Trong số những người quen biết và cùng làm việc với Ơi Tài, ngoài những anh em trong Dòng, tôi là người có duyên nợ gắn bó và gần gũi với Ơi nhiều hơn cả. Gần gũi trong cả hai nghĩa, cùng sống gần nhau và hiểu nhau. Ngày 27 tháng 5 năm 2005 Ơi Tài từ giả cỏi đời ra đi. Tiếng hát khóc kể lể uất nghẹn niềm thương tiếc của cộng đồng công giáo Jrai vùng Pleiku hòa cùng tiếng chiêng bi hùng trầm bổng như vẽ lên không gian hình bóng người cha mến yêu. Những kỷ niệm rì rầm trong lời khóc hát đan xen vào nhau như tạo thành một đoạn phim dài xuyên suốt 36 năm Ơi đã đồng hành với họ trong cuộc sống đời thường đầy khó khăn và trên đường tìm về với Thiên Chúa. Ngày ấy cộng đồng Công giáo Jrai trên Tây nguyên đã mất đi một người cha, một người ông, một Linh mục đã dành trọn đời mình làm chứng cho Tin mừng Cứu độ: Linh mục An-Tôn Vương Đình Tài.
Tôi viết những dòng này không phải để bốc thơm, ca ngợi hay thêu dệt một huyền thoại về Ơi Tài, nhưng như những lời tâm sự của một người con với người quá cố, người tôi luôn quý mến thương yêu và như một nén nhang tưởng nhớ nhân lễ giỗ lần thứ năm một con người nhẫn nại, một Linh mục đơn sơ, nhân hậu đã sống trọn cuộc đời bằng tình yêu thương và phó thác.
Tản mạn những mẩu chuyện nhỏ chung quanh cuộc sống của Ơi Tài với người Jrai.
Trong những ngày đầu tiên đến Tây Nguyên khi « lần mò » làm quen với người Jrai ở những làng lân cận, họ đã gọi vị Linh mục trẻ Dòng Chúa cứu thế 38 tuổi đời là Ơi, một danh xưng quý trọng và thân thương trong ngôn ngữ Jrai. Ơi vừa có nghĩa là ông bà (Ơi yă) vừa có nghĩa là « ngài » ( Ơi Pơtao, Ơi Tu). Từ ngày ấy danh xưng Ơi đã gắn liền với cuộc đời của vị Linh mục và theo ngài cho đến cuối đời. Danh xưng này với vị Linh mục trẻ như một dấu vết thề nguyền, như chiếc nhẫn đính hôn trong việc tự nguyện dấn thân loan báo Tin mừng cứu độ cho cộng đồng người Jrai. Với những nguời con của núi rừng, danh gọi Ơi như nói lên sự chấp nhận một người « khách » trở thành người nhà, người lạ là anh em, người ngoài tộc họ là bác cháu. Ơi Tài đã trung thành với hôn thê của mình cho đến hơi thở cuối cùng bằng tình yêu thương dành cho họ. Người Kinh quen gọi là Bác Tài.
Câu chuyện « giấy Liên xô »
Trong những năm 1985, đời sống kinh tế dân Việt nam rất khó khăn trong chế độ bao cấp. Buổi sáng để uống được một ly cà phê người ta phải xếp hàng, để có vải may áo quần, mua gạo, dầu thắp cũng phải xếp hàng. Ngày ấy Ơi Tài sống tại làng Plei Chuet trong căn nhà nhỏ tối đen thiếu ánh sáng lợp bằng tôn loang lổ nhiều chỗ lủng. Một hôm nọ Ơi gọi anh Yuan, một thanh niên Jrai đến nhờ ra phố mua hai cuộn giấy dầu dùng lợp mái nhà, người ta thường gọi là giấy Liên xô. Khoảng vài giờ sau, tôi đang nấu cơm trong bếp bổng nghe Ơi nói rất to tiếng. Tôi tò mò lên xem, trước mắt tôi là anh Yuan tội nghiệp đang cúi đầu đứng im bất động, bên cạnh là một chồng giấy báo Liên xô. Đứng bên góc nhà, Ơi lắc đầu thất vọng nói nhỏ nhẹ với Yuan: « Lần sau nếu con không hiểu điều gì phải hỏi rõ nhé ». Sau khi anh Yuan ra về Ơi Tài nói với tôi: « Con thấy đấy, sống với người Jrai không phải dễ, nhiều khi tức đến chết được nhưng phải cố gắng. Con xem, Ơi nhờ mua giấy dầu lợp lại mái nhà, anh ta đi mua báo về cho Ơi đọc ».
Câu chuyện giấy dầu sau đó không còn ai nhớ nữa tuy rằng nó đã ngốn mất một số tiền nhỏ nhưng với Ơi Tài vào lúc đó có giá trị rất lớn. Trong những ngày tháng cuối đời của Ơi, anh Yuan hằng ngày đến thăm và bóp tay chân cho Ơi đỡ mỏi, hay đúng hơn là chia xẻ cơn đau của Ơi. Anh cũng là thợ cắt tóc trung thành của Ơi trong nhiều năm. Ngoài câu chuyện với anh Yuan, còn rất nhiều chuyện Ơi phải « cố gắng » sống hòa mình cùng anh em Jrai, để hướng dẫn dạy dỗ họ tìm về với Thiên Chúa. Những « cố gắng » của Ơi Tài nếu không được tác động bằng tình yêu thương chân thành chứa chan vô vị lợi thì khó có thể bình tâm như thế với một cộng đoàn, một tộc người khác ngôn ngữ, khác văn hóa và lối sống. Vựợt qua được sự « cố gắng » trong suốt thời gian dài gần 40 năm ấy chắc Ơi đã phải trả giá bằng nhiều đêm không ngủ, nhiều giây phút yếu đuối chạnh lòng trong cô đơn trống vắng. Ơi đã tìm được ở đâu nguồn nghị lực và sự can đảm để có thể « cố gắng » như thế ? Một điều tôi biết rỏ là Ơi rất sùng kính Đức Mẹ, trong túi lúc nào cũng có xâu chuỗi nhỏ màu đen và tối nào tôi cũng thấy ngài sốt sắng lần chuỗi. Tình yêu thương của Ơi đối với anh em Jrai phải chăng là phương tiện nhanh nhất và hữu hiệu nhất, là bài giảng hùng hồn nhất để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa với con người ?
