Trong khuôn khổ Năm Thánh 2010, kỷ niệm 350 năm Giáo hội được chính thức thành lập tại Việt-Nam khi hai Đức cha François Pallu và Lambert de la Motte được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Đại diện Tông tòa cai quản Địa phận Đàng Ngoài và Địa phận Đàng Trong, đồng thời Giáo hội Việt-Nam cũng kỷ niệm 50 thành lập Hàng Giáo phẩm, Đại hội Dân Chúa sẽ được tổ chức từ chiều Chủ nhật 21 đến hết Thứ năm 25.11.2010, tại Trung tâm Mục vụ Sài gòn và Vương cung Thánh đường Đức Bà (Thánh lễ khai mạc).
Ý nghĩa mục đích: soi sáng và trợ lực cho các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, suy nghĩ, góp ý cho việc gia cố, phục chế, canh tân ngôi nhà chung của mình trên nền đá vững chắc là Lời Chúa (xem Mt 7,24-25), và trên bốn trụ cột vững bền là chân lý và tình thương, hoà bình và công lý (x. TV 85,11; Thông điệp "Tình Yêu trong Chân Lý").
I.- ĐẠI HỘI DÂN CHÚA.
A. Thành phần tham dự.
1.- Đại Biểu (tổng số là 280-300) gồm các Giám mục Việt-Nam (30-40 vị), Ban Thư Ký (20), Linh mục Tổng Đại diện (26), Linh mục Giám đốc Đại Chủng Viện (8), Đại diện Linh mục giáo phận (26), Đại diện các dòng tu (30), Giáo dân đại diện (120-130) ngụ tại Đại Chủng Viện và dòng Phaolô.
2.- Khách mời (20-25) và trọ ở khách sạn gồm:
- Đại diện Bộ Truyền Giáo, Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh, Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Di Dân, Đức Hồng Y Sepe,
- Đại diện các Hội đồng Giám mục lo mục vụ di dân cho các cộng đoàn Công giáo Việt-Nam hải ngoại (Đức, Pháp, Canada, Hoa kỳ, Úc, Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan, Phi luật tân, Mã lai, Campuchia, Thái lan…)
- Đại diện vài tổ chức Bác Ái hỗ trợ Giáo hội tại Việt-Nam.
B. Tài Liệu Làm Việc (Instrumentum Laboris).
Trang tin điện tử của Hội đồng Giám mục Việt-Nam, ngày 20.10.2010, loan đi bài phỏng vấn Đức cha Phêrô Nguyễn văn Khảm, người đứng đầu Ban Thư ký Đại hội. Sau đây là các điểm chính:
Đề cập đến Tài Liệu này, Đức cha nói: Đại hội Dân Chúa làm việc theo phương pháp của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới. Cụ thể là Hội đồng Giám mục quyết định đề tài và giao Ban Thư ký trách nhiệm khai triển đề tài qua Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam: Mầu nhiệm – Hiệp thông – Sứ vụ. Sau khi Hội đồng Giám mục phê chuẩn, đề cương được gởi đến các Đức Giám mục giáo phận, dòng tu và phổ biến cho mọi thành phần Dân Chúa để xin ý kiến. Đề cương là tài liệu học hỏi về Giáo hội trong Năm Thánh 2010.
Ban Thư ký, dựa ý kiến từ các giáo phận, dòng tu,..., đã biên soạn bản thảo đầu tiên của Tài liệu làm việc để gửi đến Ban Thường vụ và các Giám mục trong nhóm soạn thảo văn bản của Hội đồng Giám mục để xin góp ý.
Tài Liệu Làm Việc gồm 2 phần chính:
(1) Nền tảng thần học,
(2) Hướng đi mục vụ, chia ra thành 4 chương:
- Dẫn nhập (số 1)
- Chương I (số 2-10) Mầu nhiệm: Giáo hội Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt- Nam
- Chương II (số 11-17) Hiệp thông: Giáo hội như dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau
- Chương III (số 18-32) Sứ vụ: Giáo hội Việt-Nam và sứ vụ loan báo Tin Mừng
- Chương 4 (số 33-37) Những hướng đi mục vụ.
So sánh với Đề cương, Tài Liệu Làm Việc có đôi nét khác biệt:
Về mặt thần học, ngoài việc trình bày Giáo hội dưới ánh sáng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Tài Liệu quan tâm hơn đến mầu nhiệm Chúa Kitô (Nhập thể và Vượt qua) để đặt nền tảng cho chiều kích nhập thể (tính bản địa, hội nhập văn hóa, đồng hành với dân Việt) và chiều kích vượt qua trong lịch sử và đời sống Giáo hội (Giáo hội lữ hành, sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, ý nghĩa và giá trị của tử đạo cũng như những đau khổ và hi sinh trong đời sống Kitô hữu). Đồng thời, Tài Liệu cố gắng làm nổi bật sự hiệp thông (koinonia) như sợi chỉ xuyên suốt cả ba chiều kích mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ; nhờ đó, tránh sự giản lược hiệp thông theo chiều ngang thuần túy. Theo đó, sự hiệp thông với Thiên Chúa vừa là nền tảng và điều kiện vừa là chuẩn mực cho sự hiệp thông giữa người với người. Cũng từ đây, khám phá ý nghĩa Giáo hội như dấu chỉ và khí cụ xây dựng sự hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau.
