Lên Đền

Ở Nadarét hai ngày, hôm 26 tháng Bẩy, đoàn hành hương chúng tôi lên đường đi Giêrusalem. Nói theo người hướng dẫn, chúng tôi Lên Đền. Động từ “lên” quả có nhiều ý nghĩa. Vùng Giuđêa nơi có kinh thành Giêrusalem vốn ở thế đất cao. Tuy ở phiá đông vùng này, có nơi thấp hơn mặt biển tới 400 thước, nhưng ở phía nam và tây nam, thế đất cao tới 1,020 thước so với mặt biển. Dù sao, thánh điện Giêrusalem, xây trên một nền cao, vốn là đỉnh điểm diễn ra việc thờ phượng của cả dân tộc Do Thái từ ngàn xưa và hiện giấc mơ muôn thuở của dân tộc này vẫn là được tái thiết lại đền thánh ấy. Giấc mơ Lên Đền vì thế vẫn là giấc mơ của họ lúc này. Và của cả đoàn hành hương bé nhỏ chúng tôi. Đến Đất Thánh mà không lên Giêrusalem thì chắc chắn chưa tới Đất Thánh.

Morton kể lại câu truyện cảm động về một nông dân Kitô hữu tới Giêrusalem vào đầu thế kỷ 20. “Tôi gặp một nông dân già, lưng gù, quần áo tả tơi, chân mang đôi giầy nỉ to tướng. Ông là người Bảo Gia Lợi, tới đây trên một chuyến tầu hành hương, như người Nga vốn làm, và có lẽ ông đã phải chắt bóp cả một đời dành dụm để có được giây phút này.

Ông đang qùy bên phiến đá hoa cương, hôn lấy hôn để, nước mắt dàn dụa qua những nếp nhăn sâu trên mặt chẩy xuống phiến đá. Hai bàn tay sần sùi thô kệch, các móng nứt nẻ và đen ngòm vì lao nhọc, đang âu yếm nhẹ nhàng vuốt ve phiến đá hoa cương; rồi ông chắp tay lại trong một thế cầu nguyện, và làm dấu Thánh Giá.

Ông cầu nguyện lớn tiếng, miệng run rẩy, nhưng tôi không hiểu ông đang cầu nguyện những gì. Rồi lấy từ túi ra mấy mẩu giấy bẩn thỉu và một dải ruy-băng, ông nhẹ nhàng chà chúng trên Mồ, sau đó cất chúng vào túi áo.

Nghĩ rằng có thể có đủ chỗ cho mình, nên tôi cúi đầu, bước vào Mồ. Vị đan sĩ Hy Lạp, người nông dân đang qùy, và tôi vừa choán hết cái không gian nhỏ xíu này. Thực ra, nếu ông cứ tiếp tục qùy thì cũng chẳng sao, nhưng có lẽ phiền vì thấy tôi bước vào, nên ông đứng lên, nước mắt vẫn dàn dụa, và thì thào với tôi điều gì đó. Thế là chúng tôi đứng đối diện với nhau, ngực gần như chạm vào nhau. Khi nhìn vào mắt ông, tôi nhận thấy mình đang được chiêm ngắm niềm hạnh phúc đích thực.

Đây là giấc mơ cả đời của ông. Tôi chưa bao giờ được thấy một niềm hạnh phúc nào chân thật như thế trước đây. Cả đời, tôi chưa bao giờ được chiêm ngưỡng sự bình an và hài lòng nào được in rõ đến thế trên khuôn mặt một con người”.

