Cảm Nhận Dự Lễ Tấn Phong ĐGM Giáo Phận Vinh.

Đức Tân Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp là vị chủ chăn thứ 11 và là vị Giám Mục người Việt Nam thứ 6 của Giáo Phận Vinh. Ngài là Giám mục thứ 103 của Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Tôi được vinh dự được tham dự lễ tấn phong Giám Mục của ngài vào ngày 23.7.2010 tại quãng trường TGM Xã Đoài.

Xem hình lễ tấn phong GM Vinh

Đại lễ thật hoành tráng và sốt mến. Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên chủ sự thánh lễ. Hai Giám Mục phụ phong là Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc và Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương. Đức Hồng Y GB. Phạm Minh Mẫn, Tổng giáo phận Sài gòn; Đức Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giáo phận Hà Nội - Chủ tịch HĐGM; Đức Tổng Giám Mục Stêphanô Nguyễn Như Thể, Tổng Giáo phận Huế; 25 Đức Giám Mục; Đức Đan viện phụ Stêphanô Huỳnh Quang Sanh, quý Cha Tổng Đại diện, quý Đức Ông, quý cha Giám đốc các ĐCV, quý Cha Giám tỉnh, quý Bề trên các hội dòng; hơn 400 linh mục; đông đảo các chủng sinh, nam nữ tu sỹ, một số giáo sư của các viện Nghiên cứu, các trường Đại học và đặc biệt hơn 50 ngàn giáo dân Giáo phận Vinh. Tất cả làm nên hình ảnh của GHCGVN mầu nhiệm hiệp thông tuyệt đẹp.

Trời dịu mát, mây vờn che nắng, gió nhẹ thoảng góp phần làm nên thánh lễ trang nghiêm hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ. Lễ vừa xong thì trời đổ mưa nặng hạt. Như một hồng ân đặc biệt Chúa ban cho giáo phận. Cơn bão số 1 rồi số 2 đi qua, những ngày mưa to gió lớn khắp các tỉnh miền Trung. Ngày 22.7, trời quang mây tạnh. Đêm diễn nguyện và thánh lễ, Chúa thương cho không khí dịu mát, trời trong mây cao. Như một phép lạ, một ân ban của tình thương Chúa.

Cảm động nhất là hình ảnh vị tiền nhiệm, Đức Cha già Phaolô Maria Cao Đình Thuyên 84 tuổi chủ phong cho người hiền đệ mà ngài đã tiến cử. Vị Giám mục “trên từng cây số” với tuổi đời đã cao đang tiến tới tuổi “Cửu thập như nhân tiên”, mái tróc trắng xóa nhưng trông ngài thật hồng hào khỏe mạnh và nhanh nhẹn, giọng nói to rõ. Vị Mục Tử cao niên đã từng mạnh mẽ hiệp thông với các biến cố trong Giáo hội Việt Nam thời gian qua vì Công Lý Sự thật Hòa bình.

Tôi với cha Nguyễn Thiên Cung, cha Võ Tá Khánh ở lại Đại Chủng Viện Vinh Thanh mấy ngày. Cha Bề Trên Chủng Viện JB Nguyễn Khắc Bá và quý cha giáo sư đã rất tận tình giới thiệu và đưa đi thăm một số giáo xứ, các đền thánh hành hương.

Giáo phận Vinh trải dài trên địa bàn rộng lớn 30.783km2 của 3 tỉnh miền Trung. Nghệ An 16.692km2, Hà Tĩnh 6.054km2 và Quảng Bình 8.037km2. Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam tỉnh Quảng Trị, phía Đông là biển Đông, phía Tây giáp nước Lào.

Giáo phận có khoảng 500.000 giáo dân, giàu truyền thống với 400 năm lịch sử, hạt giống Tin Mừng được gieo trồng nơi đây qua 165 năm Thành lập Giáo phận.

Giáo phận có 19 hạt, 166 giáo xứ và 190 linh mục, nổi tiếng mạnh mẽ, kiên cường trong miền đất Nghệ – Tĩnh – Bình.