Về mặt mục vụ, vì Tài liệu không chỉ là một văn bản thần học trừu tượng nhưng còn hướng đến đời sống và những hoạt động cụ thể của Giáo hội trong hoàn cảnh cụ thể, do đó phần mục vụ cũng được quan tâm nhiều hơn. Trên cơ sở thần học đã khai triển trong các chương trước thuộc phần I (Nền tảng thần học), phần II (chương 4) của Tài liệu làm việc đưa ra những đề nghị mục vụ, nhận định đâu là những định hướng mục vụ, những mối ưu tiên cần quan tâm và những hoạt động cụ thể để đáp ứng.
II. HY VỌNG GỞI VỀ ĐẠI HỘI DÂN CHÚA.
Trong phần ‘Dẫn nhập’, Tài Liệu Làm Việc ghi: sau khi nhìn nhận những thiếu xót đối với Thiên Chúa và chưa yêu mến và phục vụ con người như Chúa Kitô mong đợi, Giáo hội tại Việt-Nam muốn dâng tâm tình sám hối lên Thiên Chúa và xin lỗi mọi người. Nỗi thao thức canh tân thúc đẩy Hội đồng Giám mục Việt-Nam triệu tập Đại Hội Dân Chúa biểu hiện một Giáo hội hiệp nhất, tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa, để hoàn chỉnh những gì còn thiếu sót, đồng thời nghiên cứu và phát huy những phương thức mới, hầu tiến bước vững vàng hơn trong cuộc hành trình đức tin với ý thức ngày thêm sâu sắc về mầu nhiệm Giáo hội, về tình hiệp thông và sứ vụ của đoàn môn đệ Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt-Nam. Nếu Thư chung 1980 đã vạch hướng cho các tín hữu sống đức tin trong chặng đường lịch sử sau năm 1975, thì Đại hội Dân Chúa 2010 được kỳ vọng sẽ mở hướng cho Giáo hội Việt-Nam bước trên chặng đường mới, giữa lòng một đất nước đang đổi thay nhanh chóng trong một thế giới cũng không ngừng biến chuyển.
A. Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục.
Lúc 12 giờ ngày 27.06.2009, tại Sảnh đường Công Nghị, trong dinh Tông Tòa, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gặp gỡ chung phái đoàn Giám mục Việt-Nam nhân dịp ‘Ad Limina’.
Đức Thánh Cha đã nói với các Giám mục Việt-Nam: « … Thư Chung của Hội đồng Giám mục Việt-Nam công bố năm 1980 nhấn mạnh về ‘Giáo hội của Chúa Kitô giữa lòng dân tộc’. Khi đóng góp phần đặc thù của mình - là loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô -, Giáo hội góp phần vào sự phát triển con người về mặt nhân bản và tinh thần, nhưng cũng góp phần vào sự phát triển đất nước nữa. Sự tham gia của Giáo hội vào tiến trình này là một nghĩa vụ và là một đóng góp quan trọng nhất là trong lúc Việt-Nam đang dần dần cởi mở đối với cộng đồng quốc tế. »
‘Giáo hội của Chúa Kitô giữa lòng dân tộc’ là điều hiển nhiên vì trước khi là Kitô hữu, các phần tử của Giáo hội Công giáo Việt-Nam đang là người thuộc dân tộc Việt-Nam. Do đó, các tín hữu Công giáo luôn sống với vận mạng của dân tộc như Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã cảm nghiệm qua bài ca sau:
Con có một Tổ Quốc.
Tiếng chuông não nùng, Việt Nam nguyện cầu.
Tiếng chuông ngân trầm, Việt Nam buồn thảm.
Tiếng chuông vang lừng, Việt Nam khởi hoàn.
Tiếng chuông thanh thót, Việt Nam hy vọng.
Con có một tổ quốc: Việt Nam,
Quê hương yêu quí ngàn đời,
Con hãnh diện, con vui sướng.
Con yêu non sông gấm vóc,
Con yêu lịch sử vẻ vang,
Con yêu đồng bào cần mẫn,
Con yêu chiến sĩ hào hùng.
Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn.
Núi cao cao, xương chất cao hơn.
Đất tuy hẹp nhưng chí lớn.
Nước tuy nhỏ, nhưng danh vang.
Con phục vụ hết tâm hồn,
Con trung thành hết nhiệt huyết,
Con bảo vệ bằng xương máu,
Con xây dựng bằng tim óc.
