Điều ấy quả không ngoa, vì Mátthêu 9:1 và Máccô 2:1 gọi nó là “thành của Người”. Ở đấy, Người thực hiện rất nhiều phép lạ. Dù sao, nó cũng là thành của hai môn đệ đầu tiên: Phêrô và Anrê (Mc 1: 29). Tại đây, Người cũng kêu gọi anh em Giacôbê và Gioan (Mc 1:16), rồi Mátthêu (Mc 2:13). Tuy nhiên, cũng như Nadarét, Caphácnaum từng bị Chúa nguyền rủa: “Vào ngày chung thẩm, Xôđôm sẽ được xử khoan hồng hơn ngươi” (Mt 11:23-24).
Tại khu khảo cổ này, chúng tôi được viếng Nhà Thờ Caphácnaum. Nhà thờ này được xây trên địa điểm truyền thống vẫn cho là nhà của Thánh Phêrô. Đây là một căn nhà nằm gần bãi biển, thuộc khu nghèo nàn vì tường làm bằng đá đen basan, có mái nhẹ và không cửa sổ (nên phải đục mái để hạ người bất toại xuống, xem Mc 2:1-2). Có bằng chứng cho thấy từ giữa thế kỷ thứ nhất, một phòng của căn nhà đã được để riêng ra cho công chúng sử dụng và khi Egeria tới đó năm 381, bà cho hay, căn nhà của “thủ lãnh các tông đồ đã được biến thành một nhà thờ, với các tường nguyên thuỷ vẫn còn đấy”. Qua thế kỷ thứ 5, một nhà thờ lớn hơn, hình bát giác thay thế nhà thờ cũ. Và năm 570, nhà hành hưoơg người Piacenza cho hay “nhà Thánh Phêrô nay là một vương cung thánh đường”. Sau thời gian này, Caphácnaum hầu như bị bỏ hoang, đến cả Thập Tự Chinh cũng không lưu ý tới. Một du khách vào thế kỷ 13 cho hay thị trấn này chỉ còn khoảng bẩy căn nhà của các ngư phủ nghèo nàn.
Phải chờ đến thế kỷ 19, các tu sĩ Dòng Phanxicô mới tới đây mua đất đai, dựng hàng rào, trồng cây cối làm nơi dừng chân cho khách hành hương. Và họ bắt đầu các công trình khai quật và trùng tu trong các năm từ 1905 tới 1926. Nhà Thánh Phêrô được họ khám phá năm 1968. Ngôi nhà này chắc chắn là nhà của Thánh Phêrô, nơi Chúa Giêsu từng cư ngụ, vì có bằng chứng nó được tôn kính và được công chúng sử dụng rất sớm (từ giữa thế kỷ thứ nhất). Mặt khác, sự nhận diện này không hề mâu thuẫn với bất cứ điều gì đã được khai quật và thực sự phù hợp với những chi tiết Thánh Kinh. Năm 1990, Dòng Phanxicô cho xây một nhà thờ tân tiến có hình dáng hết sức đặc biệt, ngay trên địa điểm căn nhà trên. Nhà thờ hình sáu cạnh, trông giống con thuyền vũ trụ, dựng trên cột cao, có nền bằng kính để khách hành hương có thể nhìn thấy ngôi nhà thờ nguyên thủy ở bên dưới. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có tới đây năm 2000.
Ngoài nhà thờ này, chúng tôi cũng được thấy tàn tích của một hội đường Do Thái, chỉ cách nhà thờ một dẫy nhà đã có từ các thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ sáu. Khác với nhà Thánh Phêrô, hội đường này được xây bằng đá vôi trắng, vốn không có trong vùng, trên một thế đất cao và được trang hoàng hết sức mỹ thuật. Phía sau hội đường là một dẫy nhà có tới mấy chục căn, dĩ nhiên đã đổ nát, chỉ còn lại những bức tường phân cách các phòng. Tiếp nối dẫy nhà này và song song với hội đường là nơi thu góp rất nhiều các tảng đá được đẽo gọt và khắc rất tinh xảo đủ hình từ ngôi sao Đavit tới chân nến bẩy ngọn. Các cây cọ (palm) và khuynh diệp Úc Châu mà các tu sĩ Phanxicô trồng ngày nào là bóng mát qúy giá đối với chúng tôi giữa cái nắng chói chang của trời Caphácnaum đang hạ. Hàng trăm sinh viên đại học Paris đang im lặng suy niệm dưới bóng những hàng cây ấy khiến người ta nhớ lại việc Chúa Giêsu từng giảng dạy tại hội đường này.
Đoàn chúng tôi cũng thuận đường xuống cực nam Biển Hồ Galilê để viếng Yardenit, nơi người ta tin Chúa Giêsu được Thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho. Yardenit vốn có nghĩa là Yarden Nhỏ. Mà Yarden là tiếng Do Thái chỉ Sông Gióc-đan. Yardenit, nằm trong khuôn viên Kibbutz Kineret, là một địa điểm hành hương rất sầm uất của Kitô giáo thế giới: hàng năm, nó đón tiếp ít nhất nửa triệu người đến thăm, riêng năm 2000, số du khách tới đây là hơn một triệu. Lúc chúng tôi tới nơi, rất nhiều đoàn hành hương đang ở dưới sông. Có đoàn với đồng phục trắng toát đang cử hành nghi thức rửa tội bằng cách dìm hẳn người xuống nước, trong khi đồng đạo ca hát trong điệu thánh vũ nhịp nhàng. Cả một bầu khí đạo hạnh và vui tươi xuất hiện dưới làn nước trong xanh, giữa một khung cảnh thơ mộng của trời, của mây, của cây, của đá, của công trình nhân bản và công trình thiên nhiên hòa lẫn. Đoàn chúng tôi chọn địa điểm rửa tội yên tĩnh ở cuối khúc sông, ngay chỗ Gióc-đan rẽ để chẩy về Biển Chết cách đó gần 100 cây số. Ở đấy, chúng tôi cùng cầu nguyện và tham dự nghi thức đổ nước trên đầu, với chính làn nước đã từng được đổ lên đầu Thầy Chí Thánh. Quả không còn phương tiện nào cảm kích hơn để tưởng nhớ bí tích Rửa Tội đã tiếp nhận từ hồi tấm bé. Lên bờ, chúng tôi còn có dịp đọc lại đoạn trích Phúc Âm Thánh Máccô 1: 9-11 bằng tiếng Việt, được đoàn hành hương của Giáo Xứ Mẹ Việt Nam ở Washington D.C., do Đức Ông Peter Nguyễn Thanh Long hướng dẫn, ghi trên một bảng đá lớn gắn lên bờ tường bao quanh khu Yardenit vào ngày 15 tháng 11 năm 2007. Trong giây phút rất nhanh, chúng tôi có cảm giác như quê hương Việt Nam đang hiện diện đâu đó rất gần.
Chú thích
(4) Jerome Murphy O'Connor, Oxford Archaeological Guides: The Holy Land, tr.280)