Tình yêu ấy đã được đáp trả: Ơi thanh thản ra đi về với Chúa trong sự nhớ thương của hơn 15 ngàn giáo dân Jrai và nhiều ngàn dự tòng. Vào những tháng ngày cuối đời, ban đêm nhiều anh em Jrai « lén » mò đến nơi Ơi Tài ở. Lén vì có « lệnh » cấm không được làm phiền Ơi. Nhưng lệnh ấy đâu biết rằng với người Jrai, khi người họ yêu mến bị đau bệnh nặng, theo phong tục là đến thăm và ngủ với người ấy. Cấm không được đến là một cực hình, là một nỗi đau với họ. Tôi nghe những người đã lén đến ngủ và sáng sớm lén trốn về để không ai thấy kể lại rằng khi được họ tới thăm khuôn mặt Ơi lộ rõ nét vui mừng hớn hở. Tuy Ơi không nói ra bằng lời nhưng họ đã thấy và nghe được niềm hạnh phúc của Ơi khi gần họ. Sự gắn bó và yêu thương người Jrai lớn đến nổi khi được đưa về Tòa Giám mục Kontum nghĩ ngơi để trị bệnh, nhiều lần Ơi đã lén trốn khỏi khuôn viên TGM trên đôi chân đất không dép giày, nhưng vì lý trí đã rối loạn lu mờ nên « người tù trốn trại tìm về với người yêu» không lần nào thành công.
Chiếc xe Honda mới.
Trong thời bao cấp ai có được chiếc xe Honda để đi là người khá giả. Không biết ai đó đã tặng Ơi một chiếc xe Honda nữ 50 phân khối để đi các làng. Hôm ấy là ngày Chúa Nhật, Ơi Tài hẹn với cộng đoàn làng Plei Jut sẽ đến dâng thánh lễ trong làng. Ơi cũng hẹn với tôi sẽ gặp nhau tại đó. Làng Plei Jut cách nơi Ơi ở khoảng 15km, để vào làng chỉ có hai con đường đất bazan, một băng qua đồi thông dài gần 800m, con đường kia ngắn hơn nhưng phải leo dốc khá cao. Vì đang là mùa mưa nên đường nào cũng trơn như bôi mỡ. Đã quá hẹn gần 30 phút vẫn không thấy Ơi đến, cộng đoàn vài chục người kẻ ngồi người đứng dưới tàn cây trong vườn một giáo dân, vì không có nhà nguyện nên thánh lễ sẽ cử hành ngoài trời. Một lúc sau chúng tôi thấy Ơi đến. Ai cũng trợn mắt kinh ngạc, nhiều người không kìm được phải phì cười vì thấy Ơi như mới đi làm ruộng về, mặt mũi áo quần bê bết bùn. Ơi Tài mệt mỏi lắc đầu nói đùa: « Các ông viết đơn xin nhà nước làm đường nhựa để Ơi tới dâng lễ đi. Đường đất trơn trợt nguy hiểm quá. May là chưa què chân ». Anh trưởng cộng đoàn đem đến một trái bầu khô đựng nước giúp Ơi « làm vệ sinh » ngay tại chỗ. Chỉ lau sơ qua mặt mũi và hai tay, Ơi choàng áo lễ che khuất bộ quần áo loang lổ bùn và bắt đầu dâng thánh lễ.
Hôm ấy những vết bùn đất như hào quang tô điểm thêm vào lời giảng và lời cầu nguyện của Ơi cùng với cộng đoàn làng Plei Jut, và có thể trong Thánh lễ hôm ấy những vết bùn đất ấy đã biến thành những ca khúc chúc tụng Thiên chúa dễ hiểu, dễ thấy và dễ cảm nhận với dân làng hơn là những từ ngữ văn chương trừu tượng cao xa, để từ đó cộng đoàn càng ngày càng phát triển đông thêm. Những vết bùn đất đáng yêu và xinh đẹp ! Có thể đẹp hơn chiếc áo lễ bằng vải đắc tiền và thêu dệt công phu phủ choàng che lấp chúng. Tinh thần và lòng say mê rao giảng lời Chúa của Ơi đã không ít lần đem đến cho ngài nhiều rủi ro và nguy hiểm nhưng không khi nào Ơi chùn bước, lái xe không vững nhưng góc làng nào dù hẻo lánh xa xôi ngài cũng tìm tới khi được mời, dù chỉ vài ba người muốn tìm hiểu đạo.
Với Đức cha Alexis Phạm văn Lộc.
Dòng Chúa cứu thế được Đức cha Paul Seitz trao Bài sai tại làng Plei Kly thuộc huyện Phú Nhơn ngày nay. Theo tinh thần Bài sai, nhóm các tu sĩ Dòng Chúa cứu thế phụ trách vùng người Jrai cư ngụ. Cộng đoàn các tu sĩ DCCT phân chia nhau địa bàn làm việc: Ơi Tài ở vùng Jrai chung quanh Pleiku, Cha Trần sĩ Tín và Thầy Quân ở vùng Pleikly, Cha Nguyễn văn Phán ở Ayunpa.
Sau biến cố chính trị 1975, Đức cha Paul Seitz bị trục xuất về Pháp cùng với các Cha của Hội Thừa sai Paris. Tòa thánh Vatican tấn phong Linh mục Alexis Phạm văn Lộc làm Giám mục cai quản giáo phận Kontum. Trong thời gian này Thần khí Thiên Chúa đã làm nên những sự việc kỳ diệu lạ lùng: người Jrai tìm hiểu đạo Công giáo và theo đạo càng ngày càng đông. Sự kiện này đã làm cho vị Giám mục Việt nam đầu tiên trên Tây nguyên « nghi ngờ » những gì cộng đoàn tu sĩ Dòng Chúa cứu thế đã dạy và đã làm với tân tòng Jrai. Sự lo lắng của ĐGM không phải là không có duyên cớ.
Ngược dòng lịch sử truyền giáo của giáo phận, từ năm 1840 các Linh mục Pháp cùng với Thầy Sáu Do đã đặt chân lên Tây Nguyên để rao giảng lời Chúa. Các ngài đã đến vùng đất người Bahnar cư ngụ nay là Kontum. Sau nhiều gian lao khổ cực Tin mừng được cộng đồng người Bahnar đón nhận, tuy thế thất bại của các ngài là không thể đến được với người Jrai ở phía Nam, một dân tộc cứng đầu, hiếu chiến và đông đảo, nay bổng dưng « ùa theo đạo ». Hơn nữa các Linh mục DCCT đã làm những việc « lạ lùng » với truyền thống giáo phận: các ngài đã cử hành Bí tích Thanh tẩy trong dòng suối, dìm tân tòng vào dòng nước thiên nhiên. Có thể với « truyền thống » sự kiện này thật sự chướng tai gai mắt nhưng với văn hóa người Jrai, dòng nước là biểu tượng của sự thanh tẩy, gột rửa, đổi mới. Với dòng nước họ sẽ trở thành mạnh khoẻ hơn sau khi được tẩy sạch những mầm mống của sự bệnh hay sự ô uế. Nay theo đức tin và giáo lý Công giáo, qua Bí tích Thanh tẩy trong nước họ sẽ được tái sinh trong Thần khí Thiên Chúa. Thật dễ cảm nhận.