Vui niềm vui của đồng bào,
Buồn nỗi buồn của dân tộc.
Một nước Việt Nam,
Một dân tộc Việt Nam,
Một tâm hồn Việt Nam,
Một văn hoá Việt Nam,
Một truyền thống Việt Nam,
Là người Công giáo Việt Nam
Con phải yêu tổ quốc gấp bội.
Chúa dạy con, Hội thánh bảo con,
Cha mong dòng máu ái quốc,
Sôi trào trong huyết quản con.
Đề nghị chân thành của Đức Thánh Cha tức khắc bị người Cộng sản lợi dụng để tuyên truyền chiêu bài ‘tốt đời, đẹp đạo’, tự nhận là đại diện dân tộc. Nhưng, không bao lâu sau, phần lớn dân tộc đã nhận thức Sự Thật:
- nhà nước không có biện pháp để bảo vệ ngư dân. Chỉ tính riêng năm 2009 đã có 161 vụ với 304 tàu cá, 2.472 ngư dân Việt-Nam bị nước ngoài kiểm soát, bắt giữ, xử phạt;
- bao nhiêu người yêu nước đã bị đánh đập, bắt giữ vì chủ trương ‘Trường Sa, Hoàng Sa của Việt-Nam’;
- những công dân yêu dân chủ tranh đấu đòi tự do, nhân quyền cho dân tộc Viêảt;
- nhà nước trợ giúp các nhà đầu tư giàu có cướp nhà đất dân lành. Đặc biệt, tại Cồn dầu, nhiều giáo dân bị đánh đập, có người tới chết và bị Tòa kết án không luật sư bào chữa;
- như luật sư Lê trần Luật bào chữa cho các giáo dân Thái Hà đã bị nhà nước cộng sản trả thù, luật sư Cù huy Hà Vũ, được sự tín nhiệm của giáo dân Cồn dầu, nhưng bị Chánh án Tòa cấm bào chữa, đang bị trả thù đê tiện;
- nợ của tập đoàn Vinashin ước tính lên tới khoảng 4,3 tỷ mỹ kim, tương đương 4,5% tổng sản phẩm quốc nội Việt-Nam năm 2009 đã làm vài đại biểu Quốc hội chỉ gồm đảng viên và những người do đảng cộng sản giới thiệu đã kiến nghị lập Ủy ban điều tra về Vinashin và bỏ phiếu tín nhiệm ngay với Thủ tướng và một số thành viên chính phủ có liên quan trong vụ này vào cuối kỳ họp.
B. Sự cộng tác lành mạnh giữa Giáo Hội và cộng đồng chính trị.
Đức Thánh Cha nói tiếp: « Cũng như tôi, Anh Em biết rằng một sự cộng tác lành mạnh giữa Giáo hội và cộng đồng chính trị là điều có thể. Về vấn đề này, Giáo hội mời gọi mọi phần tử của mình hãy chân thành dấn thân xây dựng một xã hội công chính, liên đới và công bằng. Giáo hội không hề muốn thay thế các vị hữu trách chính quyền, nhưng chỉ mong muốn có thể tham gia chính đáng vào đời sống quốc gia, trong tinh thần đối thoại và cộng tác tôn trọng, để phục vụ toàn dân. Khi tích cực tham dự vào chỗ đứng của mình và theo ơn gọi đặc thù, Giáo hội không bao giờ có thể chuẩn chước cho mình việc thực thi bác ái trong tư cách là một hoạt động có tổ chức của các tín hữu, và đàng khác, sẽ không bao giờ có một tình trạng trong đó người ta không cần lòng bác ái của mỗi tín hữu Kitô, vì con người, ngoài sự công bằng, vẫn luôn cần tình thương (Deus caritas est, Thiên Chúa là Tình yêu, số 29). Ngoài ra, tôi thấy cần nhấn mạnh rằng các tôn giáo không phải là một nguy hiểm cho tình đoàn kết quốc gia, vì các tôn giáo nhắm giúp mỗi người tự thánh hóa, và qua các tổ chức của mình, các tôn giáo mong muốn quảng đại phục vụ tha nhân một cách vô vị lợi. Ừ
Sự cộng tác lành mạnh này cũng đã được Đức Gioan Phaolô II nhắc lại với các Đức Giám mục Việt-Nam ngày 22.01.2002, nhân dịp đến viếng mộ hai thánh Tông đồ, Phêrô và Phaolô, cùng gặp Đức Giáo Hoàng để tường trình về mục vụ tại Giáo phận mình có trách nhiệm.
