Nói chuyện lịch sử với Giáo Sư Trần Văn Cảnh
« Giáo Sư Trần Văn Cảnh được Viện Đại Học ĐÀ LẠT cử đi tu nghiệp tại Pháp từ năm 1973. Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục, hiện nay ông là Giáo Sư Kinh tế, Phương pháp luận và Quản trị cho các lớp Kỹ Sư và Thạc Sỹ tại trường kỹ sư ECOTEC Paris. Là một người yêu thích lịch sử, ông đã đọc, dịch thuật, khảo cứu và viết nhiều về sử Việt, sử Giáo Hội. Là thành viên sáng lập và cộng tác viên của báo Giáo Xứ Việt Nam Paris từ hơn 30 năm qua trong các lãnh vực văn hoá, giáo dục, thần học, triết lý...ông là một người kitô hữu yêu mến Giáo Hội và luôn sẵn sàng phục vụ Chuá và Giáo Hội với tất cả khả năng và lòng tin cuả mình. (Trích lời giới thiệu cuả cha Hà Quang Minh, cựu Tổng Tuyên Úy)
Thứ bẩy 03/07. Khí trời oi bức, nhiệt độ lên đến 35 ° C, không khí ngột ngạt khó chịu trong lòng nhà thờ dưới hầm. Thế mà vẫn có khoảng gần 400 người ngồi nghe thuyết trình về Giáo Hội Việt Nam. Thực vậy, sau thánh lễ khai mạc đại hội năm thánh buổi sáng và bữa ăn trưa, chúng tôi lần lượt trở xuống nhà thờ để nghe Giáo Sư Trần Văn Cảnh. Đồng hồ chỉ 14 g 30. Cha Hà Quang Minh bắt đầu giới thiệu thuyết trính viên với cử toạ.Giáo dân tại vùng Paris và các độc giả báo Giáo Xứ đã quá quen thuộc với Giáo Sư Trần Văn Cảnh, người đã cộng tác thường xuyên với toà soạn từ hơn 30 năm qua trong nhiều tiết mục. Đề tài được Giáo Sư chọn lựa cho hôm nay là: Thoáng nhìn lịch sử Giáo Hội Việt Nam và lịch sử các cộng đoàn công giáo Việt Nam tại Pháp. Đúng vậy, với 1giờ 30 phút ngắn ngủi, chúng ta chỉ có thể thoáng nhìn 350 năm hành trình đức tin của Giáo Hội Việt Nam. Cái nhìn hiệp thông với quê hương dân tộc, với những anh chị em kitô hữu đang sống tại quê nhà. Mục đích của bài nói chuyện rất đơn giản nhưng lại đầy ý nghiã. Chúng ta tìm lại những bến bờ lịch sử để nhận biết nguồn gốc mình là ai, đến từ đâu. Chúng ta đọc lại lịch sử để ý thức rõ ràng hơn thực tại cuộc sống hôm nay cuả Giáo Hội Việt Nam.Và cuối cùng, chúng ta viếng thăm lịch sử để « ôn cố tri tân », tìm định hướng cho tương lai, một tương lai trong hoàn cảnh sống nơi xứ người.
Với phương tiện vi tính chiếu hình trên 3 màn ảnh, Giáo Sư Cảnh lần lượt trình bầy 3 thời kỳ chính cuả lịch sử Giáo Hội Việt Nam:
- Thời Bảo Trợ ( 1533-1659): Hạt giống đức tin được gieo vãi trên cánh đồng truyền giáo Việt Nam do các vị thừa sai đến từ Âu Châu. Chỉ trong 126 năm, 120.000 người đã được rửa tội. Tính ra gần 1000 người mỗi năm. Con số cho thấy căn tính người Việt Nam đón nhận Tin Mừng mau chóng và dễ dàng. Chữ quốc ngữ khai sinh trong thới kỳ này đã tô điểm văn hóa dân tộc Việt thêm phong phú, đa dạng.