Thời gian trôi dần cùng với sự lớn nhanh đông đúc của cộng đoàn Công giáo Jrai thúc đẩy Ơi Tài mơ ước được ĐGM đến thăm cộng đoàn hay nói đúng hơn là đến « nhận con ». Sự trông chờ quá lâu biến dần thành thất vọng. Các tu sĩ DCCT tiếp tục sứ vụ rao giảng tin mừng bằng phương cách của mình. Các ngài hòa nhập với cuộc sống đời thường của người Jrai, trân trọng những phong tục truyền thống của họ và nói với họ về Chúa. Các ngài sống với tâm hồn đơn sơ, nhỏ bé không cầu kỳ kiểu cách hay nghi thức rườm rà.
Một biến cố bất ngờ ngoài dự trù của Ơi Tài, ĐGM Alexis đồng ý đến thăm cộng đoàn Jrai và ban Bí tích Thêm sức. Nhận được tin này Ơi Tài như sống trên mây, niềm vui như hiện rõ trên khuôn mặt và ánh mắt. Những tổ chức đón tiếp Đức cha Ơi giao cho các trưởng cộng đoàn tự lo, riêng Ơi cứ loay hoay đi đi lại lại từ nơi này sang nơi khác tâm trí nôn nao lo lắng lẫn vui mừng. Ngày chờ mong của Ơi và của mọi người đã đến, ĐGM Alexis tới trong sự hân hoan mừng vui của cộng đoàn Jrai. Đây là lần đầu tiên ngài chính thức đến thăm họ. Tôi còn nhớ ĐGM đã hỏi đùa một vài người Jrai: « Biết đọc kinh Lạy cha không ? Biết đọc kinh Kính mừng không ? ». Tuy là câu nói bông đùa nhưng phảng phất đâu đó sự nghi ngờ của ĐC với phương pháp giảng dạy giáo lý của các tu sĩ DCCT vần còn in đậm nét trong tâm trí ngài khi thấy giáo dân Jrai cầu nguyện tự phát bằng lời, mắt nhắm hai tay dơ ra trước như cầu xin và nhìn nhận mình tội lỗi, thấp hèn, yếu đuối.
Khi ĐGM và Ơi Tài bước lên bàn thờ, sau đấy tôi thấy Ơi loay hoay tìm kiếm cái gì đó khắp nơi quanh bàn thờ. Vì đứng gần nên tôi thấy mồ hôi của Ơi nhỏ giọt, không biết vì nóng hay vì lo lắng nhưng Ơi thì cứ lục tìm. Tôi đến hỏi nhỏ: « Ơi tìm gì vậy ? » « Cuốn sách dâng lễ ». Tôi nói: « con thấy ở trong tủ phòng áo ». Tôi chạy lấy đem đến cho Ơi. Thế đấy, từ lâu nay Ơi chỉ dâng lễ bằng tiếng Jrai, các lời đọc được đánh máy trên một xấp giấy mỏng nên ít dùng đến cuốn sách ấy. Ơi quên rằng Đức giám mục chỉ biết đọc tiếng Bahnar và tiếng Kinh. Hú hồn !
Những năm tháng cuối đời.
Sau khi Việt nam mở cửa với thế giới, nhiều hội đoàn từ thiện phi chính phủ tìm đến Tây nguyên để chia xẻ sự thiếu thốn nghèo đói của người thiểu số. Những ngày ấy cuộc sống đơn sơ bình dị của Ơi bị xáo trộn bởi những lần viếng thăm của các hội đoàn và nhất là việc theo dõi sổ sách các dự án. Được có phương tiện giúp người nghèo Ơi rất vui nhưng phải dành rất nhiều thời gian và công sức. Nhưng một sự kiện đã làm thay đổi hoàn toàn một con người, thay đổi Ơi Tài.
Hôm ấy các em bé đến nhà thờ học giáo lý, các em ở độ tuổi 10-12. Đang đùa chơi trong sân bỗng các em hô hoán la to: « xem kìa, lạ quá. Đẹp quá ». Một số em chạy vào gọi Ơi ra xem. Ơi nhìn theo tay bọn trẻ chỉ lên mặt trời nhưng chẳng thấy gì lạ cả. Ơi hỏi chúng. « Các cháu thấy gì nói cho Ơi nghe coi ». Bọn trẻ tranh nhau nói: « Mặt trời có màu đẹp lắm ». « Có chữ gì đó ở giữa cháu không biết. » « mặt trời quay tròn nhiều màu đẹp lắm ». Ơi hỏi: « chữ gì nói Ơi nghe xem ». « Chữ H, chữ S còn chữ gì đó cháu không biết, nó giống cái lưởi câu. » Em bé ngồi vẻ xuống đất cho Ơi xem: chữ J. Xem xong Ơi Tài bần thần xúc động khi nối kết ba mẫu tự lại với nhau: JHS = Jésus. Ơi Tài nói với bọn trẻ: « Phép lạ Chúa cho các con thấy đấy. Các con hãy cầu nguyện đi ». Bọn trẻ chạy vào nhà thờ cùng cầu nguyện.
Một tuần sau, sự kiện trên lại tái diễn và vị Linh mục vẫn không thấy gì cả, chỉ nghe bọn trẻ tranh nhau nói về sự lạ. Lần thứ ba, ngày 27-8-1998 Ơi tâm sự rằng đã thấy những gì bọn trẻ nói. Món quà quá lớn, phần thưởng quá vĩ đại đã biến Ơi Tài thành ít nói hơn, không quan tâm đến những dự án từ thiện và chẳng bao lâu sau Ơi Tài đề nghị ngưng bỏ tất cả. Hằng ngày Ơi im lặng nhiều hơn, trong tay luôn cầm tràng hạt. Nhóm anh em giáo phu đến học mỗi thứ Bảy hàng tuần phát hiện ra Ơi rất lạ, khác xưa rất nhiều. Những lần dâng thánh lễ Ơi cũng khác xưa, khuôn mặt đắm chìm vào một thế giới khác. Thời gian im lặng trong ngày càng ngày càng dài thêm để rồi cuối cùng Ơi như sống ở cỏi trên, ánh mắt dõi theo những hình ảnh vô hình. Tình trạng như thế kéo dài cho đến ngày Ơi ra đi vĩnh viễn. Ở đây có một điểm tương đồng khó hiểu: ngày Ơi qua đời: 27 và ngày được thấy điềm lạ cũng là ngày 27.