Đức Thánh Cha nêu đoạn 76 Gaudium et Spes « Giáo hội, vì sứ mạng và chức năng mình, Giáo hội không lẫn lộn với một cộng đồng chánh trị và không bị gắn liền với bất cứ hệ thống chánh trị nào ». Bởi thế « cộng đồng chánh trị và và Giáo hội độc lập với nhau và tự trị trong lãnh vực chuyên biệt của mình Ừ. Nhưng vì cả hai cùng được mời gọi hoàn tất sứ mạng riêng biệt phục vụ cùng một tập thể con người, sự phục vụ sẽ càng hữu hiệu nếu « cả hai thực hiện nhiều hơn nữa một sự hợp tác lành mạnh với nhau ». Vì ‘sự hợp tác lành mạnh nầy', Giáo Hội mời tín hữu dấn thân cho sự phát triển mọi con người và xây dựng một xã hội công bằng, đoàn kết và bình đẳng. Giáo hội không muốn thay người trách nhiệm của Nhà nước, công việc của cá nhân hay tập thể.
Để thực hiện ‘sự hợp tác lành mạnh’ nầy, Giáo hội mong đợi nơi chánh quyền tôn trọng toàn diện sự độc lập và tự trị của Giáo hội mà quyền Tự do Tôn giáo quí giá đã được khẳng định trong Công Đồng Vatican II và trong những Tuyên ngôn và Quy ước quốc tế, cho từng cá nhân và những cộng đồng tôn giáo.
Đức cố Thánh Cha không chỉ ưu tư đến Giáo hội Công giáo mà còn nghĩ đến các tôn giáo khác cũng như cả Dân Tộc Việt-Nam. Mọi người Việt được quyền có đời sống no ấm và hạnh phúc thật sự, Người đã nói đến sự Hợp Tác Lành Mạnh giữa Cộng đồng Chánh trị và Cộng đồng Tôn giáo. Khi Cộng đồng Tôn giáo được độc lập và tự chủ thì mới có đủ tư cách để cộng tác trực tiếp vào việc xây dựng xã hội lành mạnh. Một thí dụ: công tác giáo dục cần thiết cho việc mở mang dân trí. Các tôn giáo không được dự phần vào công tác nầy vì Nhà nước đã chiếm đoạt toàn bộ những trường học của các tôn giáo từ 1975 đến nay.
Trong ‘Tài liệu Học Hỏi trong Năm Thánh’, trang 21, chúng ta đọc:
« Dấn thân phục vụ con người
Trong lãnh vực giáo dục và xã hội, hầu như bất cứ nhà thờ hay tu viện nào cũng kèm theo trường học và tổ chức bác ái từ thiện, như những lớp miễn phí, những bệnh viện hoặc trạm xá, xin đan cử một thống kê của các địa phần miền Trung và miền Nam vào năm 1969 (20). Các nhà thờ và dòng tu đã đảm nhiệm tất cả:
– 1030 trường tiểu học, với 345.756 học sinh (25% không công giáo).
– 226 trường trung học, 152.928 học sinh (46% không công giáo).
– 41 bệnh viện, với 7.000 giường.
– 239 trạm phát thuốc, 36 nhà hộ sinh, 29 nhà dưỡng lão.
– 9 trại phong, với 2.500 bệnh nhân.
– 82 cô-nhi-viện chăm sóc 11.000 em.
Dĩ nhiên những con số ấy cũng chưa nhiều, nhưng cũng đủ nhắc nhở người tín hữu hôm nay, theo cách thế của mình, nối tiếp vào truyền thống mục vụ ấy. »
C. Niềm hân hoan khi đọc Đề Cương Giáo Hội tại Việt-Nam.
1. Mọi thành phần trong Giáo hội, từ vị chủ chăn đến người tín hữu bé nhỏ nhất, đều được mời gọi nên thánh và làm chứng cho sự thánh thiện của Thiên Chúa bằng một đời sống thánh đức. Đồng thời, noi gương Đức Kitô khiêm hạ, Giáo hội Việt-Nam cũng luôn ý thức rằng ơn gọi của mình là yêu thương và phục vụ như Đức Kitô. Các môn đệ của Ngài, dù ở cương vị nào, cũng đều phải khiêm nhường phục vụ mọi người (số 16 Đề Cương Giáo Hội tại Việt-Nam).
2. Về việc xây dựng một Giáo hội hiệp thông, Đề Cương viết: « Chính các Giám mục Việt-Nam đã nói đến nhu cầu cấp bách này trong Thượng Hội đồng Giám mục Á châu như sau: “Cần thiết phải xây dựng Giáo hội như một gia đình của những con cái Thiên Chúa hơn là như một phẩm trật được phú ban với những cơ cấu và luật lệ nghiêm minh. Giáo hội như một gia đình sẽ hòa nhập tốt hơn vào xã hội Việt-Nam” (số 20). Giáo hội Việt-Nam nhận biết “không có kiểu canh tân một chiều của riêng giáo sĩ hoặc giáo dân. Trong một Giáo hội hiệp thông, tất cả mọi người, giáo sĩ cũng như giáo dân, đều liên hệ với nhau và có ảnh hưởng tác động lẫn nhau. Chúng ta cảm nhận cần phải thay đổi cả khối óc cũng như con tim” » (số 21).
