On gọi truyền giáo là một gọi hết sức đặc biệt. Ít người được ơn gọi này vì ơn gọi đó rất đòi hỏi. Cứ nhìn vào các nhà truyền giáo Âu châu sang giảng đạo ở nước ta trong những thế kỷ trước cũng đủ biết. Cuốn sách Dân làng Hồ là một bằng chứng. Ngày nay những ai được gọi và muốn theo đuổi ơn gọi này cũng phải đáp ứng đòi hỏi rất căn bản này là từ bỏ và lện đường.

Truyền giáo là từ được dùng để diễn tả chữ missio trong tiếng la-tinh. Missio là danh từ thuộc động từ mittere nghĩa là sai. Truyền giáo là công việc của người được sai đi để loan báo Tin Mừng và mở mang Hội thánh.

Truyền gíáo có hai mặt: một mặt bên trong và một mặt bên ngoài. Từ trước đến nay người ta thường chú ý đến măt bên ngoài nhiều hơn. Vì vậy mới có Hội Truyền Giáo hay Thừa Sai Hải Ngoại, như Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris (MEP). Nhưng ngày nay các nước Âu châu bỏ đạo nhiều, nên ở những nước đó, người ta lại thấy cần phải giảng đạo cho chính đồng bào của mình ở trong nước. Do đó mới có các tổ chức truyền giáo nội địa như Mission de France ở Pháp.

Ơn gọi truyền giáo cao đẹp nhưng khó khăn. Và đây là những khó khăn trở ngại có thể làm mờ nhạt vẻ đẹp và sự cao quí của ơn gọi đó.

1. Lòng dính bén

Những người đi tu trong các hội dòng đều có các lời khấn. Những lời khấn ấy tuy ràng buộc, nhưng lại có thể làm cho tu sĩ quảng đại dấn thân nhiều hơn cho lý tưởng. Tu sĩ nào cũng biết khấn là hứa với Chúa một điều mà mình có ý giữ, để mong đạt tới một sự thiện hoàn hảo hơn. Sự thiện đó là hoàn toàn thuộc về Chúa để chiếm hữu được Người. Và như vậy là được hưởng phúc thiên đàng ngay dưới thế. Đúng như vậy, nếu các tu sĩ giữ trọn lời cam kết với Chúa, vì khi giữ trọn lời hứa ấy, họ sẽ được tự do, được giải gỡ khỏi mọi nỗi vấn vương.

Nhưng đó mới chỉ là lý tưởng, còn trong thực tế, các tu sĩ luôn ở trong tình trạng phải vươn tới, chứ chưa đạt được. Vì vậy, họ phải luôn luôn phấn đấu để vươn tới tình trạng này. Chính vì nỗ lực vươn tới đó mà tu sĩ như luôn ở trong thế giằng co, căng thẳng, nghĩa là một đàng được thúc đẩy để đi lên, một đàng bị cám dỗ tụt xuống. Cái cớ thúc đẩy đi lên là ơn Chúa, còn cái đà tụt xúống là lòng dính bén sự đời. Sự đơi ở đây là danh vọng, tiền tài, vui thú. Người đi tu vẫn bị những thứ này cám dỗ. Bởi vậy, lòng vương vấn sự đời là một chướng ngại lớn cho mọi ơn gọi, đặc biệt ơn gọi truyền giáo, vì truyền giáo là được sai đi. Mà thường được sai đi những nơi cần thiết, những chỗ khó khăn, không mấy người muốn đến. Tự nhiên ai cũng như bị dính vào một nơi, một số công việc và một số người. Những nơi, những việc, những người làm cho tôi thích, vì tôi đã thành công ở đó, tôi thích những nơi, những người ấy, vì họ yêu thích và chiều đãi tôi. Vì thế, nhà truyền giáo lúc nào cũng phải đề phòng và giải gỡ mình cho khỏi mọi thứ vấn vương này.

Đối nghịch với lòng vấn vương là sự từ bỏ và tháo cởi. Từ bỏ những gì đi ngược với lý tưởng và tháo cởi những gì làm cho mình hoá ra nặng nề. Người mang nhẹ thì dễ đi và đi nhanh, còn người mang nặng nhiều thứ thì đi chậm và khó đi. Vậy hãy quẳng các mối vấn vương ra một bên bằng tinh thần từ bỏ, nhờ việc đọc kinh nguyện ngắm,xét mình và cầu nguyện mỗi ngày.