Ơi đã ra đi nhưng hình ảnh Ơi vẫn luôn hiện diện trong cộng đoàn Jrai. Dĩ nhiên Ơi Tài là « người đời» chứ không phải là « người trời » nên không thể không có những thiếu sót của con người. Ơi đã trung thành với sứ vụ Linh mục và đã hy sinh cả cuộc đời để nói về Chúa và đem Tin mừng cứu độ đến cho người Jrai. Ơi đã chung thủy với cuộc tình duyên Jrai cho đến hơi thở cuối cùng. Những gì Ơi Tài để lại không phải là những ý tưởng cao vợi, những vết tích hùng tráng diễm lệ nhưng là tình yêu thương chân thành xuất phát từ con tim và cũng được cất giữ mãi mãi trong tim của người Jrai.
Công việc mục vụ.
Sự dấn thân tận hiến cho công cuộc truyền giáo đã chiếm trọn tâm trí và cuộc sống đời thường của Ơi Tài. Quanh năm suốt tháng con người ấy chỉ quan hệ với một cộng đồng tộc người chậm tiến, người ấy bắt mình phải quên nhiều thứ, cả vật chất lẫn kiến thức để có thể hiểu người Jrai đang nghĩ gì về những điều mình giảng dạy. Những giáo phu đến mỗi ngày thứ Bảy để nghe Ơi giảng và trao đổi với nhau về bài kinh thánh ngày Chúa nhật hôm sau, từ đó họ về làng nhớ được bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Nhiều khi nói thêm nói bớt nhưng có lẽ Chúa Thánh Thần đã đưa những lời đó vào tâm hồn người nghe bằng một cách khác. Chỉ có Chúa mới biết ! Ơi có lần nói với tôi: « Thật ra Ơi chẳng làm được gì cả trong việc truyền giáo hay trong sự kiện người Jrai xin theo đạo càng ngày càng đông này đâu. Tất cả đều do Chúa Thánh thần làm, Ơi chỉ là phương tiện ngài dùng để nói về Lời Chúa còn việc đem họ đến với Tin Mừng, đến với Chúa Ơi chẳng có công lao gì đâu »
Một anh giáo phu theo lệnh Ơi đi « tuần tra » những sinh hoạt phụng vụ tại các làng về kể lại rằng tại làng nọ, anh giáo phu mới gia nhập đã thoải mái đọc lời truyền phép trước khi cho cộng đòan chịu Mình thánh Chúa, lời đọc và nghi thức không đầu không đuôi nhưng tâm hồn thì thật sự chân thành sùng kính. Cuối giờ phụng vụ anh ấy không quên ban phép lành cho cộng đoàn. Sự kiện này sau đó không tái diễn nữa nhưng tôi thầm nghĩ với bà con trong làng ấy thì có lẽ họ chỉ « thấy » Chúa và nghe lời Chúa, còn anh giáo phu kia đứng đó nhưng có lẽ họ « không thấy » nên chẳng ảnh hưởng gì đến họ với Chúa.
Từ năm 1961 đến 1969, hai năm sau ngày chịu chức Linh mục, Ơi Tài đã nhào ngay vào vùng truyền giáo cho người K’Ho ở Lâm đồng. Sau đấy với chiếc ba-lô trên vai, theo sự động viên và khuyến khích của các cha truyền giáo người Canada, vị linh mục trẻ đã lên đường tự tìm cho mình một cánh đồng để chăm sóc và vun xới. Khi đến Pleiku, Đức Cha Paul Seitz đã mời ngài ở lại với giáo phận. Tôi còn nhớ một đêm bên bờ biển Quy Hòa lộng gió, khi các em đã chui vào lều để ngủ sau một ngày vui đùa khá mệt, Ơi và tôi nằm sải chân trên nền các nói chuyện. Tôi mạnh miệng hỏi: « Ơi nè, tại sao Ơi chọn một cộng đồng tộc người xa lạ, nghèo khổ sống tít tận trên Tây nguyên để truyền giáo, ở Saigon không sướng hơn sao » Ơi bình thản trả lời: « Cháu biết không, khi Ơi còn trẻ trong người có máu phiêu lưu và mạo hiểm. Đầu tiên Ơi có biết gì về họ đâu, máu phiêu lưu đã đưa Ơi đến với họ, sau đấy thì yêu thương họ thật sự ». Thế đấy, chương trình của Thiên Chúa chỉ có Thiên Chúa mới hiểu. Sau khi đã « yêu » người Jrai, trong tâm trí vị Linh mục truyền giáo không còn chỗ cho những suy tính khác. Sự dấn thân và đồng cảm với người Jrai nhiều khi là cớ để Ơi bị chỉ trích chê bai. Khi được mời giảng hay nói về sứ vụ truyền giáo, nhiều lần Ơi như bay bổng trên mây và hình như đang nói với mình chứ không phải cho người khác. Những ấp ủ, những hoài bảo chất chứa chen chúc trong tâm hồn như được dịp thoát ra bằng một loạt những ý tưởng, những chương trình. Nhưng Ơi không thể làm được, và bị nhiều người nói « Ối, ông Tài nói ấy mà. » hay « Ông ấy nói giỏi nhưng chẳng làm được gì cả ». Những câu nói ấy đâu biết rằng để thực hiện được những mơ ước cho cộng đồng tôc người Jrai của Ơi phải cần đến 100 năm thực hiện. Tất cả chỉ nói lên tình yêu thương bao la của ngài với cộng đồng này.
Lời kết.
Ngày đầu tiên tôi tìm đến Ơi để xin làm quen và sẳn sàng làm « thằng sai vặt » cho Ơi, tôi thấy ngài đang lần chuỗi bên hông nhà nguyện. Xâu chuỗi nhỏ màu đen ấy đã in sâu vào tâm trí tôi. Lần cuối cùng gặp Ơi sau hơn hai mươi năm, ngài nằm trên ghế bố, bốn tháng trước khi ngài từ giả mọi người để về với vĩnh hằng, Ơi cũng nắm trong tay tràng hạt đen ấy. Cỗ tràng hạt đã theo Ơi suốt cuộc đời truyền giáo của ngài, đã cùng với ngài rong ruổi khắp hang cùng ngỏ hẻm, cùng chia xẻ với ngài những mệt mỏi chán chường hay những lúc vui mừng hân hoan. Cùng với ngài reo vui xúc động trong ngày khấn tạm năm 1952, sau đó chia xẻ niềm vui của ngài, của gia đình và cả nhà DCCT trong ngày chịu chức Linh mục năm 1959, và cuối cùng đã cùng đi với ngài sang thế giới bên kia. Với một con người có trái tim gan lì dũng cảm của một chiến sĩ truyền giáo, xem cái gì cũng là phù du tạm bợ, chỉ có Thiên Chúa và ơn cứu độ của ngài là kho tàng phải tìm kiếm tại sao trung thành gắn bó với cổ tràng hạt đen như thế ? Câu trả lời thể hiện trong tâm tình sùng kính Đức mẹ của Ơi. Cái gì thiếu cũng được nhưng không được thiếu Đức mẹ. Lòng tin tưởng và phó thác nơi Đức mẹ đã thúc đẩy vị Linh mục cố gắng làm một đền kính Đức mẹ trong khuôn viên nhà thờ. Thời bao cấp tìm đâu ra một pho tượng đẹp. Ơi đã lấy bức tượng Đức mẹ vô nhiễm trầy trụa sức mẻ vài nơi giao cho mấy em Jrai xây đền cho Đức mẹ. Các em đã dùng tất cả khả năng trời ban để sữa, vẽ, đắp lại khuôn mặt của Mẹ, sau đó làm một mái che bằng tôn trên bốn chân cột dưới tàng cây vú sữa. Đền Đức mẹ đã làm xong và từ ngày ấy tôi thường thấy Ơi ngồi lâu hàng giờ trước bức tượng.