3. Đề cập đến ‘Sứ vụ mục tử’, Đề Cương viết: « Giáo hội tại Việt-Nam phải chu toàn sứ vụ yêu thương và phục vụ như là cách cai trị của Đức Kitô (x. Mc 10,45; Ga 13,3-5. 13-17). Phục vụ và yêu thương theo gương Đức Kitô là một bài học mà Giáo hội phải học mỗi ngày trong mọi nơi mọi lúc. Giáo hội không có sứ vụ điều khiển và tổ chức xã hội trần thế. Giáo hội không thể và không bao giờ muốn thế chỗ chính quyền. Có được một xã hội công bằng phải là thành quả của chính trị, chứ không phải của Giáo hội. Nhưng, cổ võ cho công bằng, làm cho tâm trí rộng mở theo đuổi công ích, là điều can hệ đến Giáo hội cách sâu xa. Giáo hội không thể và không được ở bên lề trong cuộc tìm kiếm công lý hòa bình.
Quả thế, như những tôi tớ của Chúa và của nhân loại, người Kitô hữu Việt-Nam chúng ta chia sẻ cùng một hành trình với dân tộc mình. Giáo hội không được sai tới để quan sát nhưng để phục vụ anh chị em mình trong hành trình tìm kiếm Thiên Chúa và vươn tới một đời sống nhân bản tốt đẹp hơn; để phân định những công việc mà Chúa muốn phải được thực hiện; để qui tụ mọi người trong gia đình của Ngài. Như tôi tớ của Thiên Chúa và nhân loại, Giáo hội trên hết tìm cách trung thành với Thiên Chúa và với dân tộc mình. Chính vì thế, Giáo hội không đòi cho mình một đặc quyền nào hơn là quyền được phục vụ con người. Giáo hội tại Việt-Nam thâm tín rằng “bác ái trước hết và trên hết là một nhiệm vụ của mỗi cá nhân người tín hữu và cũng là nhiệm vụ của toàn Giáo hội”. Có quan điểm cho rằng chỉ cần xây dựng cơ cấu xã hội công bằng là đủ, không cần đến tình thương và bác ái. Thực ra, luận điệu đó chỉ che giấu một quan niệm quá giản lược về con người: khái niệm cho rằng con người có thể sống chỉ ‘bằng cơm bánh’ (Mt 4, 4; x. Đnl 8, 3), một xác tín làm hạ giá con người và cuối cùng coi thường tất cả những gì là nhân tính » (số 29).
4. Dù hiện nay Giáo hội tại Việt-Nam vẫn chưa thể đóng góp tích cực hơn vào việc giáo dục học đường, thì cản trở đó không thể làm cho Giáo hội lãng quên căn tính của mình là giáo dục con người. Thật thế, giáo dục tiên quyết và tối hậu không phải là trao ban kiến thức khoa học hay kỹ thuật, cũng không phải là đào tạo những người thợ cho nền công nghiệp mới. Trước hết và trên hết, giáo dục làm cho một người trở nên người hơn, biết luôn khao khát chân lý và tự do ôm ấp sự thiện cũng như sẵn sàng mở rộng trước mầu nhiệm cứu độ và đời sống Giáo hội. Giáo dục Kitô hữu bao gồm giáo dục ở bình diện văn hoá (phúc âm hoá văn hoá) và ở bình diện đức tin (giáo dục đức tin). Tin Mừng không chỉ có tính cách thông tin, song cốt yếu có năng lực biến đổi và làm cho con người nên người hơn. Giáo hội tại Việt-Nam sẽ tự hào lớn lao khi cống hiến cho quê hương không chỉ những chuyên viên nhưng là những con người có lương tâm nghề nghiệp. Chính những con người lương thiện mới là kho tàng đích thực của đất nước. Vì thế, phải thực thi « giáo dục bằng phúc âm hoá và phúc âm hoá bằng giáo dục ». Chúng ta phải cho thấy là người Kitô hữu tốt lành không hề nghịch lại với việc là người công dân ngay chính và lương thiện (số 35).
5. Giáo hội tại Việt-Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo anh chị em giáo dân. Nhất là khi vai trò giáo dân được đề cao hơn nữa như Tông huấn Christifideles laici mong đợi. Chính các Giám mục Việt-Nam cũng đã nhận ra nhu cầu khẩn thiết này: « Có một sự mâu thuẫn nội tại nào đó trong chính công việc loan báo Tin Mừng. Một đàng Giáo hội dường như tăng trưởng nhanh, nhất là trước năm 1975 và sau khi nền kinh tế được mở cửa vào cuối thập niên 1980: có một sự gia tăng trong việc xây cất, buôn bán giao dịch đủ loại, các nhà thờ, đền đài, xe cộ, những trang thiết bị hiện đại cũng gia tăng.
