Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày Tam Thánh Quê Hương được phúc tử vì đạo (1859 – 2009) Giáo xứ Quần Cống đã xin phép Tòa Thánh mở Năm Toàn Xá từ ngày 13-01-2009 đến ngày 13-01-2010. Trong Năm Thánh ngoài những cử hành đạo đức, những thực hành truyền giáo và bác ái, giáo xứ còn hoàn thành ngôi đền kính Tam Thánh Quê Hương. Đây là một công trình kiến trúc khá thành công, tương đối có giá trị nghệ thuật tôn giáo. Để mọi người nhất là những người con của quê hương Nhất Gia Tam Thánh thêm hiểu biết, thêm lòng yêu mến các vị thánh quê hương, thiết tưởng nên có đôi lời giới thiệu ngôi đền.
Hình ảnh nghệ thuật Đền Tam Thánh Quần Cống
Xin gói gọn vào 4 điểm: lịch sử hình thành; tiến trình xây dựng; giá trị nghệ thuật kiến trúc; và cảm nghĩ của những người góp phần xây dựng ngôi đền.
I. LỊCH SỬ NGÔI ĐỀN
Quần Cống là một xứ đạo lâu đời, đã được đón nhận Tin mừng từ rất sớm, vì Quần Cống thuộc tổng Trà Lũ là nơi, theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, giáo sĩ I nê khu đã vào truyền giáo từ năm 1533.
Quần Cống là một một mảnh đất mầu mỡ, nên tại đây, hạt giống Tin mừng đã nẩy nở đơm bông kết trái đem đến một mùa gặt phong phú. Giáo xứ Quần Cống phát triển nhanh chóng trở thành một giáo xứ lớn. Từ giáo xứ mẹ Quần Cống đã sinh ra nhiều giáo xứ con như Lạc Thành, Cát Phú, Thánh Mẫu, Thánh Thể...
Không chỉ lớn về mặt dân số, giáo xứ còn lớn về mặt xã hội. Có nhiều người học giỏi, đỗ đạt làm quan. Chính vì thế mà nhà vua đã ban tặng danh hiệu Quần Cống. Tuy nhiên những thành đạt về khoa cử không làm xao nhãng đức tin. Gặp thời bắt bớ các vị quan lại sẵn sàng từ bỏ áo mão để nhận triều thiên tử đạo.
Chính vì thế giáo xứ càng trở nên lớn lao về đức tin và lòng sùng mộ. Có lẽ đó là lý do các vị bề trên đã chọn Quần Cống làm nơi ẩn nấp trong thời kỳ khó khăn nhất. Tại Nam định có các vị quan hung hăng bắt đạo như Nguyễn đình Tân, Trịnh quang Khanh. Nhưng giáo dân Quần Cống, đặc biệt các vị quan lại không ngần ngại tuyên xưng đức tin và vì thế sẵn sàng che giấu đồ thờ phượng và các Đức cha, các cha trong nhà mình. Đức cha Sampedre Xuyên đã ẩn nấp trong nhà thánh Án Khảm và khi quan quân vào nhà bà Nhiêu Côn, con gái thánh Án Khảm đã giấu ngài trong một cái chum lớn đặt cạnh bờ ao.
Và khi nhiều người trong làng được phúc tử vì đạo, dân làng càng thêm đức tin, thêm lòng sùng kính các vị tử đạo bản hương.
Ngay từ xưa dân làng đã có lòng sùng kính các vị tử đạo. Từ khi các ngài chưa được tôn phong lên hàng Chân Phúc, dân làng đã bốc mộ và đặt xương các ngài vào nơi trang trọng để tôn kính. Sau khi các ngài được nâng lên hàng Chân Phúc, phong trào tôn kính càng phát triển mạnh mẽ.
Tại giáo xứ quê hương, Tam Thánh Quần Cống đã được vẽ hình, tạc tượng đặt trong nhà thờ cho giáo dân kính viếng, cầu nguyện. Trong nhà thờ có tòa tôn kính Ba Đấng. Ngoài sân nhà thờ có đài thánh Án Khảm. Tại nhà tổ đã có các tòa tôn vinh Ba Đấng. Ngoài ra dân làng còn lo liệu quản lý đình làng là nơi các Đấng đã xưng đạo trước mặt quan quân.
Nhưng ngôi Đền Tam Thánh đầu tiên được xây dựng ở trong miền Nam. Dân làng Quần Cống di cư mang theo cả lòng yêu mến quê hương và lòng tôn sùng các vị Tử đạo Quê hương. Rất nhiều người Quần Cống định cư tại xứ Bùi Phát và xứ Tân Hòa là hai xứ di cư tọa lạc hai bên đường xe lửa ngăn cách bởi cổng số 6. Vì có điều kiện bày tỏ lòng tôn kính Tam Thánh Quê Hương nên hội Đồng Hương Quần Cống Miền Nam đã mua một căn nhà tại xứ Bùi Phát vừa dùng làm nhà tổ làng Quần Cống vừa làm Đền Tam Thánh. Tại đây các linh mục tu sĩ quê hương khi có dịp lui tới có chỗ nghỉ ngơi. Đây cũng là trụ sở qui tụ bà con đồng hương. Và nhất là đây là nơi bày tỏ và cổ võ lòng sùng kính Tam Thánh Quê Hương. Hăng năm bà con đồng hương Quần Cống vẫn tổ chức mừng lễ Tam Thánh Quê Hương, tổ chức rước kiệu Tam Thánh tại các xứ Bùi Phát, Vườn Xoài…
Ngôi Đền Tam Thánh thứ hai, lạ thay, lại xuất hiện tại San Diego, Hoa Kỳ. Cụ Phạm quang Khai, một nhân sĩ quê hương có lòng yêu quê hương tha thiết và có lòng sùng kính các vị Tử Đạo Quê Hương mãnh liệt đã đem lòng sùng kính này phổ biến trên nước Hoa Kỳ. Không những cụ đã thuyết phục được Đức Ông Roger Lechner cho đặt tượng Tam Thánh trong nhà thờ do ngài làm cha xứ, cụ còn biến garage tại nhà riêng thành ngôi Đền Tam Thánh. Nơi đây cụ tổ chức đọc kinh cầu nguyện, Có nhiều linh mục đã đến dâng lễ tại ngôi đền đơn sơ nơi xứ Hoa Kỳ xa xôi này.
Ngôi Đền Tam Thánh thứ ba được xây dựng tại quê hương Quần Cống. Ngôi đền này cũng do cụ Phạm quang Khai chủ xướng. Nhưng vì xây dựng vào thời điểm khó khăn, nên sau đó đã bị Nhà Nước tháo dỡ. Các Thánh Quê Hương cho biết quê nhà còn gặp nhiều khó khăn thử thách.
Ngoài những ngôi đền, tượng Tam Thánh Quê Hương còn được giáo dân đồng hương mang đi khắp nơi như tại nhà thờ Lam Sơn, Vũng Tầu, tại hội Đồng Hương Quần Cống Hải Ngoại, trụ sở đặt tại Santa Ana, Hoa Kỳ…
Ngôi Đền Tam Thánh hiện nay tại Quần Cống là ngôi đền thứ tư dâng kính Tam Thánh Quê Hương. Nhân dịp kỷ niệm 150 năm Tam Thánh Quê Hương được phúc tử vì đạo mọi người vốn đã canh cánh bên lòng việc xây dựng Đền Tam Thánh, thấy các nơi đã có đền, còn chính quê hương lại không có, hay là đã có nhưng bị tháo dỡ, lòng không khỏi áy náy buồn phiền, đã quyết tâm cùng nhau xây dựng ngôi đền. Vì xây sau, lại là năm kỷ niệm quan trọng, nên mọi người đều mong muốn xây dựng một ngôi đền xứng đáng cho các vị thánh quê hương.
II. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG
Ý tưởng xây dựng Đền Tam Thánh đưa ra được tất cả mọi người tán thành. Nhưng có nhiều ý kiến trái ngược về địa điểm xây dựng, về mẫu mã kiến trúc và về phương án tiến hành.
Trước sự tham gia ý kiến rất phong phú này mọi người nhận thấy cần phải có nhiều cuộc họp với nhiều thành phần để đúc kết và tuyển chọn phương án tối ưu. Có các cuộc họp chính thức do cha chính xứ tổ chức với sự tham dự của quý cha đồng hương và ban trùm trưởng giáo xứ. Có các cuộc họp có tính cách gia đình như gia tộc Tam Thánh. Cả ban đại diện làng Quần Cống cũng tham gia ý kiến. Có các cuộc thảo luận bên lề, trong các khu xóm và trong nhóm bạn hữu.
Về địa điểm xây dựng
Gia tộc Tam Thánh muốn xây dựng đền ngay trên đất tổ. Trong khi ban đại diện làng lại muốn xây dựng ngay trên đất đình làng xưa. Mỗi bên đều có lý do chính đáng. Nhưng những lý lẽ chưa đủ sức thuyết phục.
Xây trên đất của gia tộc Tam Thánh có những thuận lợi vì đã có đất sẵn sàng, vì đó là nơi các thánh đã từng sinh sống, vì có con cháu giúp việc bảo trì. Nhưng về đất tổ cũng đã thiếu sự nhất trí. Hiện nay đã có hai nơi xây hai cơ sở khác nhau rồi. Nếu phải chọn một sẽ có mâu thuẫn tranh cãi. Và nếu xây trên đất tổ thì ai sẽ đứng chủ quyền. Đền là của chung nếu chỉ thuộc về một gia đình là không hợp lý.