![]() |
Tản mạn những mẩu chuyện nhỏ chung quanh cuộc sống của Ơi Tài với người Jrai.
Trong những ngày đầu tiên đến Tây Nguyên khi « lần mò » làm quen với người Jrai ở những làng lân cận, họ đã gọi vị Linh mục trẻ Dòng Chúa cứu thế 38 tuổi đời là Ơi, một danh xưng quý trọng và thân thương trong ngôn ngữ Jrai. Ơi vừa có nghĩa là ông bà (Ơi yă) vừa có nghĩa là « ngài » ( Ơi Pơtao, Ơi Tu). Từ ngày ấy danh xưng Ơi đã gắn liền với cuộc đời của vị Linh mục và theo ngài cho đến cuối đời. Danh xưng này với vị Linh mục trẻ như một dấu vết thề nguyền, như chiếc nhẫn đính hôn trong việc tự nguyện dấn thân loan báo Tin mừng cứu độ cho cộng đồng người Jrai. Với những nguời con của núi rừng, danh gọi Ơi như nói lên sự chấp nhận một người « khách » trở thành người nhà, người lạ là anh em, người ngoài tộc họ là bác cháu. Ơi Tài đã trung thành với hôn thê của mình cho đến hơi thở cuối cùng bằng tình yêu thương dành cho họ. Người Kinh quen gọi là Bác Tài.
Câu chuyện « giấy Liên xô »
Trong những năm 1985, đời sống kinh tế dân Việt nam rất khó khăn trong chế độ bao cấp. Buổi sáng để uống được một ly cà phê người ta phải xếp hàng, để có vải may áo quần, mua gạo, dầu thắp cũng phải xếp hàng. Ngày ấy Ơi Tài sống tại làng Plei Chuet trong căn nhà nhỏ tối đen thiếu ánh sáng lợp bằng tôn loang lổ nhiều chỗ lủng. Một hôm nọ Ơi gọi anh Yuan, một thanh niên Jrai đến nhờ ra phố mua hai cuộn giấy dầu dùng lợp mái nhà, người ta thường gọi là giấy Liên xô. Khoảng vài giờ sau, tôi đang nấu cơm trong bếp bổng nghe Ơi nói rất to tiếng. Tôi tò mò lên xem, trước mắt tôi là anh Yuan tội nghiệp đang cúi đầu đứng im bất động, bên cạnh là một chồng giấy báo Liên xô. Đứng bên góc nhà, Ơi lắc đầu thất vọng nói nhỏ nhẹ với Yuan: « Lần sau nếu con không hiểu điều gì phải hỏi rõ nhé ». Sau khi anh Yuan ra về Ơi Tài nói với tôi: « Con thấy đấy, sống với người Jrai không phải dễ, nhiều khi tức đến chết được nhưng phải cố gắng. Con xem, Ơi nhờ mua giấy dầu lợp lại mái nhà, anh ta đi mua báo về cho Ơi đọc ».
Câu chuyện giấy dầu sau đó không còn ai nhớ nữa tuy rằng nó đã ngốn mất một số tiền nhỏ nhưng với Ơi Tài vào lúc đó có giá trị rất lớn. Trong những ngày tháng cuối đời của Ơi, anh Yuan hằng ngày đến thăm và bóp tay chân cho Ơi đỡ mỏi, hay đúng hơn là chia xẻ cơn đau của Ơi. Anh cũng là thợ cắt tóc trung thành của Ơi trong nhiều năm. Ngoài câu chuyện với anh Yuan, còn rất nhiều chuyện Ơi phải « cố gắng » sống hòa mình cùng anh em Jrai, để hướng dẫn dạy dỗ họ tìm về với Thiên Chúa. Những « cố gắng » của Ơi Tài nếu không được tác động bằng tình yêu thương chân thành chứa chan vô vị lợi thì khó có thể bình tâm như thế với một cộng đoàn, một tộc người khác ngôn ngữ, khác văn hóa và lối sống. Vựợt qua được sự « cố gắng » trong suốt thời gian dài gần 40 năm ấy chắc Ơi đã phải trả giá bằng nhiều đêm không ngủ, nhiều giây phút yếu đuối chạnh lòng trong cô đơn trống vắng. Ơi đã tìm được ở đâu nguồn nghị lực và sự can đảm để có thể « cố gắng » như thế ? Một điều tôi biết rỏ là Ơi rất sùng kính Đức Mẹ, trong túi lúc nào cũng có xâu chuỗi nhỏ màu đen và tối nào tôi cũng thấy ngài sốt sắng lần chuỗi. Tình yêu thương của Ơi đối với anh em Jrai phải chăng là phương tiện nhanh nhất và hữu hiệu nhất, là bài giảng hùng hồn nhất để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa với con người ?
Tình yêu ấy đã được đáp trả: Ơi thanh thản ra đi về với Chúa trong sự nhớ thương của hơn 15 ngàn giáo dân Jrai và nhiều ngàn dự tòng. Vào những tháng ngày cuối đời, ban đêm nhiều anh em Jrai « lén » mò đến nơi Ơi Tài ở. Lén vì có « lệnh » cấm không được làm phiền Ơi. Nhưng lệnh ấy đâu biết rằng với người Jrai, khi người họ yêu mến bị đau bệnh nặng, theo phong tục là đến thăm và ngủ với người ấy. Cấm không được đến là một cực hình, là một nỗi đau với họ. Tôi nghe những người đã lén đến ngủ và sáng sớm lén trốn về để không ai thấy kể lại rằng khi được họ tới thăm khuôn mặt Ơi lộ rõ nét vui mừng hớn hở. Tuy Ơi không nói ra bằng lời nhưng họ đã thấy và nghe được niềm hạnh phúc của Ơi khi gần họ. Sự gắn bó và yêu thương người Jrai lớn đến nổi khi được đưa về Tòa Giám mục Kontum nghĩ ngơi để trị bệnh, nhiều lần Ơi đã lén trốn khỏi khuôn viên TGM trên đôi chân đất không dép giày, nhưng vì lý trí đã rối loạn lu mờ nên « người tù trốn trại tìm về với người yêu» không lần nào thành công.