Matilde Serao, nhà báo Ý, gốc Hy Lạp, nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, trong tác phẩm “In the Country of Jesus” nói nhiều hơn tới các khách hành hương Kitô giáo tại Giêrusalem. “Bạn dễ dàng nhận ra khách hành hương người Nga qua nét nghèo nàn và khiêm nhường của ông, qua cung cách làm Dấu Thánh Giá kỳ cục, khá rộng và chậm chạp; và trên hết, qua cách ông ném cái thân hình kềnh càng, nặng nề xuống đất. Áo khoác của ông rách như bươm và chiếc quần vá bạc thếch; đầu ông khi cúi xuống lộ ra những lọn tóc quăn xinh xắn, đôi mắt ông mờ đi vì những dòng lệ âm thầm đang lăn qua má nhiễu xuống nền Mồ. Bàn tay ông run lên nắm lấy chiếc mũ lông thú cũ kỹ. Bạn cũng dễ dàng nhận ra vị linh mục người Malta nhờ mầu da bánh mật, hàng mi rậm, nét mặt mệt mỏi, quần áo tả tơi, và cái bái quỳ lâu dài của ngài. Ngài đã phải ăn xin cho chuyến đi từ hòn đảo quê hương, du hành hạng ba, và cử hành Thánh Lễ hàng ngày tại mọi làng mạc và thị trấn dọc theo duyên hải. Bạn cũng dễ dàng nhận ra người đàn bà Ba Lan nghèo nàn nhờ đôi mắt sáng nói lên niềm hạnh phúc bên trong, người từng lặn lội suốt ba tháng ròng, lội bộ xuyên qua Syria, sống nhờ bố thí của các tu viện, nhà trú ẩn và khách qua đường, hôn tay mọi người, không biết nói bất cứ thứ ngôn ngữ nào ngoài tiếng mẹ đẻ. Bất chấp bệnh tật và mệt mỏi, bà tiếp tục sống, chỉ mong sao thấy được, rờ được Mộ Thánh; và khi thấy được Mộ, bà vui đến ngất lịm. Bạn cũng nhận ra người nông dân Hy Lạp nghèo nàn qua bàn tay rám nắng vì cầy sâu cuốc bẫm. Bàn tay ấy run lên khi chạm tới phiến đá trắng, một phiến đá ông từng mơ ước bao nhiêu năm nay và với biết bao khó khăn ông mới với tới được…”.

Qumran và Biển Chết

So với những người hành hương này, chúng tôi kém công lao hơn nhiều, tuy xuất phát từ những vùng xa xôi hơn họ. Lòng đạo thì không dám so sánh, nhưng về háo hức, thiển nghĩ hẳn giống nhau. Người hướng dẫn xem chừng muốn kìm hãm cái háo hức ấy, nên căn dặn chúng tôi phải canh chừng nhiều điều khi tới Giêrusalem: an toàn bản thân, tình hình căng thẳng với binh lính trang bị đầy mình, người chính thống giáo có khi dùng cả bạo lực nếu mình không tôn trọng giờ giấc thờ phượng của họ…

Không biết mỗi lần phải Lên Đền, Thánh Gia cũng như người dân Nadarét xưa dùng con đường nào. Phần chúng tôi, đi theo lộ 90, dần dần bỏ lại phía sau mầu xanh của Galilê, để bắt gặp cảnh đồng điệu của khí hậu và mầu sắc sa mạc. Còn chăng chỉ là những đồn điền trồng chà là ngay ngắn, thỉnh thoảng làm dịu đôi mắt mệt mỏi vì phải nhìn mãi những đồi trọc, những hàng rào điện tử phân cách Israel và Jordan và những lô cốt, đồn canh trơ trọi. Trước khi tới Đền Thánh, chúng tôi dừng lại thăm Qumran, nơi phái Essenes, sống cùng thời với Chúa Giêsu, chôn dấu các sách cuộn thời danh từ thế kỷ thứ nhất trong các hang động thuộc một địa điểm hoàn toàn hoang sơ, thiếu cả bóng cây, và mãi năm 1947, người ta mới tình cờ tìm lại được.

