SAIGÒN - Ngày 08-09/01/2010, Uỷ Ban Giám Mục Di Dân thuộc HĐGMVN tổ chức hội nghị lần thứ nhất tại Tu viện Dòng Phanxicô Thủ Đức.
Tham dự Hội nghị có Đức Hồng Y JB Phạm Minh Mẫn, Chủ tịch UBGMDD, Lm Gioan Nguyễn Văn Ty, Phó Chủ tịch, Lm Đỗ Đình Ánh, Tổng thư ký, 50 linh mục đại biểu của 26 Giáo phận, một số Tu sĩ đại diện các Hội Dòng và đại biểu giáo dân. Cùng tham dự có cha Giám Tỉnh và cha Cố vấn Dòng Scalabrini, cha Dụ từ Ý, cha Hòa từ Pháp, cha Trí từ Đài loan.
Qua 2 ngày hội thảo, ban tổ chức đã trình bày Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi, cùng nhau thảo luận về vấn đề Di dân và đề xuất những định hướng cho tương lai.
Từ chiều ngày 8/1, ban tổ chức đón tiếp ân cần các đại biểu từ các giáo phận miền Bắc, miền Trung, vùng cao nguyên, miền Tây. Tu viện Phanxicô, nơi yên tĩnh giữa lòng phố thị, với cơ sở rộng rãi khang trang, nhiều cây xanh, phong cảnh đẹp, các tham dự viên được phục vụ tận tình chu đáo.
5g chiều, thánh lễ khai mạc do Đức Hồng Y chủ tế. Ngài chia sẽ vài tâm tình mục vụ di dân.
Chúng ta đang sống trong mùa Giáng Sinh. Những bài Tin mừng sau lễ Giáng Sinh và Hiển Linh đều nói về Chúa Giêsu liên tục di chuyển, mới sinh ra đã di chuyển, đã di dân.
Khi nghe tin Gioan bị tống ngục, Chúa Giêsu đang ở miền Giuđêa để loan Tin mừng liền di chuyển về Galilê. Chúa giảng dạy ở Capharnaum. Lên núi Bát Phúc, làm nhiều phép lạ… Mọi người nghe tin như vậy thì từ miền Giuđêa rồi các miền Thập tỉnh, cả phía Đông bên kia sông Giođan kéo đến để nghe Chúa dạy, để chiêm ngưỡng Chúa. Chúa phải di chuyển liên tục, thân phận nhập thể làm người, có lẽ trước tiên Chúa muốn đồng cảm không những đón nhận thân phận của con người, cái hình thức, cái thân xác hay chết mà thôi, mà còn đồng cảm, cảm nhận cảm xúc, tâm tình của con người và đặc biệt những người du mục, liên tục di chuyển để biết tâm trạng của họ có một sự đồng cảm yêu thương họ. Chúa giảng dạy phù hợp với tâm thức, tâm lý của mọi người trên hành trình di chuyển.
Chúng ta lo mục vụ di dân là phải có một sự đồng cảm với những người di dân. Cách đây 6, 7 năm, Tp. HCM phát triển, bỗng nhiên di dân cả gần 2 triệu người về đây. Có một cha ở miền Trung nói với tôi rằng, một đêm tới sáng, một lớp Giáo lý họ đạo lớn, lên tàu hỏa đi vô Nam hết, lớp Giáo lý hôm sau trống trơn. Nói lên hình ảnh đó cho thấy ào ạt làn sóng di dân vào trong thành phố.
Nhiều người di dân trẻ đến đây học hành, lao động…Khi đón nhận nhiệm vụ mục vụ di dân thì vô số vấn đề, không biết phải giải quyết làm sao.
Tôi đi thăm các vị Hồng Y, Giám mục bên Mỹ, Canada, Âu châu, những nơi có cộng đoàn Công giáo Việt Nam ở đông. Các ngài đều nói rằng, cộng đoàn Công giáo Việt Nam là tấm gương đức tin cho chúng tôi, họ có đức tin vững vàng. Có vị cám ơn, nhờ tôi chuyển lời cám ơn Giáo hội Việt Nam. Giáo hội Việt Nam đã gởi cho họ những người Công giáo gương mẫu như vậy cho nên rất cám ơn. Tôi trả lời thế này: Thực ra không phải Giáo hội Việt Nam đâu mà là Chúa Thánh Thần đó. Chúa sai đi chứ không phải Giáo hội Việt Nam gởi.
Điều đó cho thấy tác động của Chúa Thánh Thần giống như Chúa Giêsu vậy. Chúa di chuyển khắp nơi để loan tin. Chúa cũng dùng làn sóng di dân để phát triển Tin mừng. Hiện tại các nơi đều có người Công giáo Việt nam: Campuchia, Lào, Thái Lan… Giáo hội Thái Lan vừa mời tôi sang cử hành kỷ niệm 300 năm thành lập Giáo phận Chanthaburi ở phía Đông Nam giáp giới Campuchia. Sang bên đó người ta kể, nhà thờ Chính tòa Chanthaburi hình thành cách đây 300 năm từ 130 người Việt Nam. Từ những người công giáo Việt Nam, hôm nay nhà thờ Chính tòa của địa phận Chanthaburi có đến 8.000 giáo dân, có lẽ là nhà thờ lớn nhất của Giáo hội Thái Lan, mà nguồn gốctừ người công giáo Việt Nam.
Tôi đến thăm Làng Việt Nam, chỗ đó Đức cha Lambert de la Motte làm Giám mục Đàng Trong. Trong nhà thờ ở đó còn lưu giữ xác của ngài. Đức Cha Lambert de la Motte đã làm hai điều còn lưu lại tới ngày nay đó là thành lập hàng Giáo sĩ bản xứ của chúng ta, và thành lập Dòng MTG, một Dòng tu hoàn toàn Việt Nam. Từ đó tới nay Dòng MTG phát triển rất nhanh. Hiện tại ở bên Thái Lan có 3 Hội dòng, ở Việt Nam có 24 Hội dòng, tổng cộng phải trên 10.000 tu sĩ Dòng MTG. Công trình của Đức Cha Lambert, ngài cũng là người di dân, đi từ bên Tây bên Tàu sang bên mình rồi cứ phải liên tục di chuyển như vậy. Cho nên người Công giáo Việt Nam của chúng ta nhờ những cuộc di cư và di dân đã thiết lập nhiều giáo xứ. Những miền đất mới như chiếc tàu Noe đón nhận. Người di dân trở thành sứ giả Tin mừng.
Trong cuộc hội thảo này, chúng ta cùng góp ý để hướng đến, mỗi Giáo phận trở thành chiếc tàu Noe cho di dân, thành chỗ dựa niềm tin cho con người.
Sáng 9.1, cha Đỗ Đình Ánh, trình bày đề tài “Cùng đọc Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi (Tình Yêu Đức Kitô dành cho Di dân)”.
Nhập đề
Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi (EMCC), tài liệu hướng dẫn mới nhất do Hội Đồng Giáo Hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Lữ Hành biên soạn,[1] được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phê chuẩn ngày 01/05/2004, và 3 ngày sau, tức 03/5/2004 được chính thức công bố. Tài liệu này đã mau chóng trở thành “thủ bản”, hay “kim chỉ nam” cho các hoạt động Mục vụ chăm sóc Di dân và Lữ Hành của toàn thể Giáo hội, từ Giáo hội hoàn vũ tới Giáo hội địa phương. Đến nay, sau 5 năm công bố, Huấn thị vẫn tiếp tục mang tính “thời sự” cho toàn thể Hội thánh.[1] Tính thời sự đó được nhìn dưới hai điểm nhấn: Sự qsuan tâm của toàn thể Hội thánh với những người Di dân và Lữ hành và Những cố gắng thích ứng của những hướng dẫn Mục vụ chăm sóc của Hội thánh cho những con người này.
Đi vào hai điểm nhấn nói trên, chúng ta mong chính bản thân cũng như những ai đang dấn thân cho việc chăm sóc mục vụ Di dân và nhiều người thiện chí khác nữa sẽ có thêm khả năng hiểu, đồng cảm được với một trong những quan tâm hàng đầu hiện nay của Hội thánh là Loan báo Tin Mừng và sẵn lòng hợp tác với nhau làm cho men Tin Mừng trong một lãnh vực hết sức cụ thể là Phục vụ Chăm sóc Mục vụ cho người Di dân và Lữ hành được nở rộ khắp mọi môi trường, hoàn cảnh sống hiện nay của mỗi người.