Xây dựng tại thửa đất của đình làng xưa có những ưu điểm. Vì đó là một di tích đáng quí. Vì đó là nơi chung. Nhưng không phải không có những trở ngại. Vì là đất chung nên còn phải tổ chức những buổi hội làng. Sẽ mất đi tính cách tôn nghiêm cần thiết của một ngôi đền. Vì là đất của chung nên sau này có thể gặp trở ngại khi chính quyền không thuận thảo với xứ đạo.
Sau cùng mọi người đều thống nhất ý kiến xây dựng Đền Tam Thánh ngay trong khuôn viên nhà thờ xứ là hợp lý và thuận lợi nhất. Vì nhà thờ là nơi tôn nghiêm rất thuận lợi cho bầu khí cầu nguyện. Vì nhà thờ là nơi chung sẽ biến đền thành chính thức của cả giáo xứ sẽ ổn định lâu dài. Đền Thánh nằm trong khuôn viên nhà thờ sẽ tiện lợi cho khách hành hương đến kính viếng.
Thoạt tiên mọi người nghĩ đến khu đất ở đầu nhà thờ, đối diện với nhà xứ mới xây. Đây là một khu đất rộng, hoàn toàn thuộc chủ quyền của nhà xứ. Tuy nhiên địa thế thất lợi vì ở quá sâu bên trong, không thuận lợi cho khách hành hương lui tới. Ngoài ra đền phải xây dựng đàng sau công trình phụ của một số hộ sẽ mất vẻ tôn nghiêm. Có thể mở ra phía đường nhỏ của xóm nhưng vì là đường nhỏ nên giao thông không thuận lợi.
Thấy những bất lợi của khu đất đầu nhà thờ, mọi người nghĩ đến khu đất tọa lạc bên cạnh trái nhà thờ, ở ngay lối vào. Nhưng phần lớn khu đất này thuộc về tư nhân. Vì thế cần thương lượng và cần thêm kinh phí mua đất. Tuy tốn kém hơn nhưng đây là một địa điểm đẹp vì ở ngay lối vào nhà thờ, rất thuận lợi cho khách hành hương lui tới đồng thời tạo thêm cảnh quan cho tổng thể khu vực nhà thờ xứ. Việc thương lượng tiến hành dễ dàng vì mọi người đều tha thiết với ngôi đền tôn kính Tam Thánh Quê Hương. Giá cả đều có tính cách tượng trưng. Riêng ông trùm Căn đã đi tiên phong dâng hiến phần ao thuộc quyền sở hữu của gia đình ông để góp phần xây dựng đền.
Về ý tưởng kiến trúc
Từ khi dự định xây dựng Đền Tam Thánh manh nha, ý tưởng kiến trúc đã được thảo luận nhiều.
Vào thời điểm đó, nhiều ngôi nhà cổ thôn quê được các đại gia mua đem ra thành phố rất được tán thưởng. Vì thế có ý kiến nên mua một ngôi nhà cổ có giá trị dùng làm đền. Tuy nhiên ý kiến này mau chóng bị bác bỏ. Vì ngôi nhà cổ sẽ khó bảo trì. Với thời gian, gỗ không còn tốt. Bảo trì và nhất là tôn tạo những hoa văn cổ xưa là việc làm phức tạp đòi hỏi tài năng, công sức và kinh phí. Hơn nữa khó tìm một ngôi nhà cổ phù hợp với mục đích tôn giáo, kiến trúc hài hòa với nhà thờ, hình dáng không quá to lớn lấn át ngôi nhà thờ.
Có ý kiến xây dựng một ngôi đền với những tháp cao, lộng lẫy hoành tráng. Ý kiến khác muốn xây dựng một ngôi đền rộng lớn có thể đón tiếp hàng ngàn người đến cầu nguyện và tham dự thánh lễ.
Sau nhiều cuộc thảo luận, tham khảo ý kiến những người chuyên môn, các nghệ sĩ, mọi người đều đồng ý những điểm sau đây:
Kiến trúc ngôi đền phải mang tính chất dân tộc vì ngôi nhà thờ Quần Cống đã có lối kiến trúc dân tộc với 3 ngọn tháp ở mặt tiền nhà thờ có những tầng mái cong.
Tuy mang dáng dấp dân tộc, nhưng kiến trúc ngôi đền không được sao chép những ngôi đền cổ, mà phải hiện đại với những sáng tạo độc đáo.
Để có hòa hợp tổng thể, kích thước ngôi đền không được quá lớn, không được lấn át nhà thờ trái lại phải làm nổi bật nhà thờ tạo nên một tổng thể hài hòa và xinh đẹp. Vì nhà thờ, nơi thờ phượng Chúa vẫn là điểm chính. Đền Tam Thánh tôn kính các Đấng Tử Đạo chỉ là điểm phụ.
Đền Tam Thánh bên ngoài phải thể hiện được phong cách dân tộc theo triết lý Á Đông, nhưng bên trong phải nói lên ý nghĩa thần học và tôn giáo, đặc biệt về đức tin kiên cường của các Đấng Tử Đạo.
Về thực hiện xây dựng
Sau khi đã thống nhất ý tưởng chủ đạo, cần phải có người thực hiện. Có hai chuyên viên được lưu tâm. Kiến trúc sư Anre Dũng Lạc Trần trung Kiên và họa sĩ Giuse Trần thanh Bình. Trước hết hai chuyên viên này là người công giáo, am hiểu kiến trúc Á Đông, hiểu biết Kinh Thánh và Thần học và rất có tâm huyết với nghệ thuật kiến trúc tôn giáo. Kế đến hai chuyên viên này đã có nhiều kinh nghiệm xây dựng và trang trí các công trình tôn giáo. Kiến trúc sư Trần trung Kiên đã thiết kế nhiều nhà thờ như nhà thờ Trung Trí thuộc giáo xứ Hàm long, đền thánh Nguyễn Đích ở Chi long, hiện đang tham gia cuộc thi thiết kế Trung tâm Thánh Mẫu Lavang. Họa sĩ Trần thanh Bình đã từng trang trí nhà thờ chính tòa Lạng sơn, nhà thờ Mai khôi Sài gòn, đền kính cha Trương bửu Diệp ở Tắc sậy, nhà thờ Thánh Tâm ở Đà lạt, nhà thờ Thánh linh ở Long xuyên, nhà thờ Ngọc thạch ở Cần thơ…
Hai chuyên viên đã tích cực cộng tác với nhau và làm việc hăng say, nên đã đưa ra nhiều mẫu mã. Lúc đầu là ngôi đền hình tròn có hai mái rất mềm mại. Sau đó là hình ngôi nhà ba mái với kiến trúc hình chiếc nón lá rất Việt nam. Các ý tưởng về trang trí bằng đá, bằng gỗ cũng như qui hoạch cảnh quan tổng thể đều được thảo luận tỉ mỉ với nhiều ý tưởng phong phú.
Một ban xây dựng đã được thành lập gồm có
Điều hành: Cha Xứ Gioakim Nguyễn hữu Văn
Trưởng ban: Ông Trùm Căn
Phó ban: Ông Trùm Luận
Cố vấn: Quý cha quê hương Quần Cống, đặc biệt là
Đức TGM Giuse Ngô quang Kiệt
Cha Giuse Phạm ngọc Oanh
Cha Vinxente Nguyễn tốt Nghiệp
Cha Đaminh Ngô văn Viễn
Cha Giuse Phạm thành Lâm
Cung cấp gỗ: Anh Trần công Đoàn
Anh Trần viết Đảng
Toàn thể giáo dân trong giáo xứ Quần Cống sẽ tham gia các công tác chung như chuẩn bị mặt bằng, di chuyển vật liệu, giúp đổ bê tông, vệ sinh khu vực…
Trong bầu khí nô nức, mọi người hăng hái bắt tay vào việc. Hi vọng ngày khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 150 năm tử đạo của Tam Thánh Quê Hương (13-01-2009) ngôi đền sẽ hoàn thành để khách hành hương tứ phương đến kính viếng.
III. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC
Tuy xây dựng ở một xứ đạo xa xôi và tầm vóc chỉ trong phạm vi một giáo xứ miền quê, nhưng những người chủ trương xây dựng mong muốn, qua công trình bé nhỏ này, góp phần vào nền nghệ thuật thánh tại quê nhà và bầy tỏ lòng tôn kính xứng đáng đối với các vị thánh quê hương, nên đã hết sức đầu tư trí tuệ, công sức và tiền bạc để ngôi đền có đôi chút giá trị nghệ thuật. Có thể nói ý nguyện này phần nào đạt được vì nói chung ngôi đền có một kiến trúc tổng thể vừa hài hòa đồng thời diễn tả được nét đẹp dân tộc lẫn tôn giáo với những họa tiết trang trí tinh xảo chuyên chở được phần nào ý nghĩa triết lý, lịch sử và thần học.
Tổng thể hài hòa
Nhìn vào kiến trúc ngôi đền, ta nhận thấy ngay một vẻ hài hòa trong tổng thể.
Hài hòa với toàn thể khu vực khuôn viên nhà thờ. Tuy ngôi đền được xây dựng khá công phu trên một diện tích gần 2.000m2 nhưng từ ngoài nhìn vào công trình xây dựng không ảnh hưởng xấu đến tổng thể vì không chiếm mất diện tích của khuôn viên nhà thờ, không làm cản trở tầm nhìn vào mặt tiền nhà thờ, trái lại còn làm tăng vẻ đẹp cho khuôn viên với mảng cây xanh, với đồi núi, hồ nước, thảm cỏ và làm tăng vẻ tôn nghiêm cho nhà thờ với bầu khí ấm cúng có đôi chút u tịch, thanh nhã và tràn đầy tinh thần cầu nguyện của ngôi đền.