- Thời kỳ Tông Toà ( 1659-1960): Trong 301 năm, nhiều biến cố sôi động đã xẩy ra từ ngoài vào trong. Bên ngoài, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII, do sắc lệnh thiết lập hai giáo phận tông toà ngày 9/9/1659 và sự bổ nhiệm hai Giám Mục thuộc hội Thừa Sai Paris, đã đánh dấu một thay đổi lớn có tầm vóc quốc tế trong tương quan giữa Toà Thánh và hai nước độc quyền cộng tác truyền giáo là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Có thể nói nôm na rằng Vatican đã lấy lại chủ quyền trong trách nhiệm mục tử, phân biệt rõ ràng ranh giới giữa chính trị và đạo giáo. Bên trong, các cuộc bách hại đức tin liên tục dưới nhiều triều đại đã làm đổ máu hơn 130.000 tín hữu. Nhưng cũng chính nhờ những chứng tá đức tin vững vàng và trung kiên này mà Giáo Hội Việt Nam phát triển phong phú, cánh đồng truyền giáo lan rộng với hàng ngàn linh mục, tu sĩ, chủng sinh, hàng triệu tín hữu. Giáo Hội Việt Nam đã thật sự trưởng thành với lòng tin, đức mến, với trách nhiệm cai quản Dân Chúa trong mọi lãnh vực giáo dục, đào tạo, tổ chức, ngoại giao, văn hóa.
- Thời kỳ Chính Toà ( 1960 - ): Năm 1960 đánh dấu việc thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Có thể nói, đây là một biến cố cho Giáo Hội điạ phương nói chung và cho GHVN nói riêng. Biến cố này nói lên sự tin tưởng và hợp tác chặt chẽ giữa Giáo Hoàng và các Giám Mục trên thế giới. Tiếng nói cuả GHVN giờ đây có tầm vóc, có uy tín, có giá trị quốc gia và quốc tế.
Sau cái nhìn « thoáng qua » về lịch sử GHVN, Giáo Sư Cảnh trình bầy một số những dữ kiện chính yếu trong tiến trình thành lập các cộng đoàn công giáo Việt nam trên đất Pháp.
Dấu chân người Việt nam đầu tiên trên đất Pháp được xác định vào năm « 1784 và năm 1863 trong hai sứ bộ quốc gia, đại diện cho chính quyền Viêt nam ». Tiếp theo là thời kỳ đệ nhất và đệ nhị thế chiến với những người lính thợ sang phục vụ mẫu quốc. Sau đó là sự hiện diện của các sinh viên du học và của những người Pháp gốc Việt trở về Pháp. Nhưng sự di dân quan trọng nhất là những năm sau biến cố 30/4/1975. Đồng bào tỵ nạn chính trị càng ngày càng đông, lôi cuốn sự quan tâm cuả giáo quyền điạ phương. Năm 1977, Tuyên úy đoàn được thành lập chính thức với sự bổ nhiệm cha Samuel Trương Đình Hoè làm Đại Diện các cộng đoàn công giáo Việt nam bên cạnh Hội Đồng Giám Mục Pháp. Theo thống kê lúc đó có 17 cộng đoàn lớn nhỏ được thành lập và có tuyên úy chăm sóc. Mục vụ trong thời gian này đặc biệt quan tâm đến đời sống xã hội cuả người Việt nam mới đến định cư.
Số cộng đoàn gia tăng với thời gian và cơ cấu Tuyên Úy đoàn cũng được mở rộng với Ban Điều Hành Trung Ương, Ban Mục Vụ Giới Trưởng Thành và Ban Mục Vụ Giới Trẻ. Hiện nay sau hơn ba mươi năm sinh hoạt, tổng kết có cả thẩy 52 cộng đoàn lớn nhỏ, trong đó có một số các cộng đoàn đã ngưng hoạt động vì nhiều gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống.