Chiếc xe Honda mới.
Trong thời bao cấp ai có được chiếc xe Honda để đi là người khá giả. Không biết ai đó đã tặng Ơi một chiếc xe Honda nữ 50 phân khối để đi các làng. Hôm ấy là ngày Chúa Nhật, Ơi Tài hẹn với cộng đoàn làng Plei Jut sẽ đến dâng thánh lễ trong làng. Ơi cũng hẹn với tôi sẽ gặp nhau tại đó. Làng Plei Jut cách nơi Ơi ở khoảng 15km, để vào làng chỉ có hai con đường đất bazan, một băng qua đồi thông dài gần 800m, con đường kia ngắn hơn nhưng phải leo dốc khá cao. Vì đang là mùa mưa nên đường nào cũng trơn như bôi mỡ. Đã quá hẹn gần 30 phút vẫn không thấy Ơi đến, cộng đoàn vài chục người kẻ ngồi người đứng dưới tàn cây trong vườn một giáo dân, vì không có nhà nguyện nên thánh lễ sẽ cử hành ngoài trời. Một lúc sau chúng tôi thấy Ơi đến. Ai cũng trợn mắt kinh ngạc, nhiều người không kìm được phải phì cười vì thấy Ơi như mới đi làm ruộng về, mặt mũi áo quần bê bết bùn. Ơi Tài mệt mỏi lắc đầu nói đùa: « Các ông viết đơn xin nhà nước làm đường nhựa để Ơi tới dâng lễ đi. Đường đất trơn trợt nguy hiểm quá. May là chưa què chân ». Anh trưởng cộng đoàn đem đến một trái bầu khô đựng nước giúp Ơi « làm vệ sinh » ngay tại chỗ. Chỉ lau sơ qua mặt mũi và hai tay, Ơi choàng áo lễ che khuất bộ quần áo loang lổ bùn và bắt đầu dâng thánh lễ.
Hôm ấy những vết bùn đất như hào quang tô điểm thêm vào lời giảng và lời cầu nguyện của Ơi cùng với cộng đoàn làng Plei Jut, và có thể trong Thánh lễ hôm ấy những vết bùn đất ấy đã biến thành những ca khúc chúc tụng Thiên chúa dễ hiểu, dễ thấy và dễ cảm nhận với dân làng hơn là những từ ngữ văn chương trừu tượng cao xa, để từ đó cộng đoàn càng ngày càng phát triển đông thêm. Những vết bùn đất đáng yêu và xinh đẹp ! Có thể đẹp hơn chiếc áo lễ bằng vải đắc tiền và thêu dệt công phu phủ choàng che lấp chúng. Tinh thần và lòng say mê rao giảng lời Chúa của Ơi đã không ít lần đem đến cho ngài nhiều rủi ro và nguy hiểm nhưng không khi nào Ơi chùn bước, lái xe không vững nhưng góc làng nào dù hẻo lánh xa xôi ngài cũng tìm tới khi được mời, dù chỉ vài ba người muốn tìm hiểu đạo.
Với Đức cha Alexis Phạm văn Lộc.
Dòng Chúa cứu thế được Đức cha Paul Seitz trao Bài sai tại làng Plei Kly thuộc huyện Phú Nhơn ngày nay. Theo tinh thần Bài sai, nhóm các tu sĩ Dòng Chúa cứu thế phụ trách vùng người Jrai cư ngụ. Cộng đoàn các tu sĩ DCCT phân chia nhau địa bàn làm việc: Ơi Tài ở vùng Jrai chung quanh Pleiku, Cha Trần sĩ Tín và Thầy Quân ở vùng Pleikly, Cha Nguyễn văn Phán ở Ayunpa.
Sau biến cố chính trị 1975, Đức cha Paul Seitz bị trục xuất về Pháp cùng với các Cha của Hội Thừa sai Paris. Tòa thánh Vatican tấn phong Linh mục Alexis Phạm văn Lộc làm Giám mục cai quản giáo phận Kontum. Trong thời gian này Thần khí Thiên Chúa đã làm nên những sự việc kỳ diệu lạ lùng: người Jrai tìm hiểu đạo Công giáo và theo đạo càng ngày càng đông. Sự kiện này đã làm cho vị Giám mục Việt nam đầu tiên trên Tây nguyên « nghi ngờ » những gì cộng đoàn tu sĩ Dòng Chúa cứu thế đã dạy và đã làm với tân tòng Jrai. Sự lo lắng của ĐGM không phải là không có duyên cớ.
Ngược dòng lịch sử truyền giáo của giáo phận, từ năm 1840 các Linh mục Pháp cùng với Thầy Sáu Do đã đặt chân lên Tây Nguyên để rao giảng lời Chúa. Các ngài đã đến vùng đất người Bahnar cư ngụ nay là Kontum. Sau nhiều gian lao khổ cực Tin mừng được cộng đồng người Bahnar đón nhận, tuy thế thất bại của các ngài là không thể đến được với người Jrai ở phía Nam, một dân tộc cứng đầu, hiếu chiến và đông đảo, nay bổng dưng « ùa theo đạo ». Hơn nữa các Linh mục DCCT đã làm những việc « lạ lùng » với truyền thống giáo phận: các ngài đã cử hành Bí tích Thanh tẩy trong dòng suối, dìm tân tòng vào dòng nước thiên nhiên. Có thể với « truyền thống » sự kiện này thật sự chướng tai gai mắt nhưng với văn hóa người Jrai, dòng nước là biểu tượng của sự thanh tẩy, gột rửa, đổi mới. Với dòng nước họ sẽ trở thành mạnh khoẻ hơn sau khi được tẩy sạch những mầm mống của sự bệnh hay sự ô uế. Nay theo đức tin và giáo lý Công giáo, qua Bí tích Thanh tẩy trong nước họ sẽ được tái sinh trong Thần khí Thiên Chúa. Thật dễ cảm nhận.
Thời gian trôi dần cùng với sự lớn nhanh đông đúc của cộng đoàn Công giáo Jrai thúc đẩy Ơi Tài mơ ước được ĐGM đến thăm cộng đoàn hay nói đúng hơn là đến « nhận con ». Sự trông chờ quá lâu biến dần thành thất vọng. Các tu sĩ DCCT tiếp tục sứ vụ rao giảng tin mừng bằng phương cách của mình. Các ngài hòa nhập với cuộc sống đời thường của người Jrai, trân trọng những phong tục truyền thống của họ và nói với họ về Chúa. Các ngài sống với tâm hồn đơn sơ, nhỏ bé không cầu kỳ kiểu cách hay nghi thức rườm rà.