Khai triển
1. Trước hết, nói về Sự Quan tâm của Hội thánh với Di dân. Câu hỏi đặt ra là đã từ khi nào, và bắt đầu từ đâu, với những phương thế nào Giáo hội được nhận mình thực sự là biết quan tâm lo lắng mục vụ cho người Di dân, Lữ hành?
Không khó tìm câu trả lời nếu chúng ta đi ngược dòng lịch sử chiêm ngắm Giáo hội trong giai đoạn được khai sinh và phát triển sau đó. Công đồng Vaticano II cho biết, Giáo hội này là một Giáo hội tự bản chất là truyền giáo [3] và lữ hành [4], được hình thành bởi những con người, ý thức mình phải luôn lưu động, di chuyển để có thể chu toàn được sứ mạng Đấng đã thiết lập Giáo hội truyền dạy: “Các con hãy đi dạy dỗ muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, hãy dạy họ vâng giữ mọi điều Thầy truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.[5]
Từ ngữ “đi” theo thời gian đã được thi hành trong hai cách: hoặc chính Giáo hội phải “đi” để tới được với những anh chị em chưa từng được nghe biết về Tin Mừng, đang định cư trong những nơi chốn, địa danh cụ thể, để loan báo Tin Mừng cho họ, xây dựng Giáo hội địa phương tại đó cho họ [6]; hoặc Giáo hội cùng “đi” với những người đang trên đường “đi của họ”, để loan báo Tin Mừng và sống Tin Mừng với những con người này.[7]
Hai phương cách này, Giáo hội đã thực hiện đan xen nhau trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của mình.
2. Erga Migrantes được công bố 03/5/2004 với lời giới thiệu (presentation)[8] ở ngay phần đầu của bản văn, là “muốn cập nhật hóa việc chăm sóc mục vụ dành cho di dân, 35 năm sau khi Đức Phaolô VI ban hành tự sắc Pastoralis migratorum [9] và Bộ các Giám mục ban Huấn thị De Pastorali migratorum cura (Nemo est) [10] liên quan”. Lời giới thiệu đã cho thấy Di Dân không phải là vấn đề gần đây mới nhận được sự quan tâm của Giáo hội. không phải chỉ gần đây Giáo hội mới có những sáng kiến, những hướng dẫn mục vụ cho người Di dân và lữ hành. Tính chất mới thể hiện trong mỗi văn kiện, mỗi hoàn cảnh - cụ thể như Erga Migrantes qui về văn kiện gần nó nhất là Pastoralis migratorum của Đức Phaolô VI và huấn thị De Pastorali migratorum cura của Bộ các Giám mục được công bố năm 1969 - là ở chỗ, Giáo hội luôn muốn canh tân, muốn đáp ứng những nhu cầu thiết thực của ngươi Di dân, vốn trong dòng chảy của thời gian, đã có những giai đoạn cần lưu tâm, để ý hơn lúc nào hết.[11]
Trong Erga Migrantes chúng ta đọc được một lần nữa sự quan tâm của Hội thánh với Di dân.
3. Về Bố cục
Erga Migrantes được viết trong 104 số với 22 Khoản Qui định Pháp lý về Mục vụ[12]. Không kể Nhập đề và Kết luận, cùng với những Qui định Pháp lý về Mục vụ dành cho mỗi thành phần Dân Chúa trong trách nhiệm liên đới phải có để lo cho Di dân, Erga Migrantes khai triển những định hướng Mục vụ Di dân trong 4 phần chính.
3.1. Phần I: Di dân, dấu chỉ thời đại và mối quan tâm của Hội thánh
Dùng kiểu nói ‘dấu chỉ của thời đại’, Giáo hội khơi dậy ý thức trách nhiệm nơi mỗi người, và mời gọi cùng với Giáo hội suy nghĩ lời sau đây của Chúa Giêsu với những người thuộc phái Pharisiêu và phái Xađốc khi họ xin Người một dấu lạ từ trời. người đáp: “Chiều đến, các ông nói: ‘Ráng vàng thì nắng’, rồi sớm mai, các ông nói: ‘Ráng trắng thì mưa’. Cảnh sách bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điểm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi”.[13]
Cách nói ‘thời điểm’ hay ‘dấu chỉ thời điểm’, ở đây theo văn mạch, phải hiểu là một thực tại đang diễn ra trước mặt: là Chúa Giêsuvà những lời Ngài giảng dạy, các phép lạ Ngài làm… Là lời chứng, là sự chuẩn bị trước đó của Gioan Tiền hô dẫn tới sự hoán cải của đông đảo dân chúng tích cực chờ đón Ngài, là Đấng Cứu Thế đang đến.
Giáo hội ý thực trách nhiệm đã được trao phó,[14] nhìn nhận mình “có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại, và giải thích dưới ánh sáng Phúc âm”,[15] nhằm “giải đáp một cách thích ứng với mỗi thế hệ những thắc mắc muôn thuở của con người về ý nghĩa cuộc sống hiện tại và mau hậu cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy”.[16]
Một trong những dấu chỉ thời đại, nổi lên từ thế kỷ XIX được huấn quyền, xuyên qua các văn kiện chính thức nhìn nhận là hiện tượng di dân.[17] Hiện tượng này đã trở thành thực tại đòi phải có các tổ chức, cơ quan trung ương của Tòa Thánh và nơi mỗi Giáo hội địa phương tương ứng để phục vụ đúng mức.[18] Erga Migrantes số 14 tái xác nhận Di dân ngày nay vẫn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Giáo hội trong việc phục vụ và loan báo Tin Mừng: “Hiện tượng di dân là một dấu chỉ thời đại đầy ý nghĩa, là một thách đố cần khám phá và sử dụng trong công tác canh tân nhân loại và loan báo tin mừng bình an”.
3.2. Phần II: Di dân và Mục vụ chăm sóc đón tiếp
Xuất phát từ bản chất Giáo hội là Truyền giáo. Giáo hội mời gọi mỗi Kitô hữu trong nhiệm vụ và chức năng tuy khác nhau, vẫn có chung một bản chất với Giáo hội, hãy:
- “Đi tới với mọi người để công bố Đức Giêsu Kitô và - trong Đức Kitô và trong Giáo hội - đưa họ tới sự hiệp thông với toàn thể nhân loại”.[19]
- Dấn thân tích cực làm rõ nét các thừa tác vụ Hiệp thông, Truyền giáo và Mầu nhiệm được Công đồng Vatican II xác định cho Giáo hội trong mọi công tác Mục vụ.[20]
Trong công tác Mục vụ Di dân, hướng dẫn này được thực hiện qua việc phát huy nền văn hóa đón tiếp và liên đới, lắng nghe và đối thoại, hội nhập và phát huy những giá trị Tin Mừng trong mỗi sắc dẫn, mỗi ngôn ngữ, mỗi lễ tiết,[21] để Giáo hội được lớn lên trong và với Di dân.[22]
3.3. Phần III: Các cán sự trong Mục vụ Chăm sóc - Hiệp thông
Từ một nền Giáo hội học hiệp thông và phục vụ linh đạo hiệp thông, phần III của Erga Migrantes số 70 nói tới một nhu cầu bức thiết trước tiên là phải xây dựng được một sự hợp tác chặt chẽ giữa hai Giáo hội xuất xứ và tiếp nhận.
Bước cơ bản là Hội đồng Giám mục mỗi quốc gia được kêu gọi hãy lập ra một Ủy ban Giám mục lo việc mục vụ cho người Di dân hay Lữ hành nói chung, mục đích của Ủy ban là cổ võ và phối hợp hiệu quả các hoạt động mục vụ trong mỗi Giáo hội địa phương. Nếu không lập được, hay không thích hợp để lập một Ủy ban như thế, thì các hoạt động mục vụ nói trên phải được ủy thác cho một Giám mục chịu trách nhiệm để phối hợp.
Các Ủy ban Giám mục hay các Giám mục được ủy thác trách nhiệm phối kết, và các cấu trúc tương ứng bên Giáo hội Đông phương đều có trách nhiệm trên các di dân ngoại quốc trong phần lãnh thổ quốc gia của mình, và đương nhiên trong phần lãnh địa của Giáo hội địa phương. Các ngài phải hết sức lưu tâm tới những người cùng đồng hương với nhau, vì họ đã phải lìa bỏ quê hương gốc và trở nên những di dân trên phần đất của các ngài.
