TIỆC XUÂN CANH DẦN GXVN PARIS

Tết Canh Dần là vào ngày chủ nhật 14.02.2010. Nhưng ăn tết thì có nhiều ngày khác nhau cho mỗi đơn vi và địa điểm của Cộng Ðoàn Giáo Xứ Việt Nam Paris. Thân Hữu Taxi vào tối thứ bảy 06-02-2010. Giới trẻ và sinh viên ăn tết vào chủ nhật 07.02.2017. Các lớp pháp văn vào thứ năm 11/02/2010; Cộng đoàn Cergy vào chiều 14/02/2010; Cộng đoàn Villiers-Le-Bel vào thứ bảy 20/02/2010; Cộng đoàn Ermont, Cộng đoàn Marne-La-Vallée, Cộng đoàn Sarcelles và Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể vào chủ nhật 21/02/2010; Cao niên vào chủ nhật 28/02/2010,….Và TIỆC XUÂN CANH DẦN, chung cho toàn Giáo Xứ, vừa được tổ chức vào trưa chủ nhật 31-02-2010.

Trước tiệc xuân, một thánh lễ chung cho toàn giáo xứ đã được cử hành và đồng tế với đủ hết mọi thành viên trong Ban Giám Ðốc: Ðức Ông Mai Ðức Vinh, cha Ðinh Ðồng Thượng Sách, cha Nguyễn Thanh Ðiển, cha Nguyễn văn Cẩn; các thầy phó tế vĩnh viễn Phạm Bá Nha, Tạ Ðình Chung, Nguyễn Sơn; các nữ tu Thân Kim Liên và Nguyễn Thi Kim Thoa. Dĩ nhiên trong cộng đoàn tham dự thánh lễ, chật cả nhà thờ, có Ban Thường Vụ và các thành viên của Hội Ðồng Mục Vụ.

Đặc biệt năm nay, có Đức Ông Xavier RAMBAUD, đặc trách các cộng đoàn ngoại kiều và đặc trách các linh mục sinh viên ngoại quốc tại Tổng Giáo Phận Paris, đến chủ tế và chia sẻ Lời Chúa. Nét độc đáo nhất mà bài chia sẻ Lời Chúa của Đức Ông đã làm tôi cảm động là sự hiểu biết sâu rộng của ngài về tình hình Giáo Hội Việt Nam. Đặc biệt ngài nhắc đến NAM THANH 2010 với ba chương trình: Giáo hội hiệp thông, tham gia và vì loài người.

Sau thánh lễ, tiệc xuân đã được khai diễn trong phòng khánh tiết. Trên dưới 40 bàn tiệc đã được dọn sẵn. Thực khách đa số là Việt nam. Nhưng thân hữu ngoại quốc, đặc biệt là người Pháp cũng hiện diện một số.

Tôi tò mò đi một vòng phòng tiệc, tay cầm máy ảnh chụp hình, hỏi thăm và nghe xem các bàn nói chuyện gì với nhau. Hai chị hoạt náo viên của Ban Du Ca đang nói trên máy vi âm, đố tứ quý là gì ? Tại một bàn nọ gần giữa phòng, tôi thấy họ trao đổi rất hào hứng ? Một cậu thanh niên trạc 20, « Dạ, cháu nghĩ tứ quí là bốn quý của một năm. Quý một gồm tháng 1, 2 và 3. Quý hai gổm ba tháng 4, 5 và 6. Quí ba gồm ba tháng 7, 8 và 9. Quí bốn gồm ba tháng 10, 11 và 12 ». Một bác đứng tuổi, trạc 50 tiếp: « Cậu nói cũng đúng. Nhưng tôi xin góp thêm một ý. Mỗi năm có bốn mùa. Mỗi mùa có ba tháng. Theo thứ tự, người ta gọi ba tháng này là: mạnh, trọng, quý. Tứ quý là bốn tháng cuối của bốn mùa. Tháng ba là Quý xuân. Tháng sáu là Quý hạ. Tháng chín là Quý thu. Tháng mười hai là Quý đông ». Người ngồi cạnh bác đứng tuổi thêm: « Theo tôi, Tứ quý là có ý nói về Tranh Tứ quý thuộc loại tứ bình, vẽ cảnh tứ thời. Mùa xuân vẽ hoa mai, hoa lan, hoa đào. Mùa hạ vẽ hoa sen, hoa hồng, hoa lựu. Mùa thu vẽ hoa cúc, hoa phù dung. Mùa đông vẽ cây trúc, cây thông (tùng). Mỗi loài hoa, loài cây lại tương ứng với một loài chim. Vẽ hoa ấy phải đi với chim ấy mới là đúng quy tắc, đúng luật. Như vẽ hoa mai phải vẽ với chim khổng tước (mai/điểu), hoa hồng với chim công (hồng/công), hoa cúc với gà (kê/cúc), cây thông với chim hạc (tùng/hạc) »,...