Bước đầu hành trình mới, Đức Tân Giám mục Phaolô sẽ dẫn dắt giáo phận đi lên theo nguyện vọng của nửa triệu giáo dân GP Vinh như lời ngài đã tuyên bố: “Xin cho tôi được thực hiện ước nguyện thâm sâu, là được đồng sinh đồng tử với anh chị em trên mảnh đất quê hương này”. Mãnh đất quê hương yêu dấu như ngài đã tâm sự trong tác phẩm “Việt nam yêu dấu, quê hương và Giáo hội”.

Ông cụ thân sinh của tôi ngày xưa thuộc giai cấp địa chủ, bị đấu tố và bị tử hình trong phát động giảm tô vào những năm 1951-1953. Ruộng vườn, nhà cửa và của cải của gia đình đều bị tịch thu. Bây giờ, bỗng dưng người con út của lão địa chủ đó lại từ ngoại quốc trở về thăm quê. Hơn nữa, tôi lại là một linh mục... chắc chắn có âm mưu hay sứ mệnh gì đây(?). Phải cẩn mật đề phòng! Phải chăng đó là một trong những dư âm của cái thời mà, theo lối nói của nhà thơ Nguyễn Duy:

Hấp ha hấp hoảng kêu ma

Hóa ra ta thấy bóng ta trên tường.


Trong câu chuyện hàng ngày sau này, tại miền Nam, một đôi khi thân mẫu tôi cũng nhắc lại cảnh tố khổ, tra tấn máu me của giai đoạn đó. Bên cạnh những kỷ niệm buồn như để diễn tả cảnh hãi hùng của giai đoạn đen tối đó, người tinh ý sẽ nhận ra vẻ tự hào và khoe khoang của bà cụ về gia tài, ruộng đất: Bà nội giàu nhất, nhì trong vùng với gần 30 mẫu ruộng, ông thân sinh tôi có gần 20 mẫu, tiếp theo là các chú ruột và các bác họ...

Lớn lên trong miền Nam, có dịp nhìn những cánh đồng cò bay thẳng cánh, tôi bắt đầu ngờ ngợ về cái “vỏ địa chủ” của gia đình mình. Khi ra ngoại quốc, được tham quan những trang trại bao la bát ngát ở Mỹ châu Latin, ở Hoa Kỳ và Canada... tôi càng cảm thấy ngậm ngùi chua xót cho bao nhiêu người đã chết oan vì mấy mẫu ruộng. Lần đầu tiên trở về làng, đứng nhìn mấy cánh đồng chật hẹp và chẳng lấy gì làm phì nhiêu nơi quê cha đất tổ, càng ngậm ngùi và xót xa hơn…

Hồi tưởng lại thời giảm tô... Thân phụ tôi bị giam và đang chờ ngày lên đoạn đầu đài. Thân mẫu cũng bị đấu tố, vật vờ nửa sống nửa chết. Người chị cả đã kết hôn và sống ở xã bên cạnh, nhưng gia đình của chị cũng đang khốn đốn vì cuộc giảm tô đó. Hai người anh, một người bị bắt, một người khác đã trốn vô Nam. Hai người chị vị thành niên, nhìn cảnh nhà tan cửa nát, chẳng còn tha thiết gì nữa, chỉ biết khóc... Tôi, đứa con trai út, phải bỏ học, lang thang thất thểu, nhịn đói mấy ngày liền. Một vài người thấy tình cảnh cũng xót thương, nhưng lại sợ cán bộ nên không dám chứa chấp. Cũng may nhờ sự bao bọc của vài thân nhân và thái độ can đảm của một người gia nhân cũ, mà trong Cải cách ruộng đất được liệt vào giai cấp ưu đãi, nên cuối cùng cũng tai qua nạn khỏi…

Trong ngày vui hội ngộ bỗng dưng quá khứ bừng sống lại. Mặc dù chẳng còn oán hận gì, nhưng làm sao vẫn cảm thấy cái gì mằn mặn trong miệng. Đứng giữa mảnh đất quê hương mà dường như đang đứng chênh vênh, không đúng chỗ, trên một vách đá nào đó. Trong khi đó, lại mơ hồ tiếc nuối những tháng ngày tự do leo trèo, hái sim, bắt bướm... Đôi khi còn cảm thấy vui vui khi cùng bạn bè nhắc lại những kỷ niệm buồn của tuổi thơ kém may mắn. Tế Hanh đã diễn tả sâu sắc cái mâu thuẫn tinh tế này:

Những ngày buồn nghĩ đến thấy vui vui

Những ngày vui sao lại thấy bùi ngùi.