Bước kế tiếp phải có các tuyên úy, các nhà truyền giáo lo cho di dân. Họ là các linh mục nhận bài sai để lo phần thiêng liêng cho những di dân có chung một ngôn ngữ, hay cùng một quốc gia, hoặc thuộc về một Giáo hội sui iuris có chung lễ tiết, Giáo hội cần tạo thuận lợi và chuẩn bị các linh mục tương lai đảm nhận các trách nhiệm này.
Trong số các vị này, cần bổ nhiệm một vị Điều phối viên cấp quốc gia, là biểu hiện của Giáo hội tiếp nhận (Chiesa ad quam), có nhiệm vụ hỗ trợ các tuyên úy, các nhà truyền giáo, chứ không phải là đại diện của họ. Nói chung, vị Điều phối viên được thiết lập nhằm phục vụ các tuyên úy, các nhà truyền giáo được Hội đồng Giám mục gốc (a qua) sai đi chính thức.
Bước cuối cùng là luôn chủ động tạo sự cộng tác chặt chẽ giữa mọi thành phần lo chung một công tác mục vụ di dân: vị Giám đốc Mục vụ di dân cấp quốc gia và các Điều phối viên cấp quốc gia, và giữa chính các tuyên úy với nhau.
3.4. Phần IV: Các cơ cấu của mục vụ truyền giáo
Một nền văn hóa đón tiếp người Di dân đúng nghĩa bao gồm trợ giúp, liên đới, tiếp nhận và hòa nhập vào một Giáo hội duy nhất nơi không ai thấy mình là kẻ xa lạ. Không đơn giản nếu chỉ nghĩ tới việc trợ giúp huynh đệ và tranh đấu về mặt luật pháp cho các lợi ích của người di dân, nhưng phải hơn thế nữa, dám tiếp nhận các giá trị nhân bản chân chính của di dân, vượt lên trên bất cứ khó khăn nào do việc chung sống với người khác gây nên. Nói tóm lại, việc tiếp nhận theo nghĩa đầy đủ Giáo hội muốn, là giúp di dân hòa nhập va tự túc được trong môi trường mới tới.
Cơ cấu căn bản cho việc mục vụ truyền giáo di dân thuộc về Giáo hội địa phương nơi di dân tới. Chịu trách nhiệm đầu là Giám mục bản quyền nơi di dân đang trú ngụ. Tuy nhiên cũng chính nơi đây, việc mục vụ “phải tôn trọng hoàn toàn sự khác biệt về di sản thiêng liêng và văn hóa của di dân chứ không hạn chế lại vì lý do phải đồng bộ”.[23] Để hòa hợp, Giáo hội nơi tiếp nhận cần phân biệt “đặc tính địa giới của việc chăm sóc thiêng liêng với việc chăm sóc dựa trên yếu tố họ thuộc về các nhóm sắc dân, ngôn ngữ và nghi lễ”.[24]
Do đó, cần có các cơ cấu mục vụ đón tiếp thích hợp, như:
- Giáo xứ toàn nhân dựa trên sắc dân và ngôn ngữ, hay dựa trên nghi lễ riêng, để phục vụ số đông người Công giáo đã ổn định và có lễ nghi ngôn ngữ riêng hay cùng quốc tịch. Cũng có thể lập giáo xứ địa phương với sứ mạng phục vụ sắc dân - ngôn ngữ hay phục vụ nghi lễ riêng, tức là giáo xứ có địa sở với một hay nhiều cán sự mục vụ để phục vụ, một hay nhiều nhóm Kitô hữu ngoại quốc.
- Giám điểm (missio cum cura animarum) được thiết lập để lo phần thiêng liêng cho người di dân thuộc các sắc dân - quốc gia hay có lễ nghi riêng, nhưng cuộc sống chưa ổn định.
- Tổ chức Mục vụ sắc dân ngôn ngữ trên cấp vùng (Servizio pastorale etnico-linguistico a livello zonale) nhằm có các hoạt động mục vụ giúp những người nhập cư đã hòa nhập tương đối tốt vào xã hội địa phương.
Mục vụ Di dân có thể được hòa nhập trong mục vụ đối địa theo những hình thức sau:
- Giáo xứ liên văn hóa, liên sắc tộc, liên nghi lễ: nhằm hỗ trợ mục vụ cho cả dân bản xứ lẫn ngoại kiều cư ngụ trong cùng địa giới. Giáo xứ đối địa trở thành “địa đei63m ưu tiên và ổn định cho kinh nghiệm liên sắc dân và liên văn hóa, trong khi các nhóm cá thể vẫn duy trì được sự tự lập nào đó”.[25]
- Giáo xứ địa phương phục vụ di dân của một hay nhiều nhóm sắc dân, một hay nhiều nghi lễ, Giáo xứ đối địa (nhà thờ hay trung tâm giáo xứ) là nơi qui tụ, gặp gỡ và sống cộng đoàn cho một hay nhiều cộng đoàn ngoại kiều.
Cũng có thể có các cơ cấu mục vụ - truyền giáo khác [26] đáp ứng các nhu cầu đặc biệt cho các giới đặc biệt của di dân, như:
- Trung tâm dành cho công tác mục vụ giữa người trẻ và dành cho hương nghiệp, với nhiệm vụ phát huy sáng kiến trong lãnh vực này;
- Trung tâm huấn luyện giáo dân và cán sự mục vụ, để phục vụ trong viễn tượng đa văn hóa;
- Trung tâm nghiên cứu và suy tư mục vụ: với nhiệm vụ theo dõi sự biến thái của hiện tượng di dân và đề xuất cho những người trách nhiệm hướng mục vụ thích hợp;
- Đơn vị mục vụ (unità pastorale) được hình thành tại một giáo xứ hay liên giáo xứ đối địa, làm việc nhịp nhàng với chương trình mục vụ chung của giáo phận để lo cho di dân.
Tóm lại 2 điều cần lưu ý cho các cơ cấu mục vụ truyền giáo di dân là:
1/ Tất cả những hình thức được giới thiệu nói trên, và cả “những dàn xếp mục vụ không chính thức, có thể là tự phát, rất đáng được nhìn nhận và khích lệ trong nội vi một giáo phận, không cần biết có bao nhiêu người được hưởng ơn ích của nó. Chỉ cần tránh nguy cơ ngẫu hứng, đơn độc, cán sự không thích hợp và các giáo phái”.[27]
2/ các cơ cấu mục vụ sẽ trở nên hữu hiệu nếu làm việc trong tinh thần hợp tác và hòa hợp giữa cộng đoàn địa phương (Giáo hội địa phương) với các nhóm khác nhau của Di dân.
Kết luận
Giáo hội nói chung và mỗi Giáo hội địa phương nói riêng (Giáo hội gốc, nơi người di dân xuất phát lẫn Giáo hội nơi tiếp nhận), qua huấn thị Erga Migrantes, đều được mời gọi cảm thấy có liên quan tới và phải dấn thân cho di dân, và giúp mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo hội nhận ra tính phức tạp của vấn đề di dân, và chống lại các ngờ vực vô căn cớ cũng như những thành kiến chống lại các ngoại kiều.[28]
Chúng ta không thể đáp ứng lại lời mời gọi này, nếu không cùng một thao thức quan tâm với Giáo hội, không cùng một nhịp đập với “con tim chạnh lòng thương của Chúa” nơi các Đấng thay mặt Chúa đã góp phần tạo ra Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi - Tình Yêu Đức Kitô dành cho Di dân.
Các tổ thảo luận theo câu hỏi.
Cha Gioan Nguyễn Văn Ty trình bày đề tài: “Giáo hội Công Giáo Việt nam trước nhu cầu mục vụ di dân” với những phân tích sâu sắc về lịch sử, linh đạo, thần học, định hướng mục vụ di dân. Sau đó các tổ thảo luận theo câu hỏi.
Cha Dong chia sẽ kinh nghiệm mục vụ di dân trong nước, đặc biệt tại Sài gòn.
Cha Hoàng chia sẽ mục vụ di dân ngoại kiều. Cha Dụ cha Hòa, cha Trí chia sẽ mục vụ di dân hải ngoại, các cộng đoàn Công giáo Việt nam bên Ý, Pháp, Đài loan.
Chiều 9.1, đúc kết những thảo luận và kiến nghị. Trao đổi và góp ý để hoàn chỉnh ban điều hành UBGMDD-HĐGMVN.