Các Tuyên Úy hợp tác với nhau trong các công tác mục vụ toàn quốc như hành hương, đại hội, các khoá huấn luyện. Mỗi năm các linh mục, tu sĩ tuyên úy hội thảo năm ngày vào đầu tháng 10 để tổ chức công tác mục vụ trong năm. Chiều hướng mục vụ từ nhiều năm nay được quy định trong hai sứ vụ: Hợp tác vào những sinh hoạt mục vụ cuả cộng đồng Việt nam, đồng thời tham dự vào nếp sống tôn giáo địa phương với các giáo xứ Pháp.
2. Cuộc nói chuyện với Giáo Sư Cảnh đã được tiếp nối với phần thảo luận. Nhiều câu hỏi đã được các tham dự viên nêu ra liên hệ đến sự phát triển và trưỏng thành của Giáo Hội Việt Nam và của Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp, trong đó năm câu hỏi sau đây, với những trả lời có dữ liệu lịch sử của Giáo Sư Cảnh, đã gây sự hào hứng và chú ý của cộng đoàn:
• Đức Cha Bá Đa Lộc đã giúp Nguyễn Ánh lấy lại cơ đồ: tại sao một Giám Mục lại có thể làm chính trị ?
• Người công giáo có thể bị gán cho là cộng tác với người Pháp để cho họ chiếm Việt Nam ?
• Tại sao vua Gia Long không cấm đạo mà các vua nhà Nguyễn sau lại cấm đạo ?
• Từ sau cuộc bách hại thời các vua nhà Nguyễn đến nay, sao không thấy có danh sách những người đã bị tù đầy, bị chết vì đức tin ?
• Làm thế nào để lôi cuốn giới trẻ hiện nay đi tu ?
3. Trong bài viết này, chúng tôi không trình bầy cặn kẽ các câu trả lời cuả Giáo Sư Trần Văn Cảnh và các cha. Tuy nhiên, từ những câu hỏi đó, chúng tôi xin nêu lên một vài ý nghĩ cá nhân: Những câu hỏi trên gợi ra ba câu hỏi cho mỗi người công giáo Việt nam trong việc tìm định hướng cho tương lai, một tương lai trong hoàn cảnh sống nơi xứ người.
- Chứng từ đức tin cuả mỗi người chúng ta trong hoàn cảnh sống hiện nay như thế nào đối với gương sáng cuả tiền nhân ?
- Đối với chúng ta là những Kitô hữu, đâu là quan hệ giữa niềm tin vào Chúa Kitô và vai trò cuả người tín hữu trong xã hội ?
- Trách nhiệm tông đồ của những người đã nhận lãnh bí tích rửa tội đối với sứ mệnh truyền giáo hiện nay như thế nào ?
Cuộc nói chuyện với Giáo Sư Trần Văn Cảnh kết thúc lúc 16 giờ, nhường thời gian và khán đài cho chương trình Diễn Nguyện Thánh Ca có chủ đề là « Mến Ơi »
![]() |
Thứ bẩy 03/07. Khí trời oi bức, nhiệt độ lên đến 35 ° C, không khí ngột ngạt khó chịu trong lòng nhà thờ dưới hầm. Thế mà vẫn có khoảng gần 400 người ngồi nghe thuyết trình về Giáo Hội Việt Nam. Thực vậy, sau thánh lễ khai mạc đại hội năm thánh buổi sáng và bữa ăn trưa, chúng tôi lần lượt trở xuống nhà thờ để nghe Giáo Sư Trần Văn Cảnh. Đồng hồ chỉ 14 g 30. Cha Hà Quang Minh bắt đầu giới thiệu thuyết trính viên với cử toạ.Giáo dân tại vùng Paris và các độc giả báo Giáo Xứ đã quá quen thuộc với Giáo Sư Trần Văn Cảnh, người đã cộng tác thường xuyên với toà soạn từ hơn 30 năm qua trong nhiều tiết mục. Đề tài được Giáo Sư chọn lựa cho hôm nay là: Thoáng nhìn lịch sử Giáo Hội Việt Nam và lịch sử các cộng đoàn công giáo Việt Nam tại Pháp. Đúng vậy, với 1giờ 30 phút ngắn ngủi, chúng ta chỉ có thể thoáng nhìn 350 năm hành trình đức tin của Giáo Hội Việt Nam. Cái nhìn hiệp thông với quê hương dân tộc, với những anh chị em kitô hữu đang sống tại quê nhà. Mục đích của bài nói chuyện rất đơn giản nhưng lại đầy ý nghiã. Chúng ta tìm lại những bến bờ lịch sử để nhận biết nguồn gốc mình là ai, đến từ đâu. Chúng ta đọc lại lịch sử để ý thức rõ ràng hơn thực tại cuộc sống hôm nay cuả Giáo Hội Việt Nam.Và cuối cùng, chúng ta viếng thăm lịch sử để « ôn cố tri tân », tìm định hướng cho tương lai, một tương lai trong hoàn cảnh sống nơi xứ người.