Tôi có cảm giác như hôm nay là tiệc xuân, mọi người nói chuyện về xuân. Hai cô hoạt náo viên, gợi ra nhiều ý về xuân. Từ những thú chơi xuân, những cảnh xuân,… đến những phong tục ngày xuân, …ca xuân, thơ xuân,….

Thực ra trong nhiều bàn câu chuyện xoay quanh cuộc sống hằng ngày. Từ ăn mặc, công việc làm ăn, đến gia đình, con cái. Nhiều người lại rủ nhau đi du lịch mùa hè, đi về Việt Nam,…

Riêng tôi, ngồi cùng bàn với hai Đức Ông: Đức Ông Mai Đức Vinh và Đức Ông Xavier Rambaud, tôi được đức ông Rambaud kể cho nghe rằng ngài phụ trách khoảng hơn 40 cộng đoàn ngoại kiều ở Tổng Giáo Phận Paris. Ngài nhận trách nhiệm này từ 18 tháng nay. Đây là lần thứ ba ngài đến thăm Giáo Xứ Việt Nam Paris. Ngài thấy GXVN có bổn đạo sốt sắng, đi lễ đông chật nhà thờ. Tôi tò mò hỏi ngài « Theo Đức Ông, thì cộng đoàn GXVN phải làm gì để trường tồn và phát triển » ? Ngài trả lời tôi: « Ba việc. Thứ nhất các ông phải là một gíáo xứ việt nam, giữ lấy đặc tính cá biệt của mình. Thứ hai các ông phải là một giáo xứ của tổng địa phận Paris, tham gia vào đời sống của tổng giáo phận. Thứ ba, các ông không được quên gốc việt nam của mình, hiệp thông với Giáo Hội Việt Nam ». Tôi thưa lại với Đức Ông: « Vào dịp xuân 1984, ngồi dự tiệc cùng bàn với đức cha Frika, con cũng đã đặt một câu hỏi như con vừa đặt với Đức Ông. Đức cha Frika đã có một trả lời không xa với câu trả lời của Đức Ông ».

Đến một bàn tiệc khác, có mấy người pháp. Một ông hỏi tôi « Ông có thể cho biết những cô cậu hầu bàn đông khoảng bao nhiêu » ? Tôi trả lời, mặc đồng phục thì khoảng 30-40. Không mặc đồng phục, thì cũng khoảng bấy nhiêu. Nhưng không chỉ có thanh niên. Bên cạnh họ còn có Ban Thường Vụ của Hội Đồng Mục Vụ, với khoảng 10 người, một số hội đoàn rất tích cực, như Nhóm Thân Hữu Taxi, Nhóm Xây Dựng,… ». Ông ta bảo tôi: « Giáo xứ của các ông thật tuyệt vời. Thấy người trẻ cộng tác tích cực và đông như vậy, chúng tôi thành thật chúc mừng các ông. Ở giáo xứ Pháp của tôi không được như vậy ».

Tôi thuận đà thêm luôn: « Ông có biết rằng tất cả các bàn ghế mà chúng ta đang xử dụng hôm nay, mới đây đã được sửa lại hết. Làm chắc thêm, làm đẹp lại. Ông có biết ai làm không ? Do một số giáo dân thuộc nhóm mộc của Ban Xây Dựng đến tình nguyện làm từ mấy tháng nay ».

Ông tây nhìn tôi với hai cặp mắt mở to và nói: « Chức mừng giáo xứ các ông. Xin chúc mừng Năm Mới ông ». Tôi bắt tay và đáp lễ: « Xin cám ơn ông. Trong ngày cuối cùng của tháng giêng, còn được phép chúc Năm Mới, tôi xin gởi ông những lời chúc tốt đẹp nhất cho năm mới 2010 này. Chúc ông an khang, thành đạt ».

Paris, chủ nhật 31/01/2010