Sau giờ Chầu Thánh Thể tạ ơn, tiệc liên hoan có các nhóm giới trẻ di dân giúp vui các tiết mục ca múa vui nhộn dễ thương.
Hội nghị lần thứ nhất, UBGMDD trình bày giáo huấn của Giáo hội về mục vụ di dân, đề ra những định hướng và thiết lập cơ cấu tổ chức nhân sự. Tất cả đều hướng đến sứ vụ “Chăm sóc mục vụ cho anh chị em di dân là trách vụ gằn liền với sứ mạng truyền giáo và cần được lưu tâm đặc biệt trong bối cảnh ngày nay” (Đề cương Giáo hội tại Việt nam, HĐGMVN, Ban tổ chức năm Thánh 2010 trg.68-69).
Di dân như một dấu chỉ thời đại, một tiếng gọi của Thiên Chúa mời gọi Giáo hội Việt Nam rộng mở tiếp nhận trong đối thoại hiệp thông, trong phục vụ và truyền giáo.
Chú thích:
[1] Hồng Y Stephen Fumio Hamao làm Chủ tịch, và Tổng Giám Mục Agostino Marchetto làm Thư Ký (thời điểm văn kiện được công bố).
[2] Số 62 của Thông Điệp Caritas in Veritate của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho thấy mối quan tâm đặc biệt của Hội thánh về vấn đề Di dân, mở ra một lời mời gọi chung cho mọi chính quyền dân sự, và cộng đồng chung các quốc gia trên thế giới.
[3] AG 2: “Giáo hội tự bản chất là truyền giáo”.
[4] tc. LG 9: “… như Israel theo xác thịt, khi đang lữ hành trong sa mạc, đã được gọi là GH của TC, dân Israel mới tiến bước trong thời đại này, đang tìm về thành thánh tương lai bất diệt, cũng được gọi là GH Chúa Kitô”; và phần chú thích 9*: “Giáo hội là Dân Thiên Chúa trên đường lữ hành qua lịch sử thánh… Dân Chúa nói đây phải hiểu là cả mục tử lẫn con chiên…”
[5] Mt 28,19-20.
[6] Trường hợp nổi bật là nơi các Tông Đồ: Phaolô chẳng hạn, trên đường truyền giáo, đã thiết lập các cộng đoàn nơi mỗi vùng đất ngài đặt chân tới. Sau này CĐ Vatican II, chúng ta thấy rõ ý nghĩa chuyên biệt của việc truyền giáo này được tái xác nhận là “rao giảng Phúc âm và trồng Giáo hội vào các dân tộc hay những nhóm người mà Giáo hội còn chưa bén rễ” (AG 6).
[7] Trường hợp điển hình nơi các tín hữu ban đầu trong cuộc bách hại tại Giêrusalem, đã phải lánh nạn trong những nơi an toàn, những vùng đất nhiều khi trước đó chưa từng nghĩ tới (tc. CVTĐ 8,1; 11,19-21), hoặc tháp tùng những ai đang trên đường tìm kiếm chân lý, sự sống mới như trường hợp của Philip cho hoạn quan quyền thế của Kanđakê (tc. CVTĐ 8,26-40).
[8] Presentation của Đức Hồng Y Hamao Chủ tịch ở phần đầu của Huấn thị.
[9] Paul VI, Mortu proprio Pastoralis Migratorum Cura: AAS LXI (1969) 601-603.
[10] Congregation for Bishops, Instruction De pastorali migratorum cura (Nemo est): AAS LXI (1969) 614-643.
[10] tc. EMCC 3: “Mục đích trước hết của Huấn thị là đáp ứng các nhu cầu thiêng liêng và mục vụ của di dân ngày càng trở thành một dụng cụ của đối thoại và loan báo sứ điệp Kitô”.
[12] 22 khoản Qui định Pháp lý về Mục vụ là những triển khai cụ thể về Giáo luật được nói trong Phần I của Huấn thị: Di Dân, dấu chỉ thời đại và mối quan tâm của Hội thánh.
[13] Mt 16,2-3.
[14] tc. Mt 28,19-23.
[15] GS 4.
[16] Ibid.
[17] tc EMCC 19-23. Từ số 19 đến 23 cho di dân bắt đầu trở thành vấn đề lớn trong xã hội, và Giáo hội đáp ứng bằng những văn kiện hướng dẫn, kèm theo những hình thức mục vụ di dân thích hợp như sắc lệnh Ethnografica studia 1914 nhấn mạnh trách nhiệm của Giáo hội địa phương nâng đỡ di dân và khuyên hàng giáo sĩ địa phương phải được chuẩn bị thích hợp cho công tác này, cả về ngôn ngữ, văn hóa và mục vụ; Sắc lệnh Magni semper 1915 trao cho Bộ Giám mục thẩm quyền cho phép giáo sĩ chăm sóc di dân; Tông huấn Exsul familia 01.8.1952 của Đức Piô XII xác định nhiệm vụ hàng đầu về mục vụ chăm sóc di dân thuộc Giám mục giáo phận địa phương; Công đồng Vaticano II (1962-1965) với các văn kiện Gaudium et Spes, Apostolicam Actuositatem, Christus Dominus cho thấy di dân là một thực tại, đòi Dân Chúa phải quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ, gần gũi như “cận nhân” đối với di dân… đồng thời kêu gọi các đấng bản quyền liên hệ hãy đồng tâm hiệp lực lo lắng và hỗ trợ việc thiêng liêng cho người di dân. Tự sắc Pastoralis Migratorum Cura 1969 của Đức Phaolô VI và Huấn thị De Pastorali Migratorum Cura của Bộ các Giám mục nhấn mạnh tới vai trò các Giáo hội địa phương trong việc tiếp đón Di dân, và sự cộng tác liên Giáo hội để đảm bảo việc chăm sóc mục vụ phi biên giới cho Di dân; Bộ Giáo luật mới đòi các linh mục quản xứ phải quan tâm tới những người sống xa quê hương, tiên liệu việc thành lập các giáo xứ tòng nhân, giáo xứ sui iuris cho Di dân.
Thực ra trước thế kỷ XIX cũng đã có những huấn quyền nói về các việc mục vụ cho người di dân. Nhưng các văn kiện này chỉ có tính đáp ứng từng giai đoạn. Trong số các văn kiện này, đáng kể nhất là văn kiện của Công đồng Latran IV được Tassello trích dẫn trong lời giới thiệu bộ sách thu tập những tuyên bố của huấn quyền viết bằng tiếng Ý: FONDAZIONE MIGRANTES DELLA CONFERENZA EPISCOPALE ITALINANA, Enchiridion delle Chiesa per le Migrazioni, Documenti magisteriali ed ecumenici sulla pastorale della mobilita umana (1887-2000), Bologna 2001, pp. 19-20: “Nhận thấy tại nhiều nơi có khi trong cùng một thành phố, một giáo phận, có sự pha trộn của dân chúng, dầu có chung một niềm tin, nhưng nói các thứ tiếng khác nhau, với những phong tục và lễ tiết khác nhau, vì thế chúng tôi truyền là các đấng bản quyền những nơi này cần định liệu để có thừa tác viên cử hành phụng vụ theo các lễ tiết và ngôn ngữ khác nhau, cử hành các bí tích của Giáo hội và giảng dạy thích ứng các lẽ đạo bằng lời nói và gương sáng” (CONCILIO LATERANENSE IV, cap. IX, J.D. MANSI, Sacrorum conciliorum nova et amplissima collectio, XXII, Venezia 1778, 988).
[18] tc EMCC 31-33 tóm tắt cho biết: năm 1912 Đức Piô X thiết lập Văn Phòng về vấn đề Di dân thuộc Bộ Giám mục; năm 1970 Đức Phaolô VI thiết lập Ủy Ban Giáo Hoàng Mục vụ Chăm sóc Di dân và Du lịch; năm 1988 nâng cấp thành Hội Đồng Giáo Hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Lữ hành. Nhiệm vụ của Văn phòng, Ủy ban, Hội đồng là thúc đẩy, cổ võ và sinh động các sáng kiến mục vụ thích hợp giúp cho những ai, vì lựa chọn hoặc vì nhu cầu, phải xa lìa nơi cư trú bình thường của họ.
[19] EMCC 97.
[20] tc. EMCC 37.
[21] tc. EMCC 34-39.