Vẻ hài hòa được đặc biệt thấy được trong kiến trúc. Phần mặt tiền nhà thờ Quần Cống vốn đã mang vẻ đẹp dân tộc với ba ngọn tháp mái cong dịu dàng, với hai tòa kính thánh Giuse và thánh Án Khảm hình bát giác đông phương, với hồ nước trong xanh vừa mời gọi con người thanh tẩy tâm hồn cho thanh khiết khi bước vào tiền đường Nhà Chúa, vừa mời gọi con người đến gặp gỡ Thiên Chúa vốn gần gũi như thiên nhiên, như đất và nước. Trong tổng thể đó, kiến trúc ngôi đền đã được thực hiện một cách khéo léo và khiêm nhường để vẫn giữ được nét độc đáo trong vẻ đẹp riêng, không những không làm mất đi vẻ đẹp của ngôi nhà thờ, trái lại còn làm tăng thêm nét kiều diễm của cả khuôn viên thánh thiêng. Sự khéo léo tính toán càng thấy rõ trong sắp xếp vị trí. Phần đất dành cho ngôi đền có chiều dài đầy đủ, nhưng chiều ngang hạn hẹp. Để khỏi ảnh hưởng đến vẻ đẹp của nhà thờ lẫn vẻ đẹp của ngôi đền, kiến trúc sư đã khéo léo, một đàng đẩy lùi vị trí ngôi đền ra xa tối đa khỏi khuôn viên nhà thờ, đàng khác dùng tảng đá, bình phong che khuất tầm nhìn trực diện và lối đi lên hai bên để tăng thêm vẻ xa cách và thâm nghiêm của ngôi đền.
Ngoài vẻ hài hòa với khuôn viên nhà thờ, toàn thể kiến trúc ngôi đền tự nó có vẻ hài hòa riêng.
Hài hòa với thiên nhiên. Mảnh thiên nhiên của ngôi đền tuy bé nhỏ, nhưng hài hòa khôn tả. Có núi cao. Có hồ rộng. Có suối róc rách. Có cây cổ thụ. Có đường đi quanh co. Có thảm cỏ xanh rì. Có sân xi măng bằng phẳng nằm giữa vùng núi đồi trùng điệp. Có vùng cây xanh bao quanh ba tầng mái ngói đỏ.
Tổng thể kiến trúc ngôi đền hài hòa lạ lùng trong những tương phản. Núi cao uy nghiêm khô khan hòa lẫn với hồ nước trong mát dịu dàng. Đường lên chính điện thẳng tắp thênh thang nằm giữa những lối mòn quanh co phủ đầy cỏ dại. Những cây cổ thụ da dẻ xù xì tỏa bóng xanh mát bên những khóm hoa ẻo lả dạt dào hương sắc. Cỏ cây mượt mà chen lẫn với những tảng đá thô nhám cứng cỏi. Một vùng lá xanh ôm ấp mái ngói đỏ au như đài hoa nâng niu đóa hồng lộng lẫy. Nền ngôi đền vuông sắc cạnh nâng đỡ ba tầng mái tròn mềm mại. Những tảng đá rắn chắc dưới nền móng làm điểm tựa vững chãi cho lớp kiến trúc bằng gỗ tinh xảo bên trên. Tất cả tưởng như trái ngược tương phản, nhưng thực ra hài hòa làm thành một khối thống nhất không thể tách rời. Những khác biệt trở thành tự nhiên, không tàn phá nhưng làm phong phú cho nhau, tạo nên một kiến trúc xinh đẹp đến nao lòng.
Ý nghĩa phong phú
Kiến trúc hài hòa và tinh tế của ngôi đền càng trở nên gần gũi, nhẹ nhàng đi vào lòng người khi cảm hứng tôn giáo được trình bày bằng những hình tượng dân gian đậm đà mầu sắc dân tộc. Có thể kể ra vài hình tượng tiêu biểu:
Hình tượng vuông tròn. Theo quan niệm dân gian thì trời hình tròn và đất hình vuông. Quan niệm này được trình bày trong câu truyện hoàng tử Lang Liêu được thần tiên mách bảo đã làm ra bánh dầy và bánh chưng. Bánh dầy hình tròn tượng trưng cho trời. Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất. Nhờ ý tưởng này Lang Liêu được chọn nối nghiệp vua cha. Từ đó bánh dầy bánh chưng trở thành món ăn truyền thống dân tộc không thể thiếu trong các dịp lễ lạc đặc biệt là ngày Tết. Ngôi đền hình tròn được xây trên nền đá hình vuông, về kiến trúc toát lên vẻ hài hòa cân đối, nhưng bên trong nói lên ý nghĩa trời đất giao hòa. Nơi đây trời đất gặp nhau. Nơi đây Thiên Chúa đến với con người. Tuy ngôi đền dành để tôn kính ba vị Thánh Quê Hương nhưng chính là để tôn vinh Thiên Chúa. Vì các thánh là những người con trung tín làm chứng cho Chúa bằng mạng sống của mình. Các thánh là bằng chứng hùng hồn về Thiên Chúa, về Nước Trời. Cha thánh Gioan Maria Vianê nói: nơi nào có dấu chân các vị thánh, nơi ấy có bóng dáng của Thiên Chúa.
Hình tượng vuông tròn còn nói lên sự chung thủy, sự hoàn hảo. Cuộc đời các thánh là một cuộc đời chung thủy với đức tin, với ơn nghĩa của Chúa. Các ngài giữ trọn vẹn bổn phận đối với Chúa, bổn phận đối với đất nước và bổn phận đối với gia đình một cách hoàn hảo, “vuông tròn” không ai chê trách được. Đối với bản thân cả ba vị thánh đã tự rèn luyện để đạt tới đỉnh cao thánh thiện. Đối với xã hội các ngài đã đóng góp công sức phục vụ đất nước. Đối với gia đình các ngài đã nêu gương làm cha, làm chồng và tạo lập được những gia đình nề nếp, giáo dục con cháu nên người tốt đẹp. Trên hết đối với Thiên Chúa, các ngài đã dâng hiến chính mạng sống để làm chứng cho Chúa. Đó thật là các vị thánh đã “vuông tròn” moi bổn phận trong cuộc sống cả đạo lẫn đời, cả cá nhân lẫn xã hội trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.
Hình tượng mái nhà. Ai vào đền Nhất Gia Tam Thánh cũng phải chú ý đến ngôi nhà với ba tầng mái. Đối với người Việt nam, mái nhà rất quan trọng. Ở một xứ sở nắng lắm mưa nhiều, mái nhà là thành phần quan trọng nhất trong ngôi nhà. Mái nhà có chắc chắn tốt đẹp người trong nhà mới tránh khỏi nắng mưa, cuộc sống mới yên ổn. Người cha trong gia đình thường được ví như mái nhà che nắng che mưa cho cả gia đình. Vì thế tục ngữ có câu “con không cha như nhà không nóc”. Nói về một gia đình tan vỡ do người huynh trưởng thiếu trách nhiệm có câu “nhà dột từ nóc”. Mái nhà quan trọng nên đã thoát khỏi ý niệm hoàn toàn kiến trúc vật chất để trở nên một ý niệm thân thương về gia đình hạnh phúc. Vì thế gia đình được hình tượng trong “mái nhà”. Xa gia đình lâu ngày ai cũng mong được trở về “mái nhà xưa” vì đó thực là một “mái ấm”.
Một nhà có ba tầng mái tượng trưng cho Nhất Gia Tam Thánh. Một gia đình được che chở bởi ba vị thánh càng thêm an toàn, vững chắc. Con cháu trong một ngôi nhà như thế vừa hãnh diện vì các bậc cha ông thánh đức vừa an tâm hưởng thụ công phúc do cha ông để lại.
Ý tưởng về mái nhà che chở sắc nét hơn nhờ kết cấu hình nón lá của mái đền. Kiến trúc sư đã khéo léo thiết kế cho vòm trần bằng gỗ y hệt chiếc nón lá Việt nam. Chiếc nón lá càng làm cho kiến trúc đi vào lòng dân tộc vì chiếc nón lá vốn là người bạn thân thương và độc đáo của người dân Việt, đặc biệt những người nông dân chân lấm tay bùn quanh năm dãi dầm mưa nắng. Chiếc nón lá nhẹ nhàng, rẻ tiền mà rất tiện dụng che chở cho người lao động khỏi nắng mưa, khi nóng nực có thể dùng làm quạt, khi e thẹn có thể giúp che giấu khuôn mặt ửng hồng. Hình tượng nón lá ở trên mái nhà càng nói lên ý nghĩa che chở. Công đức của cha ông, nhất là của những vị thánh thiện chính là chiếc nón che chắn cho cuộc đời con cháu tránh khỏi những cơn mưa gió đau thương của cuộc đời, được an vui trong căn nhà ấm áp tiện nghi, nhất là ấm áp hạnh phúc và trên hết ấm áp trong “phúc ấm” cha ông để lại.