Trong khi đó, các tác nhân rao giảng Tin Mừng lại có một trình độ rất giới hạn trong hiểu biết về tín lý, một kết quả còn rất nhiều thiếu sót của việc học tập giáo lý. Tình trạng này xảy ra không chỉ nơi những giáo lý viên không chuyên nghiệp trong các giáo xứ mà còn cả trong một số chủng viện và nhà tập”. Vì thế, Giáo hội tại Việt-Nam cần đẩy mạnh việc đào tạo thần học và giáo lý cho giáo dân cũng như quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo giáo lý viên qua các trung tâm mục vụ của các giáo phận (số 38).
6. Trong dòng lịch sử dân tộc, Giáo hội tại Việt-Nam bằng nhiều cách trong những thời gian khác nhau đã góp phần tích cực vào việc chăm sóc, an ủi những kẻ bất hạnh nhất, bị bỏ rơi và bị gạt ra bên lề xã hội. Dù vậy, Giáo hội tại Việt-Nam vẫn còn nhiều điều để làm trong lãnh vực này. (số 40)
7. Giáo hội tại Việt-Nam cần làm sao để mọi thành phần dân Chúa đều biết học thuyết của Giáo hội Công giáo về xã hội. Đó sẽ là chỉ nam cho các môn đệ Đức Kitô trong xã hội hôm nay cũng như mai ngày.
Giáo hội tại Việt-Nam chắc chắn không làm chính trị đảng phái, cũng không áp đặt quan điểm của mình trên những ai không muốn tiếp nhận đức tin. Nhưng Giáo hội cũng không đứng bên lề xã hội và không thể làm ngơ trước những vấn đề của đất nước; trái lại Giáo hội có bổn phận làm cho các tín hữu ý thức mạnh mẽ về chiều kích xã hội và chính trị của đức tin Kitô hữu, cũng như giúp họ chọn thái độ sống đúng đắn đối với xã hội. Vì vậy, các tín hữu phải có khả năng sống theo sự thật, bình thản và xác tín trả lời cho những ai chất vấn về đức tin và niềm hy vọng của mình. Họ phải cổ xúy tinh thần cộng tác với những ai thiện chí, bất kể tôn giáo, quan điểm, để lo cho công ích (số 41).
8. Di dân. Làn sóng di dân tại Việt-Nam, trong nước cũng như ngoài nước, đang làm thay đổi bộ mặt đất nước, tại cả nơi đi lẫn nơi đến. Một đàng chính những biến động xã hội đã tạo nên làn sóng di dân từ nông thôn lên thành thị hoặc đi lao động tại nước ngoài; đàng khác, tình trạng di dân lại tạo nên nhiều phức tạp về môi trường, xã hội, văn hoá. Dù thế nào chăng nữa, trong tiến trình hội nhập, anh chị em di dân luôn chịu nhiều áp lực về tâm lý, tình cảm, kinh tế, xã hội và cả trong đời sống luân lý đức tin. Họ thật sự cần đến tình thương hiền mẫu của Giáo hội… (số 43).
Thật sự, những vấn đề liên quan đến ‘Di dân’ ra ngoại quốc gặp những khó khăn đều có nguồn gốc từ các tổ chức tuyển đưa công nhân đi làm và cấu kết với các xí nghiệp nước ngoài để bóc lột người Việt. Những người Việt tị nạn hay di dân hợp pháp đều được chính quyền địa phương cấp giấy tờ và các hiệp hội phi chánh phủ giúp đỡ. Cửa nhà thờ rộng mở tiếp nhận các người Công giáo Việt-Nam. Việc cử hành các bí tích Rửa Tội, Hôn Phối được các Linh mục Chính xứ tiếp nhận như các giáo dân tại Giáo xứ.
Bởi thế, cuộc Hội Ngộ Niềm Tin của Cộng đồng Công giáo Việt-Nam qui tụ 3.000 tín hữu Công giáo Việt-Nam hải ngoại khắp năm châu và một phái đoàn đến từ quốc nội từ ngày 25 đến 27.07.2003 tại Rôma. Đề tài chính là mục vụ di dân và số Giáo sĩ ngoại quốc tham dự chỉ có hai vị: Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Thánh Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho Muôn Dân, và Đức Cha Philip Wilson, Tổng Giám mục Giáo phận Adelaide và Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Úc, đại diện cho các Đức Giám Mục tại những Giáo phận có tín hữu Việt-Nam sống và hành đạo.