2. Mơ hồ về ơn gọi

Đi tu dòng nào thì phải chọn cho đúng mà đi, sao cho hợp với khả năng và ý thích của mình. Chẳng vậy sẽ cảm thấy chơi vơi và không thích hợp. Ơn gọi truyền giáo là một ơn hết sức đặc biệt như đã nói ở đầu bài. Không phải ai cũng vào dòng hay theo đuổi ơn gọi truyền giáo được, tuy là Ki-tô hữu ai cũng có bổn phận phải truyền giáo theo cách thức và tình trạng sinh sống của mình. Vậy phải xác định cho thật rõ ngay từ đầu và trong thời gian thụ huấn ơn gọi truyèn giáo là gì và tại sao lại vào tu hội truyền giáo. Đi tu là đi tìm Chúa để thấy Chúa rồi đem Chúa đến cho người khác. Còn tại sao vào tu trong tu hội truyền giáo. Thưa vì tôi thích đến và ở bên cạnh những người chưa biết Chúa, để tìm cách làm cho họ biết Người, hầu giúp họ được hưởng ơn cứu độ, vì ý Chúa muốn cho mọi người được sống và sống dồi dào, tức là được hưởng hạnh phúc thiên đàng.

Nếu không chọn đúng và ham thích ơn gọi của mình, tôi sẽ đi trệch đường. Mà trệch đường thì khó thành công và hạnh phúc. Cứ tưởng tượng một người thợ hành nghề. Anh phải thạo nghề và ưa thích nghề của mình thì mới có khách đặt hàng và làm ra tiền. Các tu sĩ cũng thế, nhưng không phải để làm ra tiền mà chính là để làm nên, làm hay ơn gọi mình đã chọn. Vì vậy phải yêu nghế và thạo nghề. Nghề này tạm gọi là nghề truyền giáo. Cho nên, tôi phải học kỹ cho biết nghề này và tập luyện cho lành nghề.

Thành ra, nếu mơ hồ về ơn gọi truyền giáo thì kể là tôi đi trệch đường rồi. Việc ý thức cho đúng đắn ơn gọi của mình là điều kiến thiết yếu của người đi tu. Ý thức đó đòi đương sự phải dấn thân và dứt khoát như Chúa dạy: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” (Lc 9,62) Ngoái lại đàng sau ở đây có nghĩa là lấp lửng, chần chừ, không quyết đáp.

3. Những khó khăn trong đời sống cộng đoàn

Đây cũng là một thứ trở ngại cho ơn gọi. Những người đi tu thường không biết nhau trước và không chọn nhau. Và dù có chọn nhau như vợ chồng đi nữa thì cũng không tránh khỏi những khó khăn trong đời sống chung. Sống chung mà không hợp nhau thì thật là buồn tẻ. Sự không hợp tính tình, đôi khi lại đối chọi nhau nữa dễ làm cho tu sĩ cảm thấy đó như là một cực hình. Phải chăng vì vậy sách Gương phúc mới có câu: “Đời sống chung là một sự hy sinh hãm mình lớn nhất.” (Maxima paenitentia vita communis est) Sự hy sinh đó là phải chịu đựng lẫn nhau: tính tình người này khác với người kia, ý thích của người này không hợp với người kia, rồi đôi khi lại có sự phân bì, tranh giành ảnh hưởng giữa người này với người kia nữa.

Ngoài những khó khăn giữa chiều ngang với nhau lại có những khó khăn theo chiều dọc, nghĩa là giữa bề trên với bề dưới: bề dưới không được bề trên thông cảm, nâng đỡ, có khi bị hiểu lầm; bề trên thấy bề dưới xem ra như coi thường quyền bính và không kính nể mình bao nhiêu. Vì thiếu thông cảm với nhau từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên, nên đời sống cộng đoàn trở nên khó khăn, bâu khí hoá ra ngột ngạt.

Những người đi tu không có gia đình hay đúng ra đã bỏ gia đình để đi tu. Gia đình của mình là nhà tu. Nếu nhà tu không phải là gia đình thì quả là điều bất hạnh. Tình trạng này là trở ngại cho ơn gọi và công cuộc truyền giáo, vì người ta không truyền giáo một mình mà đã kết hợp với nhau thành một hội dòng truyền giáo. Nhà truyền giáo cần phải được cộng đoàn nâng đỡ và yểm trợ. Nếu thiếu điểm tựa đó thì người ấy cũng khó cảm thấy phấn khởi đi loan báo Tin Mừng.

Kết luận

Trên đây là vài nét phác hoạ những trở ngại cho ơn gọi truyền giáo. Nhà truyền giáo nên nhìn vào những khó khăn đó để chuẩn bị đối phó. Một trong những cách đối phó là luôn nhủ mình rằng những trở ngại kia là có thật. Vì vậy, mình phải luôn ở trong tình trạng báo động mà tỉnh thức và cầu nguyện. Chẳng vậy, thật sẽ khó đương đầu với những trở ngại nói trên và lý tưởng truyền giáo của mình cũng không còn mấy hấp dẫn nữa. Có khi người ta sẽ tưởng là mình dại hay lầm đường sao đó mà lại theo đuổi ơn gọi này. Quả thật ơn gọi này là dành cho những ai có tâm hồn lờn và một chí hy sinh quảng đại như Chúa nói: “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được.” (Mt 11,12) nghĩa là phải từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày để trung thành và kiên trì theo đuổi lý tưởng đã chọn.