Hình tượng núi sông. Núi non, suối nước trong nghệ thuật non bộ là những cảnh quan quen thuộc người Việt nam dùng trang trí cho khuôn viên nhà ở. Đối với người Việt nam, núi sông không chỉ là hình thể vật chất nhưng đã được dùng để chỉ mảnh đất thân yêu của quê hương, của đất nước, của quốc gia dân tộc: “Nam quốc sơn hà nam đế cư” (Lý thường Kiệt) hay “hồn thiêng sông núi”. Còn hơn thế nữa núi sông thường được dùng làm biểu tượng của những gì linh thiêng cao quí. Ví dụ như chỉ sự bền vững chung thủy của tình yêu. “Nước non nặng một lời thề. Nước đi đi mãi không về cùng non. Nhớ lời hẹn nước thề non” (Tản Đà). “Nhớ lời thệ hải minh sơn”. Trên hết núi sông được dùng để so sánh với công ơn trời biển của cha mẹ: “Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Tại Đền Tam Thánh ngoài hình tượng thông thường của các hòn non bộ, núi sông còn có ý nghĩa thần học. Núi ở đây là Núi Sọ với thánh giá diễn tả cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Nếu công ơn của người cha được sánh ví với núi Thái sơn thì công ơn của Chúa vượt cao hơn tất cả các ngọn núi. Một vị tinh thông Hán học trong giáo xứ đã đặt tên cho Núi Sọ cạnh Đền Tam Thánh là Công Sơn, nói lên ơn cứu độ của Chúa ban cho nhân loại cao vượt hơn mọi ngọn núi cao. Dòng thác nước từ Núi Sọ Công Sơn đổ xuống chính là dòng nước từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu trên thánh giá tuôn đổ hồng phúc cho nhân loại. Dòng nước ơn thánh róc rách qua ngọn suối chảy qua hậu tẩm, đổ xuống hồ nước ở phía bên phải Đền Tam Thánh tượng trưng cho dòng nước ơn phúc từ bên phải Đền Thờ chảy ra. Nước từ Đền Thờ đem lại ơn thanh tẩy, ơn tha thứ và sự sống. Nước chảy đến đâu cây cỏ xanh tốt, muông thú sinh sôi nẩy nở đến đấy (x. Ed 47, 1-12). Nếu tấm lòng từ mẫu được sánh ví “bao la như biển Thái bình”(Y Vân, Lòng Mẹ) và trường cửu như “nước trong nguồn chảy ra” (Ca dao), tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại còn mênh mông hơn biển cả vì Người đã hi sinh chịu chết để đem hạnh phúc cho chúng ta. Đó là tình yêu lớn lao nhất như chính Người đã nói: “Khoâng coù tình thöông naøo cao caû hôn tình thöông cuûa ngöôøi ñaõ hy sinh tính maïng vì baïn höõu cuûa mình” (Ga 15, 13). Vì thế, hồ nước phía bên phải Đền Tam Thánh được đặt tên là hồ Đức Hải cho thấy phúc đức từ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu mênh mông như biển cả đổ xuống tràn lan cho nhân loại.
Từ 8 bức phù điêu sơ lược tích truyện Tam Thánh phát sinh ba dòng suối nhỏ hòa vào dòng suối lớn để cùng đổ vào hồ Đức Hải. Ngụ ý diễn tả cuộc tử đạo của Tam Thánh Quê Hương được phúc chung phần với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Và vì thế cũng trở thành một nguồn ân phúc đổ xuống cho nhân loại, cho dân tộc và đặc biệt cho giáo xứ quê hương.
Thẩm mỹ tinh tế
Những hình tượng đậm nét dân tộc diễn tả tài tình ý nghĩa thâm sâu đạo giáo càng khiến lòng người rung cảm khi tất cả được thể hiện bằng những đường nét thẩm mỹ tinh tế.
Tinh tế trong sắp xếp phối cảnh. Ba ngọn tháp vuông vức uy nghi của nhà thờ xứ được bao quanh bởi hai mái tòa hình bát giác và ngôi đền mái tròn mềm mại. Ngôi đền xây trên một rẻo đất cao ráo tựa như trên một ngọn đồi, cao vừa đủ để làm tăng vẻ thanh thoát của ngôi đền giữa một vùng đồng bằng đơn điệu, không quá cao để không lấn át vẻ tôn nghiêm của ngôi nhà thờ chính xứ. Nhà thờ xứ và đền Tam Thánh vừa liền lạc thành một tổng thể thống nhất vừa nhẹ nhàng cách biệt bằng một hàng dậu cây xanh đẹp mắt. Ngôi đền vừa gần gũi lại vừa thâm nghiêm với phiến đá đặt ngay ở lối chính dẫn vào đền và bức bình phong chắn lối để khách hành hương phải đi lên bằng lối phụ hai bên. Tổng thể khuôn viên không rộng lớn nhưng chứa đựng cả nhà thờ, tòa các thánh và ngôi đền, lại có đầy đủ núi đồi, sông suối, có đường đi lối lại, có cây xanh, có thảm cỏ, có đá, có hoa, không làm cho khuôn viên thành chật chội, trái lại tạo nên một quần thể vừa hợp nhất vừa xinh đẹp cho thấy óc thẩm mỹ tinh tế trong sắp xếp phối cảnh.
Tinh tế trong đường nét điêu khắc. Quan sát từng đường nét điêu khắc, ta càng khâm phục những bàn tay nghệ nhân tài ba. Hai chất liệu được dùng nhiều trong công trình là gỗ và đá.
Nhìn từ bên ngoài những công trình bằng đá tạo cho ngôi đền một dáng vẻ vững chãi khỏe mạnh. Từ nền móng cho đến lan can trong hành lang là một lớp đá quí cứng cáp được chạm trổ tinh vi. Dưới mỗi bệ kê chân cột hình lá vạn tuế phô diễn những nét khắc mềm mại khiến cành lá trở nên linh động trên nền đá mịn màng thanh nhã. Lan can hành lang bằng đá trắng nâng đỡ những thân cột tròn bằng đá đỏ tạo nên một tổng hợp mầu sắc vừa quí phái vừa thanh tao. Phía sau đền, những bức phù điêu bằng đá trắng nổi bật trên nền xám của bức tường tạo làm nổi bật dáng vẻ vừa uy nghiêm vừa thanh thoát của ngôi đền.
Công trình bằng gỗ cũng đẹp đẽ không thua kém. Những cánh cửa vốn đã được đẽo gọt tròn trịa cho phù hợp với hình dáng của ngôi đền càng tăng vẻ cao quí với những phù điêu khéo léo tạc cảnh gieo hạt và gặt lúa. Khuôn cửa sổ được bảo vệ bằng những vòng gỗ xếp đặt khéo léo thành những hình thánh giá coi rất lạ mắt. Tại vị trí trung tâm tòa Tam Thánh uy nghi với bức rèm chạm thông phong tinh xảo sơn son thiếp vàng lộng lẫy làm nổi bật tượng ba vị thánh với nét điêu khắc sắc sảo lạ thường. Toàn thể nội thất ngôi đền được ghép gỗ tạo nên một bầu khí ấm cúng và thâm trầm giúp người cầu nguyện dễ lắng đọng tâm hồn.
Tinh tế trong nội dung ý nghĩa. Khách hành hương càng thấm thía khi khám phá ra những ý nghĩa giấu ẩn trong các công trình điêu khắc. Không có gì dư thừa. Tất cả đều được chắt lọc. Tất cả đều có chủ đích chuyên chở những ý nghĩa phát nguồn từ Kinh Thánh, truyền thống hoặc lịch sử.
Những chiếc chum tưởng như những vật trang trí ngẫu nhiên thực ra gợi nhớ đến tích truyện bà Nhiêu Côn giấu Đức cha Sampedro Xuyên khi ngài bị quân lính lùng bắt. Hình sợi dây thừng được khéo léo khắc trên đầu cột ám chỉ dụng cụ hành hình ba vị thánh.
Ai bước đi trên nền đá vững chãi của ngôi đền đều liên tưởng đến Lời Chúa dạy: “Ai nghe nhöõng lôøi Thaày daïy maø ñem ra thöïc haønh, thì Thaày seõ chæ cho anh em bieát ngöôøi aáy ví ñöôïc nhö ai. Ngöôøi aáy ví ñöôïc nhö moät ngöôøi khi xaây nhaø, ñaõ cuoác, ñaõ ñaøo saâu vaø ñaët neàn moùng treân ñaù. Nöôùc luït daâng leân, doøng soâng coù uøa vaøo nhaø, thì cuõng khoâng lay chuyeån noåi, vì nhaø ñaõ xaây vöõng chaéc” (Lc 6, 47-48). Cuộc đời ba vị thánh đã vững chắc vì sống theo Lời Chúa cho đến tận cùng.
Chiêm ngắm hai cánh cửa khắc cảnh gieo hạt và gặt lúa, tự nhiên lòng trí ta hướng về những câu Thánh vịnh:
"Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo;
lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng". (Tv 126, 5-6)
Cuộc đời các vị thánh đã gieo trong gian nan vất vả, trong cả máu và nước mắt nay đang hưởng mùa gặt hạnh phúc hân hoan trong Nước Trời…
Cảnh thiên nhiên xinh tươi. Bầu không khí trong lành. Kiến trúc đi vào lòng người. Gương tiết liệt kiên trung của các vị thánh trong cùng một gia đình. Và nhất là bầu khí cầu nguyện nâng tâm hồn người lên tới Thiên Chúa. Tất cả tạo cho Đền Tam Thánh một vẻ cuốn hút khiến khách hành hương tuôn đến không quản ngại đường xa. Đến nơi mọi người có thể tham dự những giờ chầu Thánh Thể do các gia đình trong giáo xứ phụ trách. Có thể chiêm ngắm ngôi đền trong tổng thể. Có thể phân tích từng đường nét điêu khắc trên cửa, trên tường. Và có thể đơn sơ ngồi bên hồ nước thưởng thức làn gió mát như được lọc qua rặng cây xanh và dòng nước trong lành.