[22] tc. EMCC 49-60: ở đây, Huấn thị phân ra 4 loại: di dân Công Giáo; Di dân Công Giáo theo nghi lễ Đông Phương; Di dân thuộc các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác; Di dân thuộc các tôn giáo khác nói chung.
[23] EMCC 89.
[24] Ibid.
[25] EMCC 92.
[26] tc. EMCC 94.
[27] EMCC 92.
[28] tc. EMCC 41.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Qua 2 ngày hội thảo, ban tổ chức đã trình bày Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi, cùng nhau thảo luận về vấn đề Di dân và đề xuất những định hướng cho tương lai.
Từ chiều ngày 8/1, ban tổ chức đón tiếp ân cần các đại biểu từ các giáo phận miền Bắc, miền Trung, vùng cao nguyên, miền Tây. Tu viện Phanxicô, nơi yên tĩnh giữa lòng phố thị, với cơ sở rộng rãi khang trang, nhiều cây xanh, phong cảnh đẹp, các tham dự viên được phục vụ tận tình chu đáo.
5g chiều, thánh lễ khai mạc do Đức Hồng Y chủ tế. Ngài chia sẽ vài tâm tình mục vụ di dân.
Chúng ta đang sống trong mùa Giáng Sinh. Những bài Tin mừng sau lễ Giáng Sinh và Hiển Linh đều nói về Chúa Giêsu liên tục di chuyển, mới sinh ra đã di chuyển, đã di dân.
Khi nghe tin Gioan bị tống ngục, Chúa Giêsu đang ở miền Giuđêa để loan Tin mừng liền di chuyển về Galilê. Chúa giảng dạy ở Capharnaum. Lên núi Bát Phúc, làm nhiều phép lạ… Mọi người nghe tin như vậy thì từ miền Giuđêa rồi các miền Thập tỉnh, cả phía Đông bên kia sông Giođan kéo đến để nghe Chúa dạy, để chiêm ngưỡng Chúa. Chúa phải di chuyển liên tục, thân phận nhập thể làm người, có lẽ trước tiên Chúa muốn đồng cảm không những đón nhận thân phận của con người, cái hình thức, cái thân xác hay chết mà thôi, mà còn đồng cảm, cảm nhận cảm xúc, tâm tình của con người và đặc biệt những người du mục, liên tục di chuyển để biết tâm trạng của họ có một sự đồng cảm yêu thương họ. Chúa giảng dạy phù hợp với tâm thức, tâm lý của mọi người trên hành trình di chuyển.
Chúng ta lo mục vụ di dân là phải có một sự đồng cảm với những người di dân. Cách đây 6, 7 năm, Tp. HCM phát triển, bỗng nhiên di dân cả gần 2 triệu người về đây. Có một cha ở miền Trung nói với tôi rằng, một đêm tới sáng, một lớp Giáo lý họ đạo lớn, lên tàu hỏa đi vô Nam hết, lớp Giáo lý hôm sau trống trơn. Nói lên hình ảnh đó cho thấy ào ạt làn sóng di dân vào trong thành phố.
Nhiều người di dân trẻ đến đây học hành, lao động…Khi đón nhận nhiệm vụ mục vụ di dân thì vô số vấn đề, không biết phải giải quyết làm sao.
Tôi đi thăm các vị Hồng Y, Giám mục bên Mỹ, Canada, Âu châu, những nơi có cộng đoàn Công giáo Việt Nam ở đông. Các ngài đều nói rằng, cộng đoàn Công giáo Việt Nam là tấm gương đức tin cho chúng tôi, họ có đức tin vững vàng. Có vị cám ơn, nhờ tôi chuyển lời cám ơn Giáo hội Việt Nam. Giáo hội Việt Nam đã gởi cho họ những người Công giáo gương mẫu như vậy cho nên rất cám ơn. Tôi trả lời thế này: Thực ra không phải Giáo hội Việt Nam đâu mà là Chúa Thánh Thần đó. Chúa sai đi chứ không phải Giáo hội Việt Nam gởi.
Điều đó cho thấy tác động của Chúa Thánh Thần giống như Chúa Giêsu vậy. Chúa di chuyển khắp nơi để loan tin. Chúa cũng dùng làn sóng di dân để phát triển Tin mừng. Hiện tại các nơi đều có người Công giáo Việt nam: Campuchia, Lào, Thái Lan… Giáo hội Thái Lan vừa mời tôi sang cử hành kỷ niệm 300 năm thành lập Giáo phận Chanthaburi ở phía Đông Nam giáp giới Campuchia. Sang bên đó người ta kể, nhà thờ Chính tòa Chanthaburi hình thành cách đây 300 năm từ 130 người Việt Nam. Từ những người công giáo Việt Nam, hôm nay nhà thờ Chính tòa của địa phận Chanthaburi có đến 8.000 giáo dân, có lẽ là nhà thờ lớn nhất của Giáo hội Thái Lan, mà nguồn gốctừ người công giáo Việt Nam.
Tôi đến thăm Làng Việt Nam, chỗ đó Đức cha Lambert de la Motte làm Giám mục Đàng Trong. Trong nhà thờ ở đó còn lưu giữ xác của ngài. Đức Cha Lambert de la Motte đã làm hai điều còn lưu lại tới ngày nay đó là thành lập hàng Giáo sĩ bản xứ của chúng ta, và thành lập Dòng MTG, một Dòng tu hoàn toàn Việt Nam. Từ đó tới nay Dòng MTG phát triển rất nhanh. Hiện tại ở bên Thái Lan có 3 Hội dòng, ở Việt Nam có 24 Hội dòng, tổng cộng phải trên 10.000 tu sĩ Dòng MTG. Công trình của Đức Cha Lambert, ngài cũng là người di dân, đi từ bên Tây bên Tàu sang bên mình rồi cứ phải liên tục di chuyển như vậy. Cho nên người Công giáo Việt Nam của chúng ta nhờ những cuộc di cư và di dân đã thiết lập nhiều giáo xứ. Những miền đất mới như chiếc tàu Noe đón nhận. Người di dân trở thành sứ giả Tin mừng.
Trong cuộc hội thảo này, chúng ta cùng góp ý để hướng đến, mỗi Giáo phận trở thành chiếc tàu Noe cho di dân, thành chỗ dựa niềm tin cho con người.
Sáng 9.1, cha Đỗ Đình Ánh, trình bày đề tài “Cùng đọc Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi (Tình Yêu Đức Kitô dành cho Di dân)”.
Nhập đề
Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi (EMCC), tài liệu hướng dẫn mới nhất do Hội Đồng Giáo Hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Lữ Hành biên soạn,[1] được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phê chuẩn ngày 01/05/2004, và 3 ngày sau, tức 03/5/2004 được chính thức công bố. Tài liệu này đã mau chóng trở thành “thủ bản”, hay “kim chỉ nam” cho các hoạt động Mục vụ chăm sóc Di dân và Lữ Hành của toàn thể Giáo hội, từ Giáo hội hoàn vũ tới Giáo hội địa phương. Đến nay, sau 5 năm công bố, Huấn thị vẫn tiếp tục mang tính “thời sự” cho toàn thể Hội thánh.[1] Tính thời sự đó được nhìn dưới hai điểm nhấn: Sự qsuan tâm của toàn thể Hội thánh với những người Di dân và Lữ hành và Những cố gắng thích ứng của những hướng dẫn Mục vụ chăm sóc của Hội thánh cho những con người này.
Đi vào hai điểm nhấn nói trên, chúng ta mong chính bản thân cũng như những ai đang dấn thân cho việc chăm sóc mục vụ Di dân và nhiều người thiện chí khác nữa sẽ có thêm khả năng hiểu, đồng cảm được với một trong những quan tâm hàng đầu hiện nay của Hội thánh là Loan báo Tin Mừng và sẵn lòng hợp tác với nhau làm cho men Tin Mừng trong một lãnh vực hết sức cụ thể là Phục vụ Chăm sóc Mục vụ cho người Di dân và Lữ hành được nở rộ khắp mọi môi trường, hoàn cảnh sống hiện nay của mỗi người.
Khai triển
1. Trước hết, nói về Sự Quan tâm của Hội thánh với Di dân. Câu hỏi đặt ra là đã từ khi nào, và bắt đầu từ đâu, với những phương thế nào Giáo hội được nhận mình thực sự là biết quan tâm lo lắng mục vụ cho người Di dân, Lữ hành?