D. Học thuyết Xã hội Công giáo về Cộng đồng Chánh trị.
1.- Đức Giêsu và quyền hành chính trị
Dù không đồng ý với sự cầm quyền đàn áp và chuyên chế của các nhà lãnh đạo quốc gia, cũng như phản đối tham vọng của họ, nhưng Chúa Giêsu cũng không trực tiếp chống đối các nhà cầm quyền đương thời. Khi đưa ra ý kiến về việc nộp thuế cho hoàng đế (x. Mc 12,13-17; Mt 22,15-22; Lc 20,20-26), Người khẳng định phải trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa và không coi việc nộp thuế cho hoàng đế là chuyện bất công. Người đã phản đối và đã vượt thắng sự cám dỗ của chủ nghĩa cứu thế bằng chính trị. Người là Con Người xuất hiện “để phục vụ và để hy sinh tính mạng mình” (Mc 10,45; x. Mt 20,24-28; Lc 22,24-27) (x. số 379 Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo).
2.- Trong các cộng đồng Kitô hữu sơ khai.
Không phải tùng phục cách thụ động mà ‘vì lương tâm’ (Rm 13,5) đối với nhà cầm quyền hợp pháp là hưởng ứng trật tự do Chúa thiết lập. Thánh Phaolô đã xác định những mối quan hệ và nghĩa vụ mà Kitô hữu phải có đối với nhà cầm quyền là nộp thuế: « Anh em nợ ai cái gì, thì hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính” (Rm 13,7). Thánh nhân cũng không có ý hợp pháp hoá mọi chính quyền khi nói “chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt” (Rm 12,17) (số 380). Khi khuyên Kitô hữu cầu nguyện cho các nhà cầm quyền, cả khi chính mình đang bị bách hại, thánh Phaolô đã gián tiếp cho thấy đâu là điều mà chính quyền phải lo bảo đảm: đó chính là một đời sống thanh bình và yên ổn nhờ sống có đạo đức và phẩm cách (x. 1 Tm 2,1-2) (số 381).
3.- Nền tảng và Mục tiêu Cộng đồng Chánh trị.
a. Cộng đồng chính trị, con người và dân tộc.
Con người là nền tảng và mục tiêu của đời sống chính trị. Vì có lý trí, con người sẽ chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Bản chất cởi mở đối với Đấng Siêu Việt cũng như đối với người khác chính là đặc điểm và là nét đặc trưng của con người.
Cộng đồng chính trị phát sinh từ bản tính ấy của con người; lương tâm con người ‘tỏ lộ cho con người biết và thúc đẩy con người nghe theo’ trật tự mà Thiên Chúa đã ghi khắc trong: ‘một trật tự luân lý và tôn giáo’, chuẩn mực hữu hiệu nhất giúp giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống trong tư cách là cá nhân cũng như là thành viên của xã hội. Đó chính là sự phát triển trọn vẹn mỗi thành viên trong cộng đồng, được mời gọi cộng tác với nhau bền bỉ để đạt được ích chung, dưới sự thúc đẩy của các khuynh hướng tự nhiên hướng con người đến những gì là chân là thiện (số 384).
Cộng đồng chính trị đạt được chiều hướng đích thực của mình là nhờ biết tham khảo nhân dân: ‘cộng đồng chính trị là và cần phải là một đơn vị hữu cơ, có tổ chức của một dân tộc đích thực’. ‘Nhân dân’ không có nghĩa là một đám đông dễ bị điều khiển và bị lợi dụng, nhưng là một tập thể những người, ai cũng có thể có ý kiến riêng về các vấn đề chung và được tự do bày tỏ những quan điểm chính trị riêng của mình, đồng thời tận dụng những ý kiến và quan điểm ấy để làm lợi cho công ích (số 385).
b. Bênh vực và phát huy các quyền con người.
Xem con người là nền tảng và mục tiêu của cộng đồng chính trị có nghĩa là trước hết phải nỗ lực làm cho phẩm giá con người được nhìn nhận và tôn trọng, bằng cách bênh vực và phát huy các quyền căn bản và không thể tước đoạt của con người: « Hiện nay, công ích được bảo đảm cách căn bản là khi các quyền và nghĩa vụ của con người được gìn giữ ». Luật thiết định phải bảo đảm làm sao cho các nhu cầu căn bản của con người được đáp ứng (số 388). Cộng đồng chính trị theo đuổi công ích, khi nó tìm cách tạo ra một môi trường nhân bản, cho phép các công dân thực thi các quyền con người của mình và thi hành trọn vẹn các nghĩa vụ tương ứng của mình. Nếu các chính quyền không có những hành vi thích hợp đối với các vấn đề kinh tế, chính trị và văn hoá, thì các sự bất bình đẳng giữa các công dân sẽ càng ngày càng lan rộng và kết quả là các quyền của con người sẽ trở nên vô hiệu, việc thi hành các nghĩa vụ sẽ bị phương hại (số 389).