Còn tiếp…
Hình ảnh nghệ thuật Đền Tam Thánh Quần Cống
Xin gói gọn vào 4 điểm: lịch sử hình thành; tiến trình xây dựng; giá trị nghệ thuật kiến trúc; và cảm nghĩ của những người góp phần xây dựng ngôi đền.
I. LỊCH SỬ NGÔI ĐỀN
Quần Cống là một xứ đạo lâu đời, đã được đón nhận Tin mừng từ rất sớm, vì Quần Cống thuộc tổng Trà Lũ là nơi, theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, giáo sĩ I nê khu đã vào truyền giáo từ năm 1533.
Quần Cống là một một mảnh đất mầu mỡ, nên tại đây, hạt giống Tin mừng đã nẩy nở đơm bông kết trái đem đến một mùa gặt phong phú. Giáo xứ Quần Cống phát triển nhanh chóng trở thành một giáo xứ lớn. Từ giáo xứ mẹ Quần Cống đã sinh ra nhiều giáo xứ con như Lạc Thành, Cát Phú, Thánh Mẫu, Thánh Thể...
Không chỉ lớn về mặt dân số, giáo xứ còn lớn về mặt xã hội. Có nhiều người học giỏi, đỗ đạt làm quan. Chính vì thế mà nhà vua đã ban tặng danh hiệu Quần Cống. Tuy nhiên những thành đạt về khoa cử không làm xao nhãng đức tin. Gặp thời bắt bớ các vị quan lại sẵn sàng từ bỏ áo mão để nhận triều thiên tử đạo.
Chính vì thế giáo xứ càng trở nên lớn lao về đức tin và lòng sùng mộ. Có lẽ đó là lý do các vị bề trên đã chọn Quần Cống làm nơi ẩn nấp trong thời kỳ khó khăn nhất. Tại Nam định có các vị quan hung hăng bắt đạo như Nguyễn đình Tân, Trịnh quang Khanh. Nhưng giáo dân Quần Cống, đặc biệt các vị quan lại không ngần ngại tuyên xưng đức tin và vì thế sẵn sàng che giấu đồ thờ phượng và các Đức cha, các cha trong nhà mình. Đức cha Sampedre Xuyên đã ẩn nấp trong nhà thánh Án Khảm và khi quan quân vào nhà bà Nhiêu Côn, con gái thánh Án Khảm đã giấu ngài trong một cái chum lớn đặt cạnh bờ ao.
Và khi nhiều người trong làng được phúc tử vì đạo, dân làng càng thêm đức tin, thêm lòng sùng kính các vị tử đạo bản hương.
Ngay từ xưa dân làng đã có lòng sùng kính các vị tử đạo. Từ khi các ngài chưa được tôn phong lên hàng Chân Phúc, dân làng đã bốc mộ và đặt xương các ngài vào nơi trang trọng để tôn kính. Sau khi các ngài được nâng lên hàng Chân Phúc, phong trào tôn kính càng phát triển mạnh mẽ.
Tại giáo xứ quê hương, Tam Thánh Quần Cống đã được vẽ hình, tạc tượng đặt trong nhà thờ cho giáo dân kính viếng, cầu nguyện. Trong nhà thờ có tòa tôn kính Ba Đấng. Ngoài sân nhà thờ có đài thánh Án Khảm. Tại nhà tổ đã có các tòa tôn vinh Ba Đấng. Ngoài ra dân làng còn lo liệu quản lý đình làng là nơi các Đấng đã xưng đạo trước mặt quan quân.
Nhưng ngôi Đền Tam Thánh đầu tiên được xây dựng ở trong miền Nam. Dân làng Quần Cống di cư mang theo cả lòng yêu mến quê hương và lòng tôn sùng các vị Tử đạo Quê hương. Rất nhiều người Quần Cống định cư tại xứ Bùi Phát và xứ Tân Hòa là hai xứ di cư tọa lạc hai bên đường xe lửa ngăn cách bởi cổng số 6. Vì có điều kiện bày tỏ lòng tôn kính Tam Thánh Quê Hương nên hội Đồng Hương Quần Cống Miền Nam đã mua một căn nhà tại xứ Bùi Phát vừa dùng làm nhà tổ làng Quần Cống vừa làm Đền Tam Thánh. Tại đây các linh mục tu sĩ quê hương khi có dịp lui tới có chỗ nghỉ ngơi. Đây cũng là trụ sở qui tụ bà con đồng hương. Và nhất là đây là nơi bày tỏ và cổ võ lòng sùng kính Tam Thánh Quê Hương. Hăng năm bà con đồng hương Quần Cống vẫn tổ chức mừng lễ Tam Thánh Quê Hương, tổ chức rước kiệu Tam Thánh tại các xứ Bùi Phát, Vườn Xoài…
Ngôi Đền Tam Thánh thứ hai, lạ thay, lại xuất hiện tại San Diego, Hoa Kỳ. Cụ Phạm quang Khai, một nhân sĩ quê hương có lòng yêu quê hương tha thiết và có lòng sùng kính các vị Tử Đạo Quê Hương mãnh liệt đã đem lòng sùng kính này phổ biến trên nước Hoa Kỳ. Không những cụ đã thuyết phục được Đức Ông Roger Lechner cho đặt tượng Tam Thánh trong nhà thờ do ngài làm cha xứ, cụ còn biến garage tại nhà riêng thành ngôi Đền Tam Thánh. Nơi đây cụ tổ chức đọc kinh cầu nguyện, Có nhiều linh mục đã đến dâng lễ tại ngôi đền đơn sơ nơi xứ Hoa Kỳ xa xôi này.
Ngôi Đền Tam Thánh thứ ba được xây dựng tại quê hương Quần Cống. Ngôi đền này cũng do cụ Phạm quang Khai chủ xướng. Nhưng vì xây dựng vào thời điểm khó khăn, nên sau đó đã bị Nhà Nước tháo dỡ. Các Thánh Quê Hương cho biết quê nhà còn gặp nhiều khó khăn thử thách.
Ngoài những ngôi đền, tượng Tam Thánh Quê Hương còn được giáo dân đồng hương mang đi khắp nơi như tại nhà thờ Lam Sơn, Vũng Tầu, tại hội Đồng Hương Quần Cống Hải Ngoại, trụ sở đặt tại Santa Ana, Hoa Kỳ…
Ngôi Đền Tam Thánh hiện nay tại Quần Cống là ngôi đền thứ tư dâng kính Tam Thánh Quê Hương. Nhân dịp kỷ niệm 150 năm Tam Thánh Quê Hương được phúc tử vì đạo mọi người vốn đã canh cánh bên lòng việc xây dựng Đền Tam Thánh, thấy các nơi đã có đền, còn chính quê hương lại không có, hay là đã có nhưng bị tháo dỡ, lòng không khỏi áy náy buồn phiền, đã quyết tâm cùng nhau xây dựng ngôi đền. Vì xây sau, lại là năm kỷ niệm quan trọng, nên mọi người đều mong muốn xây dựng một ngôi đền xứng đáng cho các vị thánh quê hương.
II. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG
Ý tưởng xây dựng Đền Tam Thánh đưa ra được tất cả mọi người tán thành. Nhưng có nhiều ý kiến trái ngược về địa điểm xây dựng, về mẫu mã kiến trúc và về phương án tiến hành.
Trước sự tham gia ý kiến rất phong phú này mọi người nhận thấy cần phải có nhiều cuộc họp với nhiều thành phần để đúc kết và tuyển chọn phương án tối ưu. Có các cuộc họp chính thức do cha chính xứ tổ chức với sự tham dự của quý cha đồng hương và ban trùm trưởng giáo xứ. Có các cuộc họp có tính cách gia đình như gia tộc Tam Thánh. Cả ban đại diện làng Quần Cống cũng tham gia ý kiến. Có các cuộc thảo luận bên lề, trong các khu xóm và trong nhóm bạn hữu.
Về địa điểm xây dựng
Gia tộc Tam Thánh muốn xây dựng đền ngay trên đất tổ. Trong khi ban đại diện làng lại muốn xây dựng ngay trên đất đình làng xưa. Mỗi bên đều có lý do chính đáng. Nhưng những lý lẽ chưa đủ sức thuyết phục.
Xây trên đất của gia tộc Tam Thánh có những thuận lợi vì đã có đất sẵn sàng, vì đó là nơi các thánh đã từng sinh sống, vì có con cháu giúp việc bảo trì. Nhưng về đất tổ cũng đã thiếu sự nhất trí. Hiện nay đã có hai nơi xây hai cơ sở khác nhau rồi. Nếu phải chọn một sẽ có mâu thuẫn tranh cãi. Và nếu xây trên đất tổ thì ai sẽ đứng chủ quyền. Đền là của chung nếu chỉ thuộc về một gia đình là không hợp lý.
Xây dựng tại thửa đất của đình làng xưa có những ưu điểm. Vì đó là một di tích đáng quí. Vì đó là nơi chung. Nhưng không phải không có những trở ngại. Vì là đất chung nên còn phải tổ chức những buổi hội làng. Sẽ mất đi tính cách tôn nghiêm cần thiết của một ngôi đền. Vì là đất của chung nên sau này có thể gặp trở ngại khi chính quyền không thuận thảo với xứ đạo.