Qumran
Sách Thánh không nhắc gì tới nhóm Essenes. Người đầu tiên nhắc tới họ và lối sống cộng đoàn của họ (không lập gia đình, sống độc thân, sống chung với nhau, chia sẻ tiền bạc, nhà ở, tài sản, thực phẩm cà cả quần áo nữa) chính là nhà triết học Do Thái tên Philo thành Alexandria (khoảng năm 20-54 công nguyên). Văn sĩ La Mã là Pliny, tục gọi là Pliny Trưởng Lão (chết khoảng năm 79 công nguyên) và Flavius Josephus, trong Chiến Tranh Do Thái (khoảng năm 75 công nguyên), cũng có nhắc tới nhóm này. Họ trở nên nổi tiếng từ lúc Các Sách Cuộn Biển Chết được tìm thấy vào năm 1947 tại Qumran.

Hang số 4 Qumran
Ngày nay, trừ mấy bóng cây ở khu đón tiếp, Qumran là một vùng đồi trọc, toàn một mầu đá đỏ. Nơi chúng tôi tới thăm là Hang Số Bốn, hang nổi tiếng nhất trong tổng số 11 hang. Hơn 15,000 mẩu giấy từ hơn 200 sách cuộn đã được tìm thấy tại hang này, trong đó có 122 sách cuộn thánh kinh hay các mẩu của chúng, dĩ nhiên thuộc Cựu Ước. Tại đây, người ta dựng lên mấy lều vải lớn để che nắng. Đứng trong các lều này, nhìn qua tay trái, khách hành hương có thể thấy mầu xanh nhạt của Biển Chết, và con đường xe chạy dọc theo Biển ấy. Nhìn về phía trước, là một dẫy hang đá đỏ, thỉnh thoảng mới thấy một lỗ hang, phía gần đỉnh. Cùng một khung cảnh ấy xuất hiện bên cánh phải. Quay lưng lại, khách hành hương được thấy nhà ăn cộng đồng, nhà bếp, phòng kho, nơi làm việc của cộng đoàn Qumran ngày xưa. Nắng tiếp tục gay gắt trên toàn vùng núi và đất đỏ, khiến những tia nước phả từ cao xuống trên đầu du khách tại khu tiếp tân làm chúng tôi tỉnh cả người. Đây có lẽ là hệ thống làm mát ngoài trời duy nhất trên toàn lãnh thổ Đất Thánh.

Đọc báo trên Biển Chết
May một điều, liền sau đó, chúng tôi được tham quan Biển Chết. Chỉ nghe đến tên thôi, ai cũng cảm thấy e ngại. Người trưởng đoàn còn bồi thêm nhiều lời căn dặn làm tăng thêm nổi e ngại ấy: đừng để nước vào miệng nhất là vào mắt, rất nguy hiểm. Mà nguy hiểm thật. Tuy nước Biển Chết nâng mình lên, không làm mình chìm, nhưng nó vẫn là nước biển với sóng luôn lay động làm mình mất thăng bằng. Không khéo, người có thể bị lật sấp, nước tràn vào mắt và vào miệng sẽ làm mình hết sức khó chịu. Chỉ cần vô tình bị một hột nước thôi, miệng đã đắng nghét rồi và mắt thì cay sè khốn khổ. Tuy nhiên, cái hứng khởi được nằm ngửa trên nước đọc báo như hình quảng cáo khích lệ làm cho ai trong đoàn hành hương chúng tôi cũng xuống biển và ngả lưng trên làn nước xanh biếc của nó. Nhiều người lượm được cả những cục muối to bằng quả cau từ dưới lòng biển.