Với phương tiện vi tính chiếu hình trên 3 màn ảnh, Giáo Sư Cảnh lần lượt trình bầy 3 thời kỳ chính cuả lịch sử Giáo Hội Việt Nam:
- Thời Bảo Trợ ( 1533-1659): Hạt giống đức tin được gieo vãi trên cánh đồng truyền giáo Việt Nam do các vị thừa sai đến từ Âu Châu. Chỉ trong 126 năm, 120.000 người đã được rửa tội. Tính ra gần 1000 người mỗi năm. Con số cho thấy căn tính người Việt Nam đón nhận Tin Mừng mau chóng và dễ dàng. Chữ quốc ngữ khai sinh trong thới kỳ này đã tô điểm văn hóa dân tộc Việt thêm phong phú, đa dạng.
- Thời kỳ Tông Toà ( 1659-1960): Trong 301 năm, nhiều biến cố sôi động đã xẩy ra từ ngoài vào trong. Bên ngoài, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII, do sắc lệnh thiết lập hai giáo phận tông toà ngày 9/9/1659 và sự bổ nhiệm hai Giám Mục thuộc hội Thừa Sai Paris, đã đánh dấu một thay đổi lớn có tầm vóc quốc tế trong tương quan giữa Toà Thánh và hai nước độc quyền cộng tác truyền giáo là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Có thể nói nôm na rằng Vatican đã lấy lại chủ quyền trong trách nhiệm mục tử, phân biệt rõ ràng ranh giới giữa chính trị và đạo giáo. Bên trong, các cuộc bách hại đức tin liên tục dưới nhiều triều đại đã làm đổ máu hơn 130.000 tín hữu. Nhưng cũng chính nhờ những chứng tá đức tin vững vàng và trung kiên này mà Giáo Hội Việt Nam phát triển phong phú, cánh đồng truyền giáo lan rộng với hàng ngàn linh mục, tu sĩ, chủng sinh, hàng triệu tín hữu. Giáo Hội Việt Nam đã thật sự trưởng thành với lòng tin, đức mến, với trách nhiệm cai quản Dân Chúa trong mọi lãnh vực giáo dục, đào tạo, tổ chức, ngoại giao, văn hóa.
- Thời kỳ Chính Toà ( 1960 - ): Năm 1960 đánh dấu việc thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Có thể nói, đây là một biến cố cho Giáo Hội điạ phương nói chung và cho GHVN nói riêng. Biến cố này nói lên sự tin tưởng và hợp tác chặt chẽ giữa Giáo Hoàng và các Giám Mục trên thế giới. Tiếng nói cuả GHVN giờ đây có tầm vóc, có uy tín, có giá trị quốc gia và quốc tế.
Sau cái nhìn « thoáng qua » về lịch sử GHVN, Giáo Sư Cảnh trình bầy một số những dữ kiện chính yếu trong tiến trình thành lập các cộng đoàn công giáo Việt nam trên đất Pháp.