Không khó tìm câu trả lời nếu chúng ta đi ngược dòng lịch sử chiêm ngắm Giáo hội trong giai đoạn được khai sinh và phát triển sau đó. Công đồng Vaticano II cho biết, Giáo hội này là một Giáo hội tự bản chất là truyền giáo [3] và lữ hành [4], được hình thành bởi những con người, ý thức mình phải luôn lưu động, di chuyển để có thể chu toàn được sứ mạng Đấng đã thiết lập Giáo hội truyền dạy: “Các con hãy đi dạy dỗ muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, hãy dạy họ vâng giữ mọi điều Thầy truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.[5]
Từ ngữ “đi” theo thời gian đã được thi hành trong hai cách: hoặc chính Giáo hội phải “đi” để tới được với những anh chị em chưa từng được nghe biết về Tin Mừng, đang định cư trong những nơi chốn, địa danh cụ thể, để loan báo Tin Mừng cho họ, xây dựng Giáo hội địa phương tại đó cho họ [6]; hoặc Giáo hội cùng “đi” với những người đang trên đường “đi của họ”, để loan báo Tin Mừng và sống Tin Mừng với những con người này.[7]
Hai phương cách này, Giáo hội đã thực hiện đan xen nhau trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của mình.
2. Erga Migrantes được công bố 03/5/2004 với lời giới thiệu (presentation)[8] ở ngay phần đầu của bản văn, là “muốn cập nhật hóa việc chăm sóc mục vụ dành cho di dân, 35 năm sau khi Đức Phaolô VI ban hành tự sắc Pastoralis migratorum [9] và Bộ các Giám mục ban Huấn thị De Pastorali migratorum cura (Nemo est) [10] liên quan”. Lời giới thiệu đã cho thấy Di Dân không phải là vấn đề gần đây mới nhận được sự quan tâm của Giáo hội. không phải chỉ gần đây Giáo hội mới có những sáng kiến, những hướng dẫn mục vụ cho người Di dân và lữ hành. Tính chất mới thể hiện trong mỗi văn kiện, mỗi hoàn cảnh - cụ thể như Erga Migrantes qui về văn kiện gần nó nhất là Pastoralis migratorum của Đức Phaolô VI và huấn thị De Pastorali migratorum cura của Bộ các Giám mục được công bố năm 1969 - là ở chỗ, Giáo hội luôn muốn canh tân, muốn đáp ứng những nhu cầu thiết thực của ngươi Di dân, vốn trong dòng chảy của thời gian, đã có những giai đoạn cần lưu tâm, để ý hơn lúc nào hết.[11]
Trong Erga Migrantes chúng ta đọc được một lần nữa sự quan tâm của Hội thánh với Di dân.
3. Về Bố cục
Erga Migrantes được viết trong 104 số với 22 Khoản Qui định Pháp lý về Mục vụ[12]. Không kể Nhập đề và Kết luận, cùng với những Qui định Pháp lý về Mục vụ dành cho mỗi thành phần Dân Chúa trong trách nhiệm liên đới phải có để lo cho Di dân, Erga Migrantes khai triển những định hướng Mục vụ Di dân trong 4 phần chính.
3.1. Phần I: Di dân, dấu chỉ thời đại và mối quan tâm của Hội thánh
Dùng kiểu nói ‘dấu chỉ của thời đại’, Giáo hội khơi dậy ý thức trách nhiệm nơi mỗi người, và mời gọi cùng với Giáo hội suy nghĩ lời sau đây của Chúa Giêsu với những người thuộc phái Pharisiêu và phái Xađốc khi họ xin Người một dấu lạ từ trời. người đáp: “Chiều đến, các ông nói: ‘Ráng vàng thì nắng’, rồi sớm mai, các ông nói: ‘Ráng trắng thì mưa’. Cảnh sách bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điểm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi”.[13]
Cách nói ‘thời điểm’ hay ‘dấu chỉ thời điểm’, ở đây theo văn mạch, phải hiểu là một thực tại đang diễn ra trước mặt: là Chúa Giêsuvà những lời Ngài giảng dạy, các phép lạ Ngài làm… Là lời chứng, là sự chuẩn bị trước đó của Gioan Tiền hô dẫn tới sự hoán cải của đông đảo dân chúng tích cực chờ đón Ngài, là Đấng Cứu Thế đang đến.
Giáo hội ý thực trách nhiệm đã được trao phó,[14] nhìn nhận mình “có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại, và giải thích dưới ánh sáng Phúc âm”,[15] nhằm “giải đáp một cách thích ứng với mỗi thế hệ những thắc mắc muôn thuở của con người về ý nghĩa cuộc sống hiện tại và mau hậu cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy”.[16]
Một trong những dấu chỉ thời đại, nổi lên từ thế kỷ XIX được huấn quyền, xuyên qua các văn kiện chính thức nhìn nhận là hiện tượng di dân.[17] Hiện tượng này đã trở thành thực tại đòi phải có các tổ chức, cơ quan trung ương của Tòa Thánh và nơi mỗi Giáo hội địa phương tương ứng để phục vụ đúng mức.[18] Erga Migrantes số 14 tái xác nhận Di dân ngày nay vẫn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Giáo hội trong việc phục vụ và loan báo Tin Mừng: “Hiện tượng di dân là một dấu chỉ thời đại đầy ý nghĩa, là một thách đố cần khám phá và sử dụng trong công tác canh tân nhân loại và loan báo tin mừng bình an”.
3.2. Phần II: Di dân và Mục vụ chăm sóc đón tiếp
Xuất phát từ bản chất Giáo hội là Truyền giáo. Giáo hội mời gọi mỗi Kitô hữu trong nhiệm vụ và chức năng tuy khác nhau, vẫn có chung một bản chất với Giáo hội, hãy:
- “Đi tới với mọi người để công bố Đức Giêsu Kitô và - trong Đức Kitô và trong Giáo hội - đưa họ tới sự hiệp thông với toàn thể nhân loại”.[19]
- Dấn thân tích cực làm rõ nét các thừa tác vụ Hiệp thông, Truyền giáo và Mầu nhiệm được Công đồng Vatican II xác định cho Giáo hội trong mọi công tác Mục vụ.[20]
Trong công tác Mục vụ Di dân, hướng dẫn này được thực hiện qua việc phát huy nền văn hóa đón tiếp và liên đới, lắng nghe và đối thoại, hội nhập và phát huy những giá trị Tin Mừng trong mỗi sắc dẫn, mỗi ngôn ngữ, mỗi lễ tiết,[21] để Giáo hội được lớn lên trong và với Di dân.[22]
3.3. Phần III: Các cán sự trong Mục vụ Chăm sóc - Hiệp thông
Từ một nền Giáo hội học hiệp thông và phục vụ linh đạo hiệp thông, phần III của Erga Migrantes số 70 nói tới một nhu cầu bức thiết trước tiên là phải xây dựng được một sự hợp tác chặt chẽ giữa hai Giáo hội xuất xứ và tiếp nhận.
Bước cơ bản là Hội đồng Giám mục mỗi quốc gia được kêu gọi hãy lập ra một Ủy ban Giám mục lo việc mục vụ cho người Di dân hay Lữ hành nói chung, mục đích của Ủy ban là cổ võ và phối hợp hiệu quả các hoạt động mục vụ trong mỗi Giáo hội địa phương. Nếu không lập được, hay không thích hợp để lập một Ủy ban như thế, thì các hoạt động mục vụ nói trên phải được ủy thác cho một Giám mục chịu trách nhiệm để phối hợp.
Các Ủy ban Giám mục hay các Giám mục được ủy thác trách nhiệm phối kết, và các cấu trúc tương ứng bên Giáo hội Đông phương đều có trách nhiệm trên các di dân ngoại quốc trong phần lãnh thổ quốc gia của mình, và đương nhiên trong phần lãnh địa của Giáo hội địa phương. Các ngài phải hết sức lưu tâm tới những người cùng đồng hương với nhau, vì họ đã phải lìa bỏ quê hương gốc và trở nên những di dân trên phần đất của các ngài.
Bước kế tiếp phải có các tuyên úy, các nhà truyền giáo lo cho di dân. Họ là các linh mục nhận bài sai để lo phần thiêng liêng cho những di dân có chung một ngôn ngữ, hay cùng một quốc gia, hoặc thuộc về một Giáo hội sui iuris có chung lễ tiết, Giáo hội cần tạo thuận lợi và chuẩn bị các linh mục tương lai đảm nhận các trách nhiệm này.