Một biến cố bất ngờ ngoài dự trù của Ơi Tài, ĐGM Alexis đồng ý đến thăm cộng đoàn Jrai và ban Bí tích Thêm sức. Nhận được tin này Ơi Tài như sống trên mây, niềm vui như hiện rõ trên khuôn mặt và ánh mắt. Những tổ chức đón tiếp Đức cha Ơi giao cho các trưởng cộng đoàn tự lo, riêng Ơi cứ loay hoay đi đi lại lại từ nơi này sang nơi khác tâm trí nôn nao lo lắng lẫn vui mừng. Ngày chờ mong của Ơi và của mọi người đã đến, ĐGM Alexis tới trong sự hân hoan mừng vui của cộng đoàn Jrai. Đây là lần đầu tiên ngài chính thức đến thăm họ. Tôi còn nhớ ĐGM đã hỏi đùa một vài người Jrai: « Biết đọc kinh Lạy cha không ? Biết đọc kinh Kính mừng không ? ». Tuy là câu nói bông đùa nhưng phảng phất đâu đó sự nghi ngờ của ĐC với phương pháp giảng dạy giáo lý của các tu sĩ DCCT vần còn in đậm nét trong tâm trí ngài khi thấy giáo dân Jrai cầu nguyện tự phát bằng lời, mắt nhắm hai tay dơ ra trước như cầu xin và nhìn nhận mình tội lỗi, thấp hèn, yếu đuối.
Khi ĐGM và Ơi Tài bước lên bàn thờ, sau đấy tôi thấy Ơi loay hoay tìm kiếm cái gì đó khắp nơi quanh bàn thờ. Vì đứng gần nên tôi thấy mồ hôi của Ơi nhỏ giọt, không biết vì nóng hay vì lo lắng nhưng Ơi thì cứ lục tìm. Tôi đến hỏi nhỏ: « Ơi tìm gì vậy ? » « Cuốn sách dâng lễ ». Tôi nói: « con thấy ở trong tủ phòng áo ». Tôi chạy lấy đem đến cho Ơi. Thế đấy, từ lâu nay Ơi chỉ dâng lễ bằng tiếng Jrai, các lời đọc được đánh máy trên một xấp giấy mỏng nên ít dùng đến cuốn sách ấy. Ơi quên rằng Đức giám mục chỉ biết đọc tiếng Bahnar và tiếng Kinh. Hú hồn !
Những năm tháng cuối đời.
Sau khi Việt nam mở cửa với thế giới, nhiều hội đoàn từ thiện phi chính phủ tìm đến Tây nguyên để chia xẻ sự thiếu thốn nghèo đói của người thiểu số. Những ngày ấy cuộc sống đơn sơ bình dị của Ơi bị xáo trộn bởi những lần viếng thăm của các hội đoàn và nhất là việc theo dõi sổ sách các dự án. Được có phương tiện giúp người nghèo Ơi rất vui nhưng phải dành rất nhiều thời gian và công sức. Nhưng một sự kiện đã làm thay đổi hoàn toàn một con người, thay đổi Ơi Tài.
Hôm ấy các em bé đến nhà thờ học giáo lý, các em ở độ tuổi 10-12. Đang đùa chơi trong sân bỗng các em hô hoán la to: « xem kìa, lạ quá. Đẹp quá ». Một số em chạy vào gọi Ơi ra xem. Ơi nhìn theo tay bọn trẻ chỉ lên mặt trời nhưng chẳng thấy gì lạ cả. Ơi hỏi chúng. « Các cháu thấy gì nói cho Ơi nghe coi ». Bọn trẻ tranh nhau nói: « Mặt trời có màu đẹp lắm ». « Có chữ gì đó ở giữa cháu không biết. » « mặt trời quay tròn nhiều màu đẹp lắm ». Ơi hỏi: « chữ gì nói Ơi nghe xem ». « Chữ H, chữ S còn chữ gì đó cháu không biết, nó giống cái lưởi câu. » Em bé ngồi vẻ xuống đất cho Ơi xem: chữ J. Xem xong Ơi Tài bần thần xúc động khi nối kết ba mẫu tự lại với nhau: JHS = Jésus. Ơi Tài nói với bọn trẻ: « Phép lạ Chúa cho các con thấy đấy. Các con hãy cầu nguyện đi ». Bọn trẻ chạy vào nhà thờ cùng cầu nguyện.
Một tuần sau, sự kiện trên lại tái diễn và vị Linh mục vẫn không thấy gì cả, chỉ nghe bọn trẻ tranh nhau nói về sự lạ. Lần thứ ba, ngày 27-8-1998 Ơi tâm sự rằng đã thấy những gì bọn trẻ nói. Món quà quá lớn, phần thưởng quá vĩ đại đã biến Ơi Tài thành ít nói hơn, không quan tâm đến những dự án từ thiện và chẳng bao lâu sau Ơi Tài đề nghị ngưng bỏ tất cả. Hằng ngày Ơi im lặng nhiều hơn, trong tay luôn cầm tràng hạt. Nhóm anh em giáo phu đến học mỗi thứ Bảy hàng tuần phát hiện ra Ơi rất lạ, khác xưa rất nhiều. Những lần dâng thánh lễ Ơi cũng khác xưa, khuôn mặt đắm chìm vào một thế giới khác. Thời gian im lặng trong ngày càng ngày càng dài thêm để rồi cuối cùng Ơi như sống ở cỏi trên, ánh mắt dõi theo những hình ảnh vô hình. Tình trạng như thế kéo dài cho đến ngày Ơi ra đi vĩnh viễn. Ở đây có một điểm tương đồng khó hiểu: ngày Ơi qua đời: 27 và ngày được thấy điềm lạ cũng là ngày 27.
Ơi đã ra đi nhưng hình ảnh Ơi vẫn luôn hiện diện trong cộng đoàn Jrai. Dĩ nhiên Ơi Tài là « người đời» chứ không phải là « người trời » nên không thể không có những thiếu sót của con người. Ơi đã trung thành với sứ vụ Linh mục và đã hy sinh cả cuộc đời để nói về Chúa và đem Tin mừng cứu độ đến cho người Jrai. Ơi đã chung thủy với cuộc tình duyên Jrai cho đến hơi thở cuối cùng. Những gì Ơi Tài để lại không phải là những ý tưởng cao vợi, những vết tích hùng tráng diễm lệ nhưng là tình yêu thương chân thành xuất phát từ con tim và cũng được cất giữ mãi mãi trong tim của người Jrai.
Công việc mục vụ.