Từ giã quê hương, tôi mang theo hài cốt của thân phụ, vượt qua Bến Thủy. Thuở thiếu thời, một đôi lần đã đi đò qua khúc sông này để thăm người cô lấy chồng bên Gia Hòa, Nghi Xuân. Bây giờ từ trên cầu nhìn nước sông Lam cuồn cuộn chảy ra biển, bâng khuâng suy nghĩ mông lung. Từ đó đến nay bao nhiêu nước đã chảy qua cầu? Bao nhiêu cuộc chia tay và bao cảnh dở khóc dở cười? Bao nhiêu cái tưởng chừng đã mất, mà hóa ra lại được, đã thắng mà rút cuộc lại là thua! Chợt liên tưởng đến câu hò xứ Nghệ:

Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục

Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh?


Chính vì vậy, dù sống nơi phương trời xa lạ và trong cuộc sống thực tế rất nhiều lần chỉ còn nối kết với quê hương bằng “dây tơ tình mỏng mảnh”, nhưng lòng vẫn luôn khắc khoải trước vận nước nổi trôi. Nếu được phép ước mơ thì mong sao người Việt sớm xóa bỏ hận thù, đất nước mau phát triển, vùng nông thôn bớt nghèo đói và giới trẻ, nhất là đám trẻ bị bỏ rơi, có một tương lai sáng sủa hơn…

Tôi rời Nghệ An, nơi quê cha đất tổ vào năm 1954, lúc lên 9 tuổi, để di cư vào miền Nam. Hơn ba mươi ba năm sau, khi từ Mỹ châu Latin trở lại thăm gia đình ở thành phố HCM, tôi cùng thân mẫu trở về thăm quê cha đất tổ. Mặc dù thời đó đất nước đã bước sang giai đoạn “Đổi mới”, nhưng xứ Nghệ, quê tôi, vào năm 1987, phương tiện giao thông còn rất hạn chế. Đặc biệt, về mặt chính trị, vẫn còn giữ vững lề lối bao cấp, “bảo hoàng hơn vua”. Từ thành phố Vinh, chúng tôi phải thuê xe ngựa về làng. Đến đầu làng lúc trời nhá nhem tối. Nhìn cảnh nghèo của quê hương, tôi tự nhiên cảm thấy lòng mình như chùng xuống. Cảnh cũ người xưa đã đổi khác, tiều tụy và xuống cấp thê thảm. Đi bao nhiêu ngàn cây số để trở về thăm cố hương, nhưng lúc ấy hầu như tôi chẳng còn nhận diện được gì. Những hình ảnh của một quê hương... hằng ôm ấp trong tâm trí suốt bao nhiêu năm trường, bây giờ chẳng còn phù hợp, chẳng có dính dáng gì với thực tế sờ sờ trước mắt. Khác với Sài Gòn, ở quê tôi, “bộ mặt hình sự” vẫn đè nặng trên cuộc sống. Ngay sáng hôm sau, tôi được mời lên làm việc tại văn phòng xã. Chính quyền địa phương tiếp đãi nhã nhặn, như chào đón một người con từ phương xa về lại mái nhà xưa, nhưng đồng thời cũng không kém quyết liệt. Họ yêu cầu tôi đừng ra khỏi ngôi nhà hiện đang tạm trú, với một lý do rất ngộ nghĩnh: để bảo vệ an ninh cho bản thân tôi, vì tuy đất nước ta đã đánh thắng giặc Mỹ, nhưng vẫn còn một số phần tử xấu len lỏi trong xã hội. Những phần tử này có thể làm phương hại sinh mạng tôi và quân địch sẽ lợi dung cơ hội để bôi xấu chế độ. Nếu muốn đi đâu, nên cho xã biết để phái công an... tháp tùng.

Thế là đương nhiên... chúng tôi như bị giam lỏng. Chẳng có thể đi đâu hay đến thăm ai. Bù lại dân làng đã đích thân đến thăm chúng tôi. Trong nhà, ngoài sân chật ních người. Sau một đêm chập chờn vật vờ... nằm nghe tiếng côn trùng, tiếng chó sủa từ xa vọng về và tiếng thì thầm to nhỏ của vài người thân ở dưới bếp, ngày hôm sau một mình tôi lại xách gói ra đi. Chưa được nhìn mảnh đất quê hương như một du khách, nói chi tới niềm vui và nỗi xúc động của một người trở về cố quận sau 33 năm trời xa cách!