Trong số các vị này, cần bổ nhiệm một vị Điều phối viên cấp quốc gia, là biểu hiện của Giáo hội tiếp nhận (Chiesa ad quam), có nhiệm vụ hỗ trợ các tuyên úy, các nhà truyền giáo, chứ không phải là đại diện của họ. Nói chung, vị Điều phối viên được thiết lập nhằm phục vụ các tuyên úy, các nhà truyền giáo được Hội đồng Giám mục gốc (a qua) sai đi chính thức.
Bước cuối cùng là luôn chủ động tạo sự cộng tác chặt chẽ giữa mọi thành phần lo chung một công tác mục vụ di dân: vị Giám đốc Mục vụ di dân cấp quốc gia và các Điều phối viên cấp quốc gia, và giữa chính các tuyên úy với nhau.
3.4. Phần IV: Các cơ cấu của mục vụ truyền giáo
Một nền văn hóa đón tiếp người Di dân đúng nghĩa bao gồm trợ giúp, liên đới, tiếp nhận và hòa nhập vào một Giáo hội duy nhất nơi không ai thấy mình là kẻ xa lạ. Không đơn giản nếu chỉ nghĩ tới việc trợ giúp huynh đệ và tranh đấu về mặt luật pháp cho các lợi ích của người di dân, nhưng phải hơn thế nữa, dám tiếp nhận các giá trị nhân bản chân chính của di dân, vượt lên trên bất cứ khó khăn nào do việc chung sống với người khác gây nên. Nói tóm lại, việc tiếp nhận theo nghĩa đầy đủ Giáo hội muốn, là giúp di dân hòa nhập va tự túc được trong môi trường mới tới.
Cơ cấu căn bản cho việc mục vụ truyền giáo di dân thuộc về Giáo hội địa phương nơi di dân tới. Chịu trách nhiệm đầu là Giám mục bản quyền nơi di dân đang trú ngụ. Tuy nhiên cũng chính nơi đây, việc mục vụ “phải tôn trọng hoàn toàn sự khác biệt về di sản thiêng liêng và văn hóa của di dân chứ không hạn chế lại vì lý do phải đồng bộ”.[23] Để hòa hợp, Giáo hội nơi tiếp nhận cần phân biệt “đặc tính địa giới của việc chăm sóc thiêng liêng với việc chăm sóc dựa trên yếu tố họ thuộc về các nhóm sắc dân, ngôn ngữ và nghi lễ”.[24]
Do đó, cần có các cơ cấu mục vụ đón tiếp thích hợp, như:
- Giáo xứ toàn nhân dựa trên sắc dân và ngôn ngữ, hay dựa trên nghi lễ riêng, để phục vụ số đông người Công giáo đã ổn định và có lễ nghi ngôn ngữ riêng hay cùng quốc tịch. Cũng có thể lập giáo xứ địa phương với sứ mạng phục vụ sắc dân - ngôn ngữ hay phục vụ nghi lễ riêng, tức là giáo xứ có địa sở với một hay nhiều cán sự mục vụ để phục vụ, một hay nhiều nhóm Kitô hữu ngoại quốc.
- Giám điểm (missio cum cura animarum) được thiết lập để lo phần thiêng liêng cho người di dân thuộc các sắc dân - quốc gia hay có lễ nghi riêng, nhưng cuộc sống chưa ổn định.
- Tổ chức Mục vụ sắc dân ngôn ngữ trên cấp vùng (Servizio pastorale etnico-linguistico a livello zonale) nhằm có các hoạt động mục vụ giúp những người nhập cư đã hòa nhập tương đối tốt vào xã hội địa phương.
Mục vụ Di dân có thể được hòa nhập trong mục vụ đối địa theo những hình thức sau:
- Giáo xứ liên văn hóa, liên sắc tộc, liên nghi lễ: nhằm hỗ trợ mục vụ cho cả dân bản xứ lẫn ngoại kiều cư ngụ trong cùng địa giới. Giáo xứ đối địa trở thành “địa đei63m ưu tiên và ổn định cho kinh nghiệm liên sắc dân và liên văn hóa, trong khi các nhóm cá thể vẫn duy trì được sự tự lập nào đó”.[25]
- Giáo xứ địa phương phục vụ di dân của một hay nhiều nhóm sắc dân, một hay nhiều nghi lễ, Giáo xứ đối địa (nhà thờ hay trung tâm giáo xứ) là nơi qui tụ, gặp gỡ và sống cộng đoàn cho một hay nhiều cộng đoàn ngoại kiều.
Cũng có thể có các cơ cấu mục vụ - truyền giáo khác [26] đáp ứng các nhu cầu đặc biệt cho các giới đặc biệt của di dân, như:
- Trung tâm dành cho công tác mục vụ giữa người trẻ và dành cho hương nghiệp, với nhiệm vụ phát huy sáng kiến trong lãnh vực này;
- Trung tâm huấn luyện giáo dân và cán sự mục vụ, để phục vụ trong viễn tượng đa văn hóa;
- Trung tâm nghiên cứu và suy tư mục vụ: với nhiệm vụ theo dõi sự biến thái của hiện tượng di dân và đề xuất cho những người trách nhiệm hướng mục vụ thích hợp;
- Đơn vị mục vụ (unità pastorale) được hình thành tại một giáo xứ hay liên giáo xứ đối địa, làm việc nhịp nhàng với chương trình mục vụ chung của giáo phận để lo cho di dân.
Tóm lại 2 điều cần lưu ý cho các cơ cấu mục vụ truyền giáo di dân là:
1/ Tất cả những hình thức được giới thiệu nói trên, và cả “những dàn xếp mục vụ không chính thức, có thể là tự phát, rất đáng được nhìn nhận và khích lệ trong nội vi một giáo phận, không cần biết có bao nhiêu người được hưởng ơn ích của nó. Chỉ cần tránh nguy cơ ngẫu hứng, đơn độc, cán sự không thích hợp và các giáo phái”.[27]
2/ các cơ cấu mục vụ sẽ trở nên hữu hiệu nếu làm việc trong tinh thần hợp tác và hòa hợp giữa cộng đoàn địa phương (Giáo hội địa phương) với các nhóm khác nhau của Di dân.
Kết luận
Giáo hội nói chung và mỗi Giáo hội địa phương nói riêng (Giáo hội gốc, nơi người di dân xuất phát lẫn Giáo hội nơi tiếp nhận), qua huấn thị Erga Migrantes, đều được mời gọi cảm thấy có liên quan tới và phải dấn thân cho di dân, và giúp mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo hội nhận ra tính phức tạp của vấn đề di dân, và chống lại các ngờ vực vô căn cớ cũng như những thành kiến chống lại các ngoại kiều.[28]
Chúng ta không thể đáp ứng lại lời mời gọi này, nếu không cùng một thao thức quan tâm với Giáo hội, không cùng một nhịp đập với “con tim chạnh lòng thương của Chúa” nơi các Đấng thay mặt Chúa đã góp phần tạo ra Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi - Tình Yêu Đức Kitô dành cho Di dân.
Các tổ thảo luận theo câu hỏi.
Cha Gioan Nguyễn Văn Ty trình bày đề tài: “Giáo hội Công Giáo Việt nam trước nhu cầu mục vụ di dân” với những phân tích sâu sắc về lịch sử, linh đạo, thần học, định hướng mục vụ di dân. Sau đó các tổ thảo luận theo câu hỏi.
Cha Dong chia sẽ kinh nghiệm mục vụ di dân trong nước, đặc biệt tại Sài gòn.
Cha Hoàng chia sẽ mục vụ di dân ngoại kiều. Cha Dụ cha Hòa, cha Trí chia sẽ mục vụ di dân hải ngoại, các cộng đoàn Công giáo Việt nam bên Ý, Pháp, Đài loan.
Chiều 9.1, đúc kết những thảo luận và kiến nghị. Trao đổi và góp ý để hoàn chỉnh ban điều hành UBGMDD-HĐGMVN.
Sau giờ Chầu Thánh Thể tạ ơn, tiệc liên hoan có các nhóm giới trẻ di dân giúp vui các tiết mục ca múa vui nhộn dễ thương.