Điều lạ là Biển Chết nối với Biển Galilê bằng con sông Gióc-đan. Nhưng Biển Galilê thì nước ngọt, nhiều cá mú mà Biển Chết thì mặn đắng, không một sinh vật nào sống được. Hai biển này vì thế có thật nhiều khác biệt. Biển Chết nằm dưới mặt biển tới 422 mét và bờ của nó là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất tính về đất khô. Nó sâu tới 378 mét, là biển siêu mặn sâu nhất trên thế giới. Nó cũng là một trong những khối nước mặn nhất thế giới, với độ muối lên tới 33.7%, mặn hơn nước đại dương tới 8.6 lần. Biển chết dài 67 kilômét và chỗ rộng nhất lên tới 18 kilômét. Nó từng thu hút du khách từ các vùng quanh Địa Trung Hải cả hàng nghìn năm nay. Theo Thánh Kinh, nó là nơi trú ẩn của Vua Đavít. Nó cũng là nơi nghỉ ngơi chữa bệnh đầu tiên của thế giới (ít nhất cũng đối với Hêrốt Đại Vương) và là nguồn cung cấp khá nhiều sản phẩm khác nhau, từ dầu ướp xác Ai Cập tới bồtạt làm phân bón. Người ta cũng dùng muối và các khoáng chất của nó để tạo ra mỹ phẩm và các bao dược thảo. Phần lớn anh chị em trong đoàn hành hương chúng tôi không thoả mãn với hơn nửa giờ ngâm mình trong nước Biển Chết, nên đã mua về mỗi người cũng đến 5 hay 6 gói muối của vùng này để “ngâm chân” sau khi đã trét đầy mình với bùn của Biển này. Nhiều người thuộc giống dân Cô-ca-diêng còn ngồi phơi nằng cả nửa giờ đồng hồ với chất bùn đen đó trên người.

Cây Sung Giêricô

Cây Sung Giêricô
Bỏ Biển Chết, đoàn chúng tôi ghé Giêricô, nơi Chúa Giêsu thấy Giakêu trên cây sung. Cây sung có khác với cây vả. Cây vả bị Chúa nguyền rủa không chịu sinh trái. Chứ cây sung là cây ban phúc vì đã giúp Giakêu nhìn thấy Chúa Giêsu và giúp Chúa Giêsu khám phá ra Giakêu, một người tuy lùn nhưng tấm lòng không lùn chút nào. Không biết tại Giêricô hiện nay có bao nhiêu cây sung (sycamore), nhưng ngoài đoàn chúng tôi ra, nhiều đoàn khác cũng tới viếng cùng một cây sung ở ngã ba một con đường trong nội thành Giêricô này. Và mảnh vườn này cũng chỉ duy nhất một cây sung này mà thôi. Có thể vì tuổi đời của nó cao, nên người ta tin nó là cây sung đã được Giakêu trèo lên để thấy rõ Chúa Giêsu khi Người đi qua đây chăng? Cha Vincent Mai Văn Kính, vị tuyên úy khả kính đang theo học tại Đất Thánh này, không chắc chắn đây là cây sung, nhưng ngài cũng tạm dùng chữ sung mà dịch cây sycamore cho tiện. Hình như lá sycamore không hoàn toàn giống như lá cây sung ở quê hương Bắc Việt. Trái của nó xem ra không được lớn bằng nhưng cách chúng mọc từ cành và thân cây, khiến người ta thấy chúng giống trái sung.

Giêricô là một thành ở phía tây Sông Gio-đan, dưới mực biển 250 thước, cách cực bắc Biển Chết khoảng 8 cây số. Suối nước ngọt của Giê-ri-khô làm nó trở thành một ốc đảo giữa sa mạc bao quanh, ‘một thị thành của chà là’. Thành này bảo vệ các nhánh của Sông Gióc-đan, qua đó, Giô-suê đã phái đi các thám tử của mình. Nó được bảo vệ kiên cố và là chướng ngại chính đầu tiên cản trở bước tiến quân của người Ít-ra-en. Giô-suê gặt hái được chiến thắng đầu tiên tại mảnh đất này khi Giê-ri-cô thất thủ. Thời các Thủ Lãnh, Ê-hút giết vua Éc-lon của Mô-áp tại Giê-ri-cô. Thời Ê-li-a và Ê-li-sa, nó là quê hương của khá nhiều tiên tri. Khi từ lưu đày trở về, người Giê-ri-cô đã giúp tái thiết các bức tường của Giê-ru-sa-lem.