Sau cùng mọi người đều thống nhất ý kiến xây dựng Đền Tam Thánh ngay trong khuôn viên nhà thờ xứ là hợp lý và thuận lợi nhất. Vì nhà thờ là nơi tôn nghiêm rất thuận lợi cho bầu khí cầu nguyện. Vì nhà thờ là nơi chung sẽ biến đền thành chính thức của cả giáo xứ sẽ ổn định lâu dài. Đền Thánh nằm trong khuôn viên nhà thờ sẽ tiện lợi cho khách hành hương đến kính viếng.
Thoạt tiên mọi người nghĩ đến khu đất ở đầu nhà thờ, đối diện với nhà xứ mới xây. Đây là một khu đất rộng, hoàn toàn thuộc chủ quyền của nhà xứ. Tuy nhiên địa thế thất lợi vì ở quá sâu bên trong, không thuận lợi cho khách hành hương lui tới. Ngoài ra đền phải xây dựng đàng sau công trình phụ của một số hộ sẽ mất vẻ tôn nghiêm. Có thể mở ra phía đường nhỏ của xóm nhưng vì là đường nhỏ nên giao thông không thuận lợi.
Thấy những bất lợi của khu đất đầu nhà thờ, mọi người nghĩ đến khu đất tọa lạc bên cạnh trái nhà thờ, ở ngay lối vào. Nhưng phần lớn khu đất này thuộc về tư nhân. Vì thế cần thương lượng và cần thêm kinh phí mua đất. Tuy tốn kém hơn nhưng đây là một địa điểm đẹp vì ở ngay lối vào nhà thờ, rất thuận lợi cho khách hành hương lui tới đồng thời tạo thêm cảnh quan cho tổng thể khu vực nhà thờ xứ. Việc thương lượng tiến hành dễ dàng vì mọi người đều tha thiết với ngôi đền tôn kính Tam Thánh Quê Hương. Giá cả đều có tính cách tượng trưng. Riêng ông trùm Căn đã đi tiên phong dâng hiến phần ao thuộc quyền sở hữu của gia đình ông để góp phần xây dựng đền.
Về ý tưởng kiến trúc
Từ khi dự định xây dựng Đền Tam Thánh manh nha, ý tưởng kiến trúc đã được thảo luận nhiều.
Vào thời điểm đó, nhiều ngôi nhà cổ thôn quê được các đại gia mua đem ra thành phố rất được tán thưởng. Vì thế có ý kiến nên mua một ngôi nhà cổ có giá trị dùng làm đền. Tuy nhiên ý kiến này mau chóng bị bác bỏ. Vì ngôi nhà cổ sẽ khó bảo trì. Với thời gian, gỗ không còn tốt. Bảo trì và nhất là tôn tạo những hoa văn cổ xưa là việc làm phức tạp đòi hỏi tài năng, công sức và kinh phí. Hơn nữa khó tìm một ngôi nhà cổ phù hợp với mục đích tôn giáo, kiến trúc hài hòa với nhà thờ, hình dáng không quá to lớn lấn át ngôi nhà thờ.
Có ý kiến xây dựng một ngôi đền với những tháp cao, lộng lẫy hoành tráng. Ý kiến khác muốn xây dựng một ngôi đền rộng lớn có thể đón tiếp hàng ngàn người đến cầu nguyện và tham dự thánh lễ.
Sau nhiều cuộc thảo luận, tham khảo ý kiến những người chuyên môn, các nghệ sĩ, mọi người đều đồng ý những điểm sau đây:
Kiến trúc ngôi đền phải mang tính chất dân tộc vì ngôi nhà thờ Quần Cống đã có lối kiến trúc dân tộc với 3 ngọn tháp ở mặt tiền nhà thờ có những tầng mái cong.
Tuy mang dáng dấp dân tộc, nhưng kiến trúc ngôi đền không được sao chép những ngôi đền cổ, mà phải hiện đại với những sáng tạo độc đáo.
Để có hòa hợp tổng thể, kích thước ngôi đền không được quá lớn, không được lấn át nhà thờ trái lại phải làm nổi bật nhà thờ tạo nên một tổng thể hài hòa và xinh đẹp. Vì nhà thờ, nơi thờ phượng Chúa vẫn là điểm chính. Đền Tam Thánh tôn kính các Đấng Tử Đạo chỉ là điểm phụ.
Đền Tam Thánh bên ngoài phải thể hiện được phong cách dân tộc theo triết lý Á Đông, nhưng bên trong phải nói lên ý nghĩa thần học và tôn giáo, đặc biệt về đức tin kiên cường của các Đấng Tử Đạo.
Về thực hiện xây dựng
Sau khi đã thống nhất ý tưởng chủ đạo, cần phải có người thực hiện. Có hai chuyên viên được lưu tâm. Kiến trúc sư Anre Dũng Lạc Trần trung Kiên và họa sĩ Giuse Trần thanh Bình. Trước hết hai chuyên viên này là người công giáo, am hiểu kiến trúc Á Đông, hiểu biết Kinh Thánh và Thần học và rất có tâm huyết với nghệ thuật kiến trúc tôn giáo. Kế đến hai chuyên viên này đã có nhiều kinh nghiệm xây dựng và trang trí các công trình tôn giáo. Kiến trúc sư Trần trung Kiên đã thiết kế nhiều nhà thờ như nhà thờ Trung Trí thuộc giáo xứ Hàm long, đền thánh Nguyễn Đích ở Chi long, hiện đang tham gia cuộc thi thiết kế Trung tâm Thánh Mẫu Lavang. Họa sĩ Trần thanh Bình đã từng trang trí nhà thờ chính tòa Lạng sơn, nhà thờ Mai khôi Sài gòn, đền kính cha Trương bửu Diệp ở Tắc sậy, nhà thờ Thánh Tâm ở Đà lạt, nhà thờ Thánh linh ở Long xuyên, nhà thờ Ngọc thạch ở Cần thơ…
Hai chuyên viên đã tích cực cộng tác với nhau và làm việc hăng say, nên đã đưa ra nhiều mẫu mã. Lúc đầu là ngôi đền hình tròn có hai mái rất mềm mại. Sau đó là hình ngôi nhà ba mái với kiến trúc hình chiếc nón lá rất Việt nam. Các ý tưởng về trang trí bằng đá, bằng gỗ cũng như qui hoạch cảnh quan tổng thể đều được thảo luận tỉ mỉ với nhiều ý tưởng phong phú.
Một ban xây dựng đã được thành lập gồm có
Điều hành: Cha Xứ Gioakim Nguyễn hữu Văn
Trưởng ban: Ông Trùm Căn
Phó ban: Ông Trùm Luận
Cố vấn: Quý cha quê hương Quần Cống, đặc biệt là
Đức TGM Giuse Ngô quang Kiệt
Cha Giuse Phạm ngọc Oanh
Cha Vinxente Nguyễn tốt Nghiệp
Cha Đaminh Ngô văn Viễn
Cha Giuse Phạm thành Lâm
Cung cấp gỗ: Anh Trần công Đoàn
Anh Trần viết Đảng
Toàn thể giáo dân trong giáo xứ Quần Cống sẽ tham gia các công tác chung như chuẩn bị mặt bằng, di chuyển vật liệu, giúp đổ bê tông, vệ sinh khu vực…
Trong bầu khí nô nức, mọi người hăng hái bắt tay vào việc. Hi vọng ngày khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 150 năm tử đạo của Tam Thánh Quê Hương (13-01-2009) ngôi đền sẽ hoàn thành để khách hành hương tứ phương đến kính viếng.
III. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC
Tuy xây dựng ở một xứ đạo xa xôi và tầm vóc chỉ trong phạm vi một giáo xứ miền quê, nhưng những người chủ trương xây dựng mong muốn, qua công trình bé nhỏ này, góp phần vào nền nghệ thuật thánh tại quê nhà và bầy tỏ lòng tôn kính xứng đáng đối với các vị thánh quê hương, nên đã hết sức đầu tư trí tuệ, công sức và tiền bạc để ngôi đền có đôi chút giá trị nghệ thuật. Có thể nói ý nguyện này phần nào đạt được vì nói chung ngôi đền có một kiến trúc tổng thể vừa hài hòa đồng thời diễn tả được nét đẹp dân tộc lẫn tôn giáo với những họa tiết trang trí tinh xảo chuyên chở được phần nào ý nghĩa triết lý, lịch sử và thần học.
Tổng thể hài hòa
Nhìn vào kiến trúc ngôi đền, ta nhận thấy ngay một vẻ hài hòa trong tổng thể.
Hài hòa với toàn thể khu vực khuôn viên nhà thờ. Tuy ngôi đền được xây dựng khá công phu trên một diện tích gần 2.000m2 nhưng từ ngoài nhìn vào công trình xây dựng không ảnh hưởng xấu đến tổng thể vì không chiếm mất diện tích của khuôn viên nhà thờ, không làm cản trở tầm nhìn vào mặt tiền nhà thờ, trái lại còn làm tăng vẻ đẹp cho khuôn viên với mảng cây xanh, với đồi núi, hồ nước, thảm cỏ và làm tăng vẻ tôn nghiêm cho nhà thờ với bầu khí ấm cúng có đôi chút u tịch, thanh nhã và tràn đầy tinh thần cầu nguyện của ngôi đền.