Hội nghị lần thứ nhất, UBGMDD trình bày giáo huấn của Giáo hội về mục vụ di dân, đề ra những định hướng và thiết lập cơ cấu tổ chức nhân sự. Tất cả đều hướng đến sứ vụ “Chăm sóc mục vụ cho anh chị em di dân là trách vụ gằn liền với sứ mạng truyền giáo và cần được lưu tâm đặc biệt trong bối cảnh ngày nay” (Đề cương Giáo hội tại Việt nam, HĐGMVN, Ban tổ chức năm Thánh 2010 trg.68-69).
Di dân như một dấu chỉ thời đại, một tiếng gọi của Thiên Chúa mời gọi Giáo hội Việt Nam rộng mở tiếp nhận trong đối thoại hiệp thông, trong phục vụ và truyền giáo.
Chú thích:
[1] Hồng Y Stephen Fumio Hamao làm Chủ tịch, và Tổng Giám Mục Agostino Marchetto làm Thư Ký (thời điểm văn kiện được công bố).
[2] Số 62 của Thông Điệp Caritas in Veritate của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho thấy mối quan tâm đặc biệt của Hội thánh về vấn đề Di dân, mở ra một lời mời gọi chung cho mọi chính quyền dân sự, và cộng đồng chung các quốc gia trên thế giới.
[3] AG 2: “Giáo hội tự bản chất là truyền giáo”.
[4] tc. LG 9: “… như Israel theo xác thịt, khi đang lữ hành trong sa mạc, đã được gọi là GH của TC, dân Israel mới tiến bước trong thời đại này, đang tìm về thành thánh tương lai bất diệt, cũng được gọi là GH Chúa Kitô”; và phần chú thích 9*: “Giáo hội là Dân Thiên Chúa trên đường lữ hành qua lịch sử thánh… Dân Chúa nói đây phải hiểu là cả mục tử lẫn con chiên…”
[5] Mt 28,19-20.
[6] Trường hợp nổi bật là nơi các Tông Đồ: Phaolô chẳng hạn, trên đường truyền giáo, đã thiết lập các cộng đoàn nơi mỗi vùng đất ngài đặt chân tới. Sau này CĐ Vatican II, chúng ta thấy rõ ý nghĩa chuyên biệt của việc truyền giáo này được tái xác nhận là “rao giảng Phúc âm và trồng Giáo hội vào các dân tộc hay những nhóm người mà Giáo hội còn chưa bén rễ” (AG 6).
[7] Trường hợp điển hình nơi các tín hữu ban đầu trong cuộc bách hại tại Giêrusalem, đã phải lánh nạn trong những nơi an toàn, những vùng đất nhiều khi trước đó chưa từng nghĩ tới (tc. CVTĐ 8,1; 11,19-21), hoặc tháp tùng những ai đang trên đường tìm kiếm chân lý, sự sống mới như trường hợp của Philip cho hoạn quan quyền thế của Kanđakê (tc. CVTĐ 8,26-40).
[8] Presentation của Đức Hồng Y Hamao Chủ tịch ở phần đầu của Huấn thị.
[9] Paul VI, Mortu proprio Pastoralis Migratorum Cura: AAS LXI (1969) 601-603.
[10] Congregation for Bishops, Instruction De pastorali migratorum cura (Nemo est): AAS LXI (1969) 614-643.
[10] tc. EMCC 3: “Mục đích trước hết của Huấn thị là đáp ứng các nhu cầu thiêng liêng và mục vụ của di dân ngày càng trở thành một dụng cụ của đối thoại và loan báo sứ điệp Kitô”.
[12] 22 khoản Qui định Pháp lý về Mục vụ là những triển khai cụ thể về Giáo luật được nói trong Phần I của Huấn thị: Di Dân, dấu chỉ thời đại và mối quan tâm của Hội thánh.
[13] Mt 16,2-3.
[14] tc. Mt 28,19-23.
[15] GS 4.
[16] Ibid.
[17] tc EMCC 19-23. Từ số 19 đến 23 cho di dân bắt đầu trở thành vấn đề lớn trong xã hội, và Giáo hội đáp ứng bằng những văn kiện hướng dẫn, kèm theo những hình thức mục vụ di dân thích hợp như sắc lệnh Ethnografica studia 1914 nhấn mạnh trách nhiệm của Giáo hội địa phương nâng đỡ di dân và khuyên hàng giáo sĩ địa phương phải được chuẩn bị thích hợp cho công tác này, cả về ngôn ngữ, văn hóa và mục vụ; Sắc lệnh Magni semper 1915 trao cho Bộ Giám mục thẩm quyền cho phép giáo sĩ chăm sóc di dân; Tông huấn Exsul familia 01.8.1952 của Đức Piô XII xác định nhiệm vụ hàng đầu về mục vụ chăm sóc di dân thuộc Giám mục giáo phận địa phương; Công đồng Vaticano II (1962-1965) với các văn kiện Gaudium et Spes, Apostolicam Actuositatem, Christus Dominus cho thấy di dân là một thực tại, đòi Dân Chúa phải quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ, gần gũi như “cận nhân” đối với di dân… đồng thời kêu gọi các đấng bản quyền liên hệ hãy đồng tâm hiệp lực lo lắng và hỗ trợ việc thiêng liêng cho người di dân. Tự sắc Pastoralis Migratorum Cura 1969 của Đức Phaolô VI và Huấn thị De Pastorali Migratorum Cura của Bộ các Giám mục nhấn mạnh tới vai trò các Giáo hội địa phương trong việc tiếp đón Di dân, và sự cộng tác liên Giáo hội để đảm bảo việc chăm sóc mục vụ phi biên giới cho Di dân; Bộ Giáo luật mới đòi các linh mục quản xứ phải quan tâm tới những người sống xa quê hương, tiên liệu việc thành lập các giáo xứ tòng nhân, giáo xứ sui iuris cho Di dân.
Thực ra trước thế kỷ XIX cũng đã có những huấn quyền nói về các việc mục vụ cho người di dân. Nhưng các văn kiện này chỉ có tính đáp ứng từng giai đoạn. Trong số các văn kiện này, đáng kể nhất là văn kiện của Công đồng Latran IV được Tassello trích dẫn trong lời giới thiệu bộ sách thu tập những tuyên bố của huấn quyền viết bằng tiếng Ý: FONDAZIONE MIGRANTES DELLA CONFERENZA EPISCOPALE ITALINANA, Enchiridion delle Chiesa per le Migrazioni, Documenti magisteriali ed ecumenici sulla pastorale della mobilita umana (1887-2000), Bologna 2001, pp. 19-20: “Nhận thấy tại nhiều nơi có khi trong cùng một thành phố, một giáo phận, có sự pha trộn của dân chúng, dầu có chung một niềm tin, nhưng nói các thứ tiếng khác nhau, với những phong tục và lễ tiết khác nhau, vì thế chúng tôi truyền là các đấng bản quyền những nơi này cần định liệu để có thừa tác viên cử hành phụng vụ theo các lễ tiết và ngôn ngữ khác nhau, cử hành các bí tích của Giáo hội và giảng dạy thích ứng các lẽ đạo bằng lời nói và gương sáng” (CONCILIO LATERANENSE IV, cap. IX, J.D. MANSI, Sacrorum conciliorum nova et amplissima collectio, XXII, Venezia 1778, 988).
[18] tc EMCC 31-33 tóm tắt cho biết: năm 1912 Đức Piô X thiết lập Văn Phòng về vấn đề Di dân thuộc Bộ Giám mục; năm 1970 Đức Phaolô VI thiết lập Ủy Ban Giáo Hoàng Mục vụ Chăm sóc Di dân và Du lịch; năm 1988 nâng cấp thành Hội Đồng Giáo Hoàng về Mục vụ Chăm sóc Di dân và Lữ hành. Nhiệm vụ của Văn phòng, Ủy ban, Hội đồng là thúc đẩy, cổ võ và sinh động các sáng kiến mục vụ thích hợp giúp cho những ai, vì lựa chọn hoặc vì nhu cầu, phải xa lìa nơi cư trú bình thường của họ.
[19] EMCC 97.
[20] tc. EMCC 37.
[21] tc. EMCC 34-39.
[22] tc. EMCC 49-60: ở đây, Huấn thị phân ra 4 loại: di dân Công Giáo; Di dân Công Giáo theo nghi lễ Đông Phương; Di dân thuộc các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác; Di dân thuộc các tôn giáo khác nói chung.
[23] EMCC 89.
[24] Ibid.
[25] EMCC 92.
[26] tc. EMCC 94.
[27] EMCC 92.
[28] tc. EMCC 41.