Trong Tân Ước, chính tại Giê-ri-cô, Chúa Giê-su đã chữa mắt cho Ba-ti-mê, và Gia-kêu đã trở thành con người mới hẳn. Câu truyện người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu cũng xẩy ra trên đường từ Giê-ru-sa-lem đi Giê-ri-cô. Giê-ri-cô có một lịch sử lâu dài. Thị trấn đầu tiên được xây dựng ở đây khoảng năm 6000 trước Chúa giáng sinh. Thời Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, sinh hoạt tại Giê-ri-cô là một sinh hoạt đầy văn minh. Trong các ngôi mộ vào khoảng năm 1600 trước Chúa giáng sinh, người ta đã tìm ra nhiều đồ gốm, bàn ghế bằng gỗ, giỏ và hộp đựng với những chạm trổ đẹp đẽ.

Hiện nay, nhờ nghiên cứu các tầng sinh thái tại khu khai quật Tell-es-Sultan, các nhà khảo cổ đã khám phá ra dấu vết của hơn 20 thời kỳ định cư liên tiếp tại Giêricô, mà thời định cư đầu tiên đã xẩy ra cách nay 11,000 năm, tức năm 9,000 trước Chúa giáng sinh. Nó được coi là một trong những thành phố có người ở liên tục lâu đời nhất trên thế giới. Như trên đã nói, nó được Cựu Ước gọi là “Thành của Chà Là”. Quả không ngoa, tới Giêricô, bạn sẽ được thấy những hàng chà là chi chít trái chín thơm ngon. Nhiều con suối trong thành và chung quanh thành là lý do khiến cho con người tìm về đây rất sớm để định cư.

Trước đây, Giêricô vốn là lãnh thổ của Jordan. Nhưng trong cuộc Chiến Sáu Ngày năm 1967, Do Thái đã chiếm thành phố này cùng với toàn bộ Bờ Phía Tây. Nhưng năm 1994, nó là một trong những thành phố đầu tiên được trao cho Thẩm Quyền Palestine kiểm soát, theo Hiệp Ước Oslo. Hiện nay, nó thuộc quyền cai trị của người Palestine. Tại đây có một phủ thống đốc. Cuộc sống của người dân Palestine tại thành phố này có nhiều hạn chế về kinh tế. Cảnh xin ăn thường xẩy ra cùng với nạn nài ép mua bán những sản phẩm rẻ tiền. Tiếng quen thuộc hay được nghe thấy là “one dollar” bất luận người bán muốn bán gì. Đến ông từ nhà thờ Chúa Chiên Lành, nơi chúng tôi chờ cử hành thánh lễ trong ngày, cũng tỏ ra muốn được “one dollar” của khách hành hương.

Đan viện Cám Dỗ
Ở Giêricô, chúng tôi được đứng từ xa, ngắm nhìn Núi Cám Dỗ cao chót vót có nhiều công sự truyền tin trên đỉnh. Tương truyền đó là nơi Chúa Giêsu bị ma qủy cám dỗ sau khi ăn chay 40 ngày đêm trong hoang địa. Lưng chừng Núi, cheo leo một tu viện của chính thống giáo Hy Lạp, có tên là Đan Viện Cám Dỗ. Nhìn xa, tu viện như bám toòng teng vào vách núi trơ trụi. Từ địa điểm Nhà Hàng Cám Dỗ, nơi chúng tôi dùng bữa trưa, có hệ thống xe cáp treo đưa du khách lên thăm Núi này. Có lẽ vì không đủ thì giờ, ban tổ chức chuyến hành hương của chúng tôi đã bãi bỏ việc thăm Núi ấy. Nhưng tiện đường, chúng tôi đã được thăm Dòng Suối Êlisa, nơi tương truyền nhà tiên tri này đã liệng muối xuống, biến nước đang độc thành lành (Các Vua 2 2:19-22).