Suốt những chặng đường đời ngang dọc, tôi đã nhìn thấy rất nhiều cặp mắt buồn, nhưng ít thấy cặp mắt nào vừa buồn và vừa u uất hơn một vài cặp mắt hôm đó... nơi quê nhà. Có người lo ngại là tôi sẽ gặp nạn. Vài tiếng nấc bất chợt nổi lên, và rồi, như nước vỡ bờ, những tiếng khóc nghẹn ngào nối tiếp nhau.. . tưởng chừng như khóc người chết!

Mười năm sau (1997), tôi cùng với mấy người cháu nội trở về tham quan miền Bắc và nhân tiện ghé thăm quê hương. Thành phố Vinh đã được tái thiết. To lớn, khang trang và náo nhiệt hơn. Rút kinh nghiệm lần trước, chúng tôi thuê khách sạn trên thành phố. Ban ngày về thăm quê, nhưng ban đêm trở lại khách sạn.

Trái với nỗi e dè và lo ngại của chúng tôi, bộ mặt của quê hương đã thay đổi nhiều. Dễ chịu, cởi mở và bớt nghèo nàn hơn thời bao cấp. Chính quyền địa phương cũng tạo mọi điều kiện dễ dàng để tôi có thể dâng thánh lễ tại nhà nguyện nhỏ của họ đạo. Vài đại diện địa phương cũng hiện diện trong bữa cơm thân mật. Dưới ánh sáng vàng nhạt của mấy bóng điện khi chớp khi tắt, câu chuyện về quê hương, đất nước tiếp tục nổ ran. Ông cán bộ ngồi bên cạnh tôi có vài cử chỉ khá thân tình, đến độ mấy người cháu từ nước ngoài về cứ ngỡ chúng tôi là hai người bạn cố tri.

Sau phần cám ơn và từ giã mọi người, còn lại vài phút ít ỏi để nhìn trời và hít thở không khí của quê hương. Rất may hôm đó gặp ngày đẹp trời, trăng sao vằng vặc. Cố gắng tìm gặp lại những vì sao và vầng trăng thuở thiếu thời, hơn bốn mươi năm về trước. Trăng sao vẫn lung linh trên bầu trời quê hương, nhưng không biết tại sao cảm thấy lạnh lùng và xa lạ quá! Những người thân yêu nhất đã lần lượt vĩnh viễn ra đi hay hiện đang sống nơi chân trời góc biển xa xăm nào đó. Một mình đứng đây, sao cảm thấy lẻ loi và quá xa lạ... nơi chính quê cha đất tổ. Nhìn trăng quê hương đêm đó, tự nhiên nhớ đến mấy câu thơ của Hàn Mặc Tử:

Hôm nay có một nửa trăng thôi

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi

Ta nhớ mình xa thương đứt ruột

Gió làm nên tội buổi chia phôi.


Chúng tôi bỏ lại xứ Nghệ đàng sau lưng để xuôi về miền Nam. Đến Đèo Ngang vào lúc xế chiều. Đối diện với buổi chiều hiu quạnh vạn đại ở nơi đây, lòng buồn rười rượi. Cảnh tĩnh mà tâm động, với bao nỗi niềm u uẩn riêng tư, hồ dễ biết cùng ai chia sẻ.... Ngày xưa, bà Huyện Thanh Quan cũng đối diện với vẻ đẹp hoang sơ, bát ngát của Đèo Ngang vào một buổi chiều tà và đã diễn tả nỗi niềm cố quận tang thương qua mấy câu thơ bất hủ:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta!


Trong giai đoạn khốc liệt của cuộc chiến, đây là vùng đất bị oanh tạc tự do. Bao nhiêu tấn bom đạn, napalm, chất độc hóa học... người Mỹ đã thả xuống vùng đất khốn khổ này. Cây cối và cảnh vật vẫn in hằn dấu vết của chiến tranh, ảm đạm, tiêu điều, xơ xác, đúng như hai câu thơ của Cung oán:

Phong trần đến cả sơn khê

Tang thương đến cả cây kia cỏ này.