Dấu chân người Việt nam đầu tiên trên đất Pháp được xác định vào năm « 1784 và năm 1863 trong hai sứ bộ quốc gia, đại diện cho chính quyền Viêt nam ». Tiếp theo là thời kỳ đệ nhất và đệ nhị thế chiến với những người lính thợ sang phục vụ mẫu quốc. Sau đó là sự hiện diện của các sinh viên du học và của những người Pháp gốc Việt trở về Pháp. Nhưng sự di dân quan trọng nhất là những năm sau biến cố 30/4/1975. Đồng bào tỵ nạn chính trị càng ngày càng đông, lôi cuốn sự quan tâm cuả giáo quyền điạ phương. Năm 1977, Tuyên úy đoàn được thành lập chính thức với sự bổ nhiệm cha Samuel Trương Đình Hoè làm Đại Diện các cộng đoàn công giáo Việt nam bên cạnh Hội Đồng Giám Mục Pháp. Theo thống kê lúc đó có 17 cộng đoàn lớn nhỏ được thành lập và có tuyên úy chăm sóc. Mục vụ trong thời gian này đặc biệt quan tâm đến đời sống xã hội cuả người Việt nam mới đến định cư.
Số cộng đoàn gia tăng với thời gian và cơ cấu Tuyên Úy đoàn cũng được mở rộng với Ban Điều Hành Trung Ương, Ban Mục Vụ Giới Trưởng Thành và Ban Mục Vụ Giới Trẻ. Hiện nay sau hơn ba mươi năm sinh hoạt, tổng kết có cả thẩy 52 cộng đoàn lớn nhỏ, trong đó có một số các cộng đoàn đã ngưng hoạt động vì nhiều gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống.
Các Tuyên Úy hợp tác với nhau trong các công tác mục vụ toàn quốc như hành hương, đại hội, các khoá huấn luyện. Mỗi năm các linh mục, tu sĩ tuyên úy hội thảo năm ngày vào đầu tháng 10 để tổ chức công tác mục vụ trong năm. Chiều hướng mục vụ từ nhiều năm nay được quy định trong hai sứ vụ: Hợp tác vào những sinh hoạt mục vụ cuả cộng đồng Việt nam, đồng thời tham dự vào nếp sống tôn giáo địa phương với các giáo xứ Pháp.
![]() |
• Đức Cha Bá Đa Lộc đã giúp Nguyễn Ánh lấy lại cơ đồ: tại sao một Giám Mục lại có thể làm chính trị ?
• Người công giáo có thể bị gán cho là cộng tác với người Pháp để cho họ chiếm Việt Nam ?
• Tại sao vua Gia Long không cấm đạo mà các vua nhà Nguyễn sau lại cấm đạo ?
• Từ sau cuộc bách hại thời các vua nhà Nguyễn đến nay, sao không thấy có danh sách những người đã bị tù đầy, bị chết vì đức tin ?
• Làm thế nào để lôi cuốn giới trẻ hiện nay đi tu ?
3. Trong bài viết này, chúng tôi không trình bầy cặn kẽ các câu trả lời cuả Giáo Sư Trần Văn Cảnh và các cha. Tuy nhiên, từ những câu hỏi đó, chúng tôi xin nêu lên một vài ý nghĩ cá nhân: Những câu hỏi trên gợi ra ba câu hỏi cho mỗi người công giáo Việt nam trong việc tìm định hướng cho tương lai, một tương lai trong hoàn cảnh sống nơi xứ người.
- Chứng từ đức tin cuả mỗi người chúng ta trong hoàn cảnh sống hiện nay như thế nào đối với gương sáng cuả tiền nhân ?
- Đối với chúng ta là những Kitô hữu, đâu là quan hệ giữa niềm tin vào Chúa Kitô và vai trò cuả người tín hữu trong xã hội ?
- Trách nhiệm tông đồ của những người đã nhận lãnh bí tích rửa tội đối với sứ mệnh truyền giáo hiện nay như thế nào ?
Cuộc nói chuyện với Giáo Sư Trần Văn Cảnh kết thúc lúc 16 giờ, nhường thời gian và khán đài cho chương trình Diễn Nguyện Thánh Ca có chủ đề là « Mến Ơi »