Vẻ hài hòa được đặc biệt thấy được trong kiến trúc. Phần mặt tiền nhà thờ Quần Cống vốn đã mang vẻ đẹp dân tộc với ba ngọn tháp mái cong dịu dàng, với hai tòa kính thánh Giuse và thánh Án Khảm hình bát giác đông phương, với hồ nước trong xanh vừa mời gọi con người thanh tẩy tâm hồn cho thanh khiết khi bước vào tiền đường Nhà Chúa, vừa mời gọi con người đến gặp gỡ Thiên Chúa vốn gần gũi như thiên nhiên, như đất và nước. Trong tổng thể đó, kiến trúc ngôi đền đã được thực hiện một cách khéo léo và khiêm nhường để vẫn giữ được nét độc đáo trong vẻ đẹp riêng, không những không làm mất đi vẻ đẹp của ngôi nhà thờ, trái lại còn làm tăng thêm nét kiều diễm của cả khuôn viên thánh thiêng. Sự khéo léo tính toán càng thấy rõ trong sắp xếp vị trí. Phần đất dành cho ngôi đền có chiều dài đầy đủ, nhưng chiều ngang hạn hẹp. Để khỏi ảnh hưởng đến vẻ đẹp của nhà thờ lẫn vẻ đẹp của ngôi đền, kiến trúc sư đã khéo léo, một đàng đẩy lùi vị trí ngôi đền ra xa tối đa khỏi khuôn viên nhà thờ, đàng khác dùng tảng đá, bình phong che khuất tầm nhìn trực diện và lối đi lên hai bên để tăng thêm vẻ xa cách và thâm nghiêm của ngôi đền.
Ngoài vẻ hài hòa với khuôn viên nhà thờ, toàn thể kiến trúc ngôi đền tự nó có vẻ hài hòa riêng.
Hài hòa với thiên nhiên. Mảnh thiên nhiên của ngôi đền tuy bé nhỏ, nhưng hài hòa khôn tả. Có núi cao. Có hồ rộng. Có suối róc rách. Có cây cổ thụ. Có đường đi quanh co. Có thảm cỏ xanh rì. Có sân xi măng bằng phẳng nằm giữa vùng núi đồi trùng điệp. Có vùng cây xanh bao quanh ba tầng mái ngói đỏ.
Tổng thể kiến trúc ngôi đền hài hòa lạ lùng trong những tương phản. Núi cao uy nghiêm khô khan hòa lẫn với hồ nước trong mát dịu dàng. Đường lên chính điện thẳng tắp thênh thang nằm giữa những lối mòn quanh co phủ đầy cỏ dại. Những cây cổ thụ da dẻ xù xì tỏa bóng xanh mát bên những khóm hoa ẻo lả dạt dào hương sắc. Cỏ cây mượt mà chen lẫn với những tảng đá thô nhám cứng cỏi. Một vùng lá xanh ôm ấp mái ngói đỏ au như đài hoa nâng niu đóa hồng lộng lẫy. Nền ngôi đền vuông sắc cạnh nâng đỡ ba tầng mái tròn mềm mại. Những tảng đá rắn chắc dưới nền móng làm điểm tựa vững chãi cho lớp kiến trúc bằng gỗ tinh xảo bên trên. Tất cả tưởng như trái ngược tương phản, nhưng thực ra hài hòa làm thành một khối thống nhất không thể tách rời. Những khác biệt trở thành tự nhiên, không tàn phá nhưng làm phong phú cho nhau, tạo nên một kiến trúc xinh đẹp đến nao lòng.
Ý nghĩa phong phú
Kiến trúc hài hòa và tinh tế của ngôi đền càng trở nên gần gũi, nhẹ nhàng đi vào lòng người khi cảm hứng tôn giáo được trình bày bằng những hình tượng dân gian đậm đà mầu sắc dân tộc. Có thể kể ra vài hình tượng tiêu biểu:
Hình tượng vuông tròn. Theo quan niệm dân gian thì trời hình tròn và đất hình vuông. Quan niệm này được trình bày trong câu truyện hoàng tử Lang Liêu được thần tiên mách bảo đã làm ra bánh dầy và bánh chưng. Bánh dầy hình tròn tượng trưng cho trời. Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất. Nhờ ý tưởng này Lang Liêu được chọn nối nghiệp vua cha. Từ đó bánh dầy bánh chưng trở thành món ăn truyền thống dân tộc không thể thiếu trong các dịp lễ lạc đặc biệt là ngày Tết. Ngôi đền hình tròn được xây trên nền đá hình vuông, về kiến trúc toát lên vẻ hài hòa cân đối, nhưng bên trong nói lên ý nghĩa trời đất giao hòa. Nơi đây trời đất gặp nhau. Nơi đây Thiên Chúa đến với con người. Tuy ngôi đền dành để tôn kính ba vị Thánh Quê Hương nhưng chính là để tôn vinh Thiên Chúa. Vì các thánh là những người con trung tín làm chứng cho Chúa bằng mạng sống của mình. Các thánh là bằng chứng hùng hồn về Thiên Chúa, về Nước Trời. Cha thánh Gioan Maria Vianê nói: nơi nào có dấu chân các vị thánh, nơi ấy có bóng dáng của Thiên Chúa.
Hình tượng vuông tròn còn nói lên sự chung thủy, sự hoàn hảo. Cuộc đời các thánh là một cuộc đời chung thủy với đức tin, với ơn nghĩa của Chúa. Các ngài giữ trọn vẹn bổn phận đối với Chúa, bổn phận đối với đất nước và bổn phận đối với gia đình một cách hoàn hảo, “vuông tròn” không ai chê trách được. Đối với bản thân cả ba vị thánh đã tự rèn luyện để đạt tới đỉnh cao thánh thiện. Đối với xã hội các ngài đã đóng góp công sức phục vụ đất nước. Đối với gia đình các ngài đã nêu gương làm cha, làm chồng và tạo lập được những gia đình nề nếp, giáo dục con cháu nên người tốt đẹp. Trên hết đối với Thiên Chúa, các ngài đã dâng hiến chính mạng sống để làm chứng cho Chúa. Đó thật là các vị thánh đã “vuông tròn” moi bổn phận trong cuộc sống cả đạo lẫn đời, cả cá nhân lẫn xã hội trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.
Hình tượng mái nhà. Ai vào đền Nhất Gia Tam Thánh cũng phải chú ý đến ngôi nhà với ba tầng mái. Đối với người Việt nam, mái nhà rất quan trọng. Ở một xứ sở nắng lắm mưa nhiều, mái nhà là thành phần quan trọng nhất trong ngôi nhà. Mái nhà có chắc chắn tốt đẹp người trong nhà mới tránh khỏi nắng mưa, cuộc sống mới yên ổn. Người cha trong gia đình thường được ví như mái nhà che nắng che mưa cho cả gia đình. Vì thế tục ngữ có câu “con không cha như nhà không nóc”. Nói về một gia đình tan vỡ do người huynh trưởng thiếu trách nhiệm có câu “nhà dột từ nóc”. Mái nhà quan trọng nên đã thoát khỏi ý niệm hoàn toàn kiến trúc vật chất để trở nên một ý niệm thân thương về gia đình hạnh phúc. Vì thế gia đình được hình tượng trong “mái nhà”. Xa gia đình lâu ngày ai cũng mong được trở về “mái nhà xưa” vì đó thực là một “mái ấm”.
Một nhà có ba tầng mái tượng trưng cho Nhất Gia Tam Thánh. Một gia đình được che chở bởi ba vị thánh càng thêm an toàn, vững chắc. Con cháu trong một ngôi nhà như thế vừa hãnh diện vì các bậc cha ông thánh đức vừa an tâm hưởng thụ công phúc do cha ông để lại.
Ý tưởng về mái nhà che chở sắc nét hơn nhờ kết cấu hình nón lá của mái đền. Kiến trúc sư đã khéo léo thiết kế cho vòm trần bằng gỗ y hệt chiếc nón lá Việt nam. Chiếc nón lá càng làm cho kiến trúc đi vào lòng dân tộc vì chiếc nón lá vốn là người bạn thân thương và độc đáo của người dân Việt, đặc biệt những người nông dân chân lấm tay bùn quanh năm dãi dầm mưa nắng. Chiếc nón lá nhẹ nhàng, rẻ tiền mà rất tiện dụng che chở cho người lao động khỏi nắng mưa, khi nóng nực có thể dùng làm quạt, khi e thẹn có thể giúp che giấu khuôn mặt ửng hồng. Hình tượng nón lá ở trên mái nhà càng nói lên ý nghĩa che chở. Công đức của cha ông, nhất là của những vị thánh thiện chính là chiếc nón che chắn cho cuộc đời con cháu tránh khỏi những cơn mưa gió đau thương của cuộc đời, được an vui trong căn nhà ấm áp tiện nghi, nhất là ấm áp hạnh phúc và trên hết ấm áp trong “phúc ấm” cha ông để lại.