Cảnh vật mà còn như vậy, huống hồ con người! Hậu quả của bom đạn và nghèo đói còn hiện rõ trong cuộc sống và in hằn trên khuôn mặt của những em bé gầy guộc, đói rách, thất tha thất thểu đi sau mấy con bò còm cõi hay giơ những cánh tay khẳng khiu mời khách du lịch mua hàng. Nhìn khuôn mặt và mấy món hàng của các em, lòng tôi bỗng chùng xuống. Có lẽ chỉ ở một số nước Phi Châu hay tại một vài thành phố ở Ấn Độ mới nhìn thấy những cánh tay khẳng khiu, khuôn mặt hốc hác và u buồn như vậy.

Khi hình bóng của vùng đất “cày lên sỏi đá” dần dần mất hút xa mờ, tôi ngậm ngùi không biết đến bao giờ mới có dịp trở lại? Dù cũng chẳng biết có còn chút gì để lưu luyến, nhớ thương? Nhưng tôi biết chắc, những người Việt thuộc thế hệ và cùng tâm trạng với tôi, chẳng dễ gì có thể gắn bó với một nơi nào khác... như chính quê hương của mình. Mai đây, nơi phương trời xa xăm nào đó, khi năm cùng tháng tận hay vào những đêm trăng sáng... nơi xứ lạ quê người... rồi ra lại bồi hồi nhớ quê hương như Lý Bạch thưở nào:

Cử đầu kiến minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.


(Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Cúi mặt nhớ cố hương).

Sau mấy tháng hè, rồi cũng đến lúc phải ra đi. Thế mà, bao giờ cũng vậy, lòng lại thấy nao nao khi phải xa quê nhà, đất mẹ... Chính tình tự quê hương đó là nguyên nhân của những tản mạn này, vừa viết nơi đất khách, vừa viết tại quê hương từ giữa năm 1999 đến đầu năm 2000... Có thể coi đây như thao thức và trăn trở của một người Việt tha hương. Tất cả được gói trọn trong ước nguyện chân thành được đồng hành với đồng bào và với quê hương, dân tộc. Hay theo kiểu nói bóng bẩy của Xuân Diệu:

Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi

Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu.


Chính vì vậy, dù sống nơi phương trời xa lạ và trong cuộc sống thực tế rất nhiều lần chỉ còn nối kết với quê hương bằng “dây tơ tình mỏng mảnh”, nhưng lòng vẫn luôn khắc khoải trước vận nước nổi trôi. Nếu được phép ước mơ thì mong sao người Việt sớm xóa bỏ hận thù, đất nước mau phát triển, vùng nông thôn bớt nghèo đói và giới trẻ, nhất là đám trẻ bị bỏ rơi, có một tương lai sáng sủa hơn…

Trong bài trả lời phỏng vấn trang web: giaophanvinh.net, khi được hỏi: vào lúc này, Đức cha muốn chia sẻ điều gì với cộng đồng Dân Chúa tại Nghệ-Tĩnh-Bình?

ĐGM Phaolô đã trả lời: Một linh mục giáo phận Vinh đã diễn tả cái khắc nghiệt của Nghệ – Tĩnh- Bình như sau:

“Quê tôi gạt sỏi tìm cơm.

Hết mưa, thôi hạn lại cơn bão gần”.


Như một qui luật bù trừ của Tạo hóa, chính từ vùng đất khô cằn đó đã xuất phát nhiều con người tài năng, can trường, khí tiết và đầy cá tính. Hình như trong điều kiện thiên nhiên nghiệt ngã đó, con người chỉ có thể vươn lên nhờ năng lực của trí tuệ, sự kiên nhẫn và phấn đấu của bản thân.

Người ta đã kể quá nhiều giai thoại về cái ngang, bướng, bộc trực và kiên cường của người dân xứ Nghệ. Có người xếp dân Nghệ vào loại dân có “máu cách mạng”, gàn bát sách, hung hăng tiết vịt, liều lĩnh và đôi khi thích cầm đèn chạy trước ô tô. Rất tiếc phạm vi giới hạn của bài phỏng vấn không cho phép kể lại tất cả, chỉ xin trích dẫn một vài nhận định.