Sự dấn thân tận hiến cho công cuộc truyền giáo đã chiếm trọn tâm trí và cuộc sống đời thường của Ơi Tài. Quanh năm suốt tháng con người ấy chỉ quan hệ với một cộng đồng tộc người chậm tiến, người ấy bắt mình phải quên nhiều thứ, cả vật chất lẫn kiến thức để có thể hiểu người Jrai đang nghĩ gì về những điều mình giảng dạy. Những giáo phu đến mỗi ngày thứ Bảy để nghe Ơi giảng và trao đổi với nhau về bài kinh thánh ngày Chúa nhật hôm sau, từ đó họ về làng nhớ được bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Nhiều khi nói thêm nói bớt nhưng có lẽ Chúa Thánh Thần đã đưa những lời đó vào tâm hồn người nghe bằng một cách khác. Chỉ có Chúa mới biết ! Ơi có lần nói với tôi: « Thật ra Ơi chẳng làm được gì cả trong việc truyền giáo hay trong sự kiện người Jrai xin theo đạo càng ngày càng đông này đâu. Tất cả đều do Chúa Thánh thần làm, Ơi chỉ là phương tiện ngài dùng để nói về Lời Chúa còn việc đem họ đến với Tin Mừng, đến với Chúa Ơi chẳng có công lao gì đâu »
Một anh giáo phu theo lệnh Ơi đi « tuần tra » những sinh hoạt phụng vụ tại các làng về kể lại rằng tại làng nọ, anh giáo phu mới gia nhập đã thoải mái đọc lời truyền phép trước khi cho cộng đòan chịu Mình thánh Chúa, lời đọc và nghi thức không đầu không đuôi nhưng tâm hồn thì thật sự chân thành sùng kính. Cuối giờ phụng vụ anh ấy không quên ban phép lành cho cộng đoàn. Sự kiện này sau đó không tái diễn nữa nhưng tôi thầm nghĩ với bà con trong làng ấy thì có lẽ họ chỉ « thấy » Chúa và nghe lời Chúa, còn anh giáo phu kia đứng đó nhưng có lẽ họ « không thấy » nên chẳng ảnh hưởng gì đến họ với Chúa.
Từ năm 1961 đến 1969, hai năm sau ngày chịu chức Linh mục, Ơi Tài đã nhào ngay vào vùng truyền giáo cho người K’Ho ở Lâm đồng. Sau đấy với chiếc ba-lô trên vai, theo sự động viên và khuyến khích của các cha truyền giáo người Canada, vị linh mục trẻ đã lên đường tự tìm cho mình một cánh đồng để chăm sóc và vun xới. Khi đến Pleiku, Đức Cha Paul Seitz đã mời ngài ở lại với giáo phận. Tôi còn nhớ một đêm bên bờ biển Quy Hòa lộng gió, khi các em đã chui vào lều để ngủ sau một ngày vui đùa khá mệt, Ơi và tôi nằm sải chân trên nền các nói chuyện. Tôi mạnh miệng hỏi: « Ơi nè, tại sao Ơi chọn một cộng đồng tộc người xa lạ, nghèo khổ sống tít tận trên Tây nguyên để truyền giáo, ở Saigon không sướng hơn sao » Ơi bình thản trả lời: « Cháu biết không, khi Ơi còn trẻ trong người có máu phiêu lưu và mạo hiểm. Đầu tiên Ơi có biết gì về họ đâu, máu phiêu lưu đã đưa Ơi đến với họ, sau đấy thì yêu thương họ thật sự ». Thế đấy, chương trình của Thiên Chúa chỉ có Thiên Chúa mới hiểu. Sau khi đã « yêu » người Jrai, trong tâm trí vị Linh mục truyền giáo không còn chỗ cho những suy tính khác. Sự dấn thân và đồng cảm với người Jrai nhiều khi là cớ để Ơi bị chỉ trích chê bai. Khi được mời giảng hay nói về sứ vụ truyền giáo, nhiều lần Ơi như bay bổng trên mây và hình như đang nói với mình chứ không phải cho người khác. Những ấp ủ, những hoài bảo chất chứa chen chúc trong tâm hồn như được dịp thoát ra bằng một loạt những ý tưởng, những chương trình. Nhưng Ơi không thể làm được, và bị nhiều người nói « Ối, ông Tài nói ấy mà. » hay « Ông ấy nói giỏi nhưng chẳng làm được gì cả ». Những câu nói ấy đâu biết rằng để thực hiện được những mơ ước cho cộng đồng tôc người Jrai của Ơi phải cần đến 100 năm thực hiện. Tất cả chỉ nói lên tình yêu thương bao la của ngài với cộng đồng này.
Lời kết.
Ngày đầu tiên tôi tìm đến Ơi để xin làm quen và sẳn sàng làm « thằng sai vặt » cho Ơi, tôi thấy ngài đang lần chuỗi bên hông nhà nguyện. Xâu chuỗi nhỏ màu đen ấy đã in sâu vào tâm trí tôi. Lần cuối cùng gặp Ơi sau hơn hai mươi năm, ngài nằm trên ghế bố, bốn tháng trước khi ngài từ giả mọi người để về với vĩnh hằng, Ơi cũng nắm trong tay tràng hạt đen ấy. Cỗ tràng hạt đã theo Ơi suốt cuộc đời truyền giáo của ngài, đã cùng với ngài rong ruổi khắp hang cùng ngỏ hẻm, cùng chia xẻ với ngài những mệt mỏi chán chường hay những lúc vui mừng hân hoan. Cùng với ngài reo vui xúc động trong ngày khấn tạm năm 1952, sau đó chia xẻ niềm vui của ngài, của gia đình và cả nhà DCCT trong ngày chịu chức Linh mục năm 1959, và cuối cùng đã cùng đi với ngài sang thế giới bên kia. Với một con người có trái tim gan lì dũng cảm của một chiến sĩ truyền giáo, xem cái gì cũng là phù du tạm bợ, chỉ có Thiên Chúa và ơn cứu độ của ngài là kho tàng phải tìm kiếm tại sao trung thành gắn bó với cổ tràng hạt đen như thế ? Câu trả lời thể hiện trong tâm tình sùng kính Đức mẹ của Ơi. Cái gì thiếu cũng được nhưng không được thiếu Đức mẹ. Lòng tin tưởng và phó thác nơi Đức mẹ đã thúc đẩy vị Linh mục cố gắng làm một đền kính Đức mẹ trong khuôn viên nhà thờ. Thời bao cấp tìm đâu ra một pho tượng đẹp. Ơi đã lấy bức tượng Đức mẹ vô nhiễm trầy trụa sức mẻ vài nơi giao cho mấy em Jrai xây đền cho Đức mẹ. Các em đã dùng tất cả khả năng trời ban để sữa, vẽ, đắp lại khuôn mặt của Mẹ, sau đó làm một mái che bằng tôn trên bốn chân cột dưới tàng cây vú sữa. Đền Đức mẹ đã làm xong và từ ngày ấy tôi thường thấy Ơi ngồi lâu hàng giờ trước bức tượng.