Hình tượng núi sông. Núi non, suối nước trong nghệ thuật non bộ là những cảnh quan quen thuộc người Việt nam dùng trang trí cho khuôn viên nhà ở. Đối với người Việt nam, núi sông không chỉ là hình thể vật chất nhưng đã được dùng để chỉ mảnh đất thân yêu của quê hương, của đất nước, của quốc gia dân tộc: “Nam quốc sơn hà nam đế cư” (Lý thường Kiệt) hay “hồn thiêng sông núi”. Còn hơn thế nữa núi sông thường được dùng làm biểu tượng của những gì linh thiêng cao quí. Ví dụ như chỉ sự bền vững chung thủy của tình yêu. “Nước non nặng một lời thề. Nước đi đi mãi không về cùng non. Nhớ lời hẹn nước thề non” (Tản Đà). “Nhớ lời thệ hải minh sơn”. Trên hết núi sông được dùng để so sánh với công ơn trời biển của cha mẹ: “Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Tại Đền Tam Thánh ngoài hình tượng thông thường của các hòn non bộ, núi sông còn có ý nghĩa thần học. Núi ở đây là Núi Sọ với thánh giá diễn tả cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Nếu công ơn của người cha được sánh ví với núi Thái sơn thì công ơn của Chúa vượt cao hơn tất cả các ngọn núi. Một vị tinh thông Hán học trong giáo xứ đã đặt tên cho Núi Sọ cạnh Đền Tam Thánh là Công Sơn, nói lên ơn cứu độ của Chúa ban cho nhân loại cao vượt hơn mọi ngọn núi cao. Dòng thác nước từ Núi Sọ Công Sơn đổ xuống chính là dòng nước từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu trên thánh giá tuôn đổ hồng phúc cho nhân loại. Dòng nước ơn thánh róc rách qua ngọn suối chảy qua hậu tẩm, đổ xuống hồ nước ở phía bên phải Đền Tam Thánh tượng trưng cho dòng nước ơn phúc từ bên phải Đền Thờ chảy ra. Nước từ Đền Thờ đem lại ơn thanh tẩy, ơn tha thứ và sự sống. Nước chảy đến đâu cây cỏ xanh tốt, muông thú sinh sôi nẩy nở đến đấy (x. Ed 47, 1-12). Nếu tấm lòng từ mẫu được sánh ví “bao la như biển Thái bình”(Y Vân, Lòng Mẹ) và trường cửu như “nước trong nguồn chảy ra” (Ca dao), tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại còn mênh mông hơn biển cả vì Người đã hi sinh chịu chết để đem hạnh phúc cho chúng ta. Đó là tình yêu lớn lao nhất như chính Người đã nói: “Khoâng coù tình thöông naøo cao caû hôn tình thöông cuûa ngöôøi ñaõ hy sinh tính maïng vì baïn höõu cuûa mình” (Ga 15, 13). Vì thế, hồ nước phía bên phải Đền Tam Thánh được đặt tên là hồ Đức Hải cho thấy phúc đức từ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu mênh mông như biển cả đổ xuống tràn lan cho nhân loại.
Từ 8 bức phù điêu sơ lược tích truyện Tam Thánh phát sinh ba dòng suối nhỏ hòa vào dòng suối lớn để cùng đổ vào hồ Đức Hải. Ngụ ý diễn tả cuộc tử đạo của Tam Thánh Quê Hương được phúc chung phần với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Và vì thế cũng trở thành một nguồn ân phúc đổ xuống cho nhân loại, cho dân tộc và đặc biệt cho giáo xứ quê hương.
Thẩm mỹ tinh tế
Những hình tượng đậm nét dân tộc diễn tả tài tình ý nghĩa thâm sâu đạo giáo càng khiến lòng người rung cảm khi tất cả được thể hiện bằng những đường nét thẩm mỹ tinh tế.
Tinh tế trong sắp xếp phối cảnh. Ba ngọn tháp vuông vức uy nghi của nhà thờ xứ được bao quanh bởi hai mái tòa hình bát giác và ngôi đền mái tròn mềm mại. Ngôi đền xây trên một rẻo đất cao ráo tựa như trên một ngọn đồi, cao vừa đủ để làm tăng vẻ thanh thoát của ngôi đền giữa một vùng đồng bằng đơn điệu, không quá cao để không lấn át vẻ tôn nghiêm của ngôi nhà thờ chính xứ. Nhà thờ xứ và đền Tam Thánh vừa liền lạc thành một tổng thể thống nhất vừa nhẹ nhàng cách biệt bằng một hàng dậu cây xanh đẹp mắt. Ngôi đền vừa gần gũi lại vừa thâm nghiêm với phiến đá đặt ngay ở lối chính dẫn vào đền và bức bình phong chắn lối để khách hành hương phải đi lên bằng lối phụ hai bên. Tổng thể khuôn viên không rộng lớn nhưng chứa đựng cả nhà thờ, tòa các thánh và ngôi đền, lại có đầy đủ núi đồi, sông suối, có đường đi lối lại, có cây xanh, có thảm cỏ, có đá, có hoa, không làm cho khuôn viên thành chật chội, trái lại tạo nên một quần thể vừa hợp nhất vừa xinh đẹp cho thấy óc thẩm mỹ tinh tế trong sắp xếp phối cảnh.
Tinh tế trong đường nét điêu khắc. Quan sát từng đường nét điêu khắc, ta càng khâm phục những bàn tay nghệ nhân tài ba. Hai chất liệu được dùng nhiều trong công trình là gỗ và đá.
Nhìn từ bên ngoài những công trình bằng đá tạo cho ngôi đền một dáng vẻ vững chãi khỏe mạnh. Từ nền móng cho đến lan can trong hành lang là một lớp đá quí cứng cáp được chạm trổ tinh vi. Dưới mỗi bệ kê chân cột hình lá vạn tuế phô diễn những nét khắc mềm mại khiến cành lá trở nên linh động trên nền đá mịn màng thanh nhã. Lan can hành lang bằng đá trắng nâng đỡ những thân cột tròn bằng đá đỏ tạo nên một tổng hợp mầu sắc vừa quí phái vừa thanh tao. Phía sau đền, những bức phù điêu bằng đá trắng nổi bật trên nền xám của bức tường tạo làm nổi bật dáng vẻ vừa uy nghiêm vừa thanh thoát của ngôi đền.
Công trình bằng gỗ cũng đẹp đẽ không thua kém. Những cánh cửa vốn đã được đẽo gọt tròn trịa cho phù hợp với hình dáng của ngôi đền càng tăng vẻ cao quí với những phù điêu khéo léo tạc cảnh gieo hạt và gặt lúa. Khuôn cửa sổ được bảo vệ bằng những vòng gỗ xếp đặt khéo léo thành những hình thánh giá coi rất lạ mắt. Tại vị trí trung tâm tòa Tam Thánh uy nghi với bức rèm chạm thông phong tinh xảo sơn son thiếp vàng lộng lẫy làm nổi bật tượng ba vị thánh với nét điêu khắc sắc sảo lạ thường. Toàn thể nội thất ngôi đền được ghép gỗ tạo nên một bầu khí ấm cúng và thâm trầm giúp người cầu nguyện dễ lắng đọng tâm hồn.
Tinh tế trong nội dung ý nghĩa. Khách hành hương càng thấm thía khi khám phá ra những ý nghĩa giấu ẩn trong các công trình điêu khắc. Không có gì dư thừa. Tất cả đều được chắt lọc. Tất cả đều có chủ đích chuyên chở những ý nghĩa phát nguồn từ Kinh Thánh, truyền thống hoặc lịch sử.
Những chiếc chum tưởng như những vật trang trí ngẫu nhiên thực ra gợi nhớ đến tích truyện bà Nhiêu Côn giấu Đức cha Sampedro Xuyên khi ngài bị quân lính lùng bắt. Hình sợi dây thừng được khéo léo khắc trên đầu cột ám chỉ dụng cụ hành hình ba vị thánh.
Ai bước đi trên nền đá vững chãi của ngôi đền đều liên tưởng đến Lời Chúa dạy: “Ai nghe nhöõng lôøi Thaày daïy maø ñem ra thöïc haønh, thì Thaày seõ chæ cho anh em bieát ngöôøi aáy ví ñöôïc nhö ai. Ngöôøi aáy ví ñöôïc nhö moät ngöôøi khi xaây nhaø, ñaõ cuoác, ñaõ ñaøo saâu vaø ñaët neàn moùng treân ñaù. Nöôùc luït daâng leân, doøng soâng coù uøa vaøo nhaø, thì cuõng khoâng lay chuyeån noåi, vì nhaø ñaõ xaây vöõng chaéc” (Lc 6, 47-48). Cuộc đời ba vị thánh đã vững chắc vì sống theo Lời Chúa cho đến tận cùng.
Chiêm ngắm hai cánh cửa khắc cảnh gieo hạt và gặt lúa, tự nhiên lòng trí ta hướng về những câu Thánh vịnh:
"Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo;
lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng". (Tv 126, 5-6)
Cuộc đời các vị thánh đã gieo trong gian nan vất vả, trong cả máu và nước mắt nay đang hưởng mùa gặt hạnh phúc hân hoan trong Nước Trời…
Cảnh thiên nhiên xinh tươi. Bầu không khí trong lành. Kiến trúc đi vào lòng người. Gương tiết liệt kiên trung của các vị thánh trong cùng một gia đình. Và nhất là bầu khí cầu nguyện nâng tâm hồn người lên tới Thiên Chúa. Tất cả tạo cho Đền Tam Thánh một vẻ cuốn hút khiến khách hành hương tuôn đến không quản ngại đường xa. Đến nơi mọi người có thể tham dự những giờ chầu Thánh Thể do các gia đình trong giáo xứ phụ trách. Có thể chiêm ngắm ngôi đền trong tổng thể. Có thể phân tích từng đường nét điêu khắc trên cửa, trên tường. Và có thể đơn sơ ngồi bên hồ nước thưởng thức làn gió mát như được lọc qua rặng cây xanh và dòng nước trong lành.
Còn tiếp…