Sau một thời gian sống và giảng dạy tại Vinh, Gs. Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định về người Nghệ như sau: “Tôi cho rằng dân Nghệ Tĩnh sống quá khắc khổ và có một ý chí rất quyết liệt. Họ đã muốn gì thì phải tranh đoạt bằng được. Và quá tự hào, tự phụ về quê hương mình. Cãi nhau với người Nghệ Tĩnh là dại. Vì họ tự cho là đúng nhất, giỏi giang nhất và vì thế cãi đến cùng, lý sự đến cùng, căng thẳng, quyết liệt đến cùng, khiến đối phương mệt quá, đành phải bỏ cuộc. Dân Nghệ Tĩnh nói chung có tật hay khoe khoang. Khoe tài, khoe giỏi, khoe quê hương cái gì cũng nhất, từ chính trị đến văn hoá nghệ thuật. Ở đâu, trên xe lửa, trong ôtô bus, hay ở những cuộc gặp mặt đông người nào đó, tiếng Nghệ Tĩnh cứ oang oang như muốn lấn át tất cả”.

Gs. Hoàng Ngọc Hiến, gốc Nghệ Tĩnh và cũng có phong cách rất ư là “Nghệ”, đã nói về đồng hương của mình như sau: “Người Nghệ Tĩnh cái gì cũng biết, trừ hạnh phúc”.

Linh mục thừa sai Abgrall, quen gọi là Cố Đoài, từng giữ chức Cha Chính Giáo phận và cũng là một ứng viên sáng giá giám mục Đại diện Tông Tòa ở Vinh, sau nhiều năm truyền giáo tại vùng đất Nghệ-Tĩnh-Bình, đã đưa ra một nhận định thật sâu sắc: “Những người dân ở đây luôn đi đầu trong nổi loạn và đi sau cùng khi phải đầu hàng”. Nhiều người đã mỉm cười và gật gù đắc chí khi đọc nhận định này, vì trên tổng thể, nó vẫn còn đúng cho đến hôm nay.

Nhưng cũng chính nhờ cá tính và chí khí bất khuất đó mà người Nghệ-Tĩnh-Bình luôn kiên cường, hăng say dấn thân và dám đương đầu với những nghịch cảnh. Về mặt tôn giáo, Vinh là một giáo phận lớn, nhiều truyền thống, nhân lực dồi dào và tổ chức chặt chẽ. Có lẽ ít ở nơi nào người ta gặp thấy các tín hữu yêu mến Giáo Hội và gắn bó với các giám mục… như ở giáo phận Vinh. Những sinh viên Công giáo hăng say dấn thân nhất tại Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sàigòn… phải chăng cũng là nhóm sinh viên gốc Vinh? Giới trẻ gốc giáo phận Vinh cũng đang hiện diện đông đảo tại hầu hết các Dòng tu ở Việt Nam, đến độ nhiều người đã ví von: “Trời đất đầy Vinh..... quang Chúa”.

Nhân dịp Năm Thánh 2010 này, ước mong sao cộng đồng Dân Chúa tại Vinh biết cùng với Giáo Hội Việt Nam “ôn cố tri tân” để tích cực loan báo Tin Mừng. Thiết tưởng cũng nên nhìn lại chính mình để phát huy hơn nữa sở trường và cố gắng giảm thiểu khía cạnh tiêu cực. Đặc biệt, trong thời đại hôm nay làm sao gia tăng đối thoại, đa diện hơn trong cách nhìn và mềm dẻo hơn trong phê phán cũng như đường lối ứng xử.

Trong bài giảng lễ phong chức, Đức TGM Huế đã viết: Thật là một Giáo phận giàu truyền thống, đồng thời mang hơi thở của thời đại, một Giáo phận đang đi lên thấy rõ cả về số lượng, cả về chất lượng. Người tín hữu giáo dân Vinh được tiếng là những người con rất mực trung thành sắt son với Mẹ Giáo Hội, dù phải gánh chịu nhiều thiệt thòi, đau thương qua dòng lịch sử của mình.

Cuộc hành trình trong “Sự thật và Tình yêu” của Đức Tân Giám mục Giáo phận Vinh chính thức bắt đầu với tất cả tâm tình của ngài “tôi xin nhận chức vụ này để đồng hành với anh chị em và để tiếp nối con đường Ðức Cha già đã vạch ra, đang đi và chúng ta sẽ đi.“.