Đời sống dân sự và chính trị có ý nghĩa sâu xa không phải trực tiếp từ những bản danh sách liệt kê các quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người. Nhưng đời sống trong xã hội có đầy đủ ý nghĩa khi nó được xây dựng dựa trên tình hữu nghị giữa các công dân và dựa trên tình huynh đệ, các lợi ích của con người được bảo vệ. Phần nhiều, nguyên tắc này chưa được ứng dụng trong hoàn cảnh cụ thể ở các xã hội chính trị hiện nay, chủ yếu là do ảnh hưởng quá lớn của các ý thức hệ cá nhân chủ nghĩa và tập thể chủ nghĩa (số 390). Một cộng đồng có nền tảng vững chắc là khi nó nhắm đến sự phát huy toàn diện của con người và của công ích. Trong trường hợp đó, luật pháp được xác định, được tôn trọng và tồn tại tuỳ theo thái độ liên đới và xả thân cho người lân cận của mình. Con người là một ngôi vị, một bản tính được phú cho trí khôn và ý chí tự do, chứ không chỉ là một cá thể để xây dựng một ‘nền văn minh tình yêu’ (số 391). Để làm cho cộng đồng chính trị thật sự nhân bản bằng cổ vũ ý thức nội tâm về công lý, lòng nhân hậu và việc phục vụ công ích và việc thực thi cách đúng đắn và về các giới hạn của công quyền (số 392).
c. Quyền hành xét như một sức mạnh luân lý.
Quyền hành chính đáng phải được hướng dẫn bởi luật luân lý, tức phải hành sử trong khuôn khổ của trật tự luân lý, vì nhân dân mà quyền hành này hướng tới, nên không thể là một sức mạnh chỉ được đánh giá theo những tiêu chuẩn mang tính xã hội hay lịch sử (số 396). Chính quyền phải nhìn nhận, tôn trọng và phát huy các giá trị nhân bản và luân lý thiết yếu. Đó là những giá trị bẩm sinh, ề phát xuất từ chính sự thật của con người, phản ánh và bảo vệ phẩm giá con người; là những giá trị mà không cá nhân, tập thể hay nhà nước nào có thể tạo ra, sửa đổi hay huỷ bỏ Ừ (số 397). Chính quyền phải ban hành các luật công bằng, tức là những luật phù hợp với phẩm giá con người và phù hợp với những gì lý trí đúng đắn đòi hỏi (số 398).
d. Quyền phản đối theo lương tâm.
Các công dân không bị buộc trong lương tâm phải theo những chỉ thị của chính quyền dân sự nếu những mệnh lệnh ấy trái ngược với những đòi hỏi của trật tự luân lý, trái ngược với những quyền căn bản của con người hay trái ngược với giáo huấn của Tin Mừng. Không được cộng tác, dù chỉ là hình thức, vào những việc ngược với luật Chúa, dù đã được luật pháp dân sự cho phép, đó là một nghĩa vụ quan trọng của lương tâm (số 399).
e. Quyền phản kháng.
Luật tự nhiên là nền tảng và đặt giới hạn cho luật thiết định. Thật chính đáng khi phản kháng những nhà cầm quyền vi phạm các nguyên tắc thiết yếu của luật tự nhiên một cách nghiêm trọng hay liên tục. Thánh Tôma Aquinô viết: « người ta có bổn phận phải tùng phục quyền hành… bao lâu trật tự công lý đòi hỏi điều ấy » (số 400).
Học thuyết xã hội của Giáo Hội đề nghị tiêu chuẩn để thi hành quyền phản kháng: « Phản kháng bằng vũ khí trước sự đàn áp của chính quyền là điều không chính đáng, trừ khi: 1/ có sự xâm phạm các nhân quyền căn bản chắc chắn, nghiêm trọng và kéo dài; 2/ đã sử dụng hết mọi phương thế khác để sửa đổi mà không kết quả; 3/ phản kháng như thế sẽ không gây ra những bất ổn tệ hại hơn; 4/ có hy vọng thành công với những lý do vững chắc; 5/ theo lý trí, không thể dự kiến một giải pháp nào hay hơn » (số 401).
f. Chế tài
Để bảo vệ công ích, chính quyền hợp pháp phải thi hành quyền và nghĩa vụ chế tài theo mức nghiêm trọng của tội ác gây ra, với 2 trách nhiệm: làm thoái chí những người có hành vi gây hại và buộc bồi thường hay trừng trị hành vi tội phạm gây ra (số 402).
Chế tài không chỉ nhằm mục đích bảo vệ trật tự chung và bảo đảm cho con người được an toàn mà còn là một công cụ dùng để sửa chữa người lỗi phạm, một sự sửa chữa cũng mang giá trị luân lý là đền tội nếu người phạm tội tự nguyện chấp nhận hình phạt ấy (số 403).
Các cơ quan có bổn phận xác định trách nhiệm tội phạm cần cố gắng tìm kiếm sự thật một cách kỹ lưỡng và tiến hành công việc với sự tôn trọng đầy đủ đối với phẩm giá và quyền lợi của người bị điều tra. Điều này có nghĩa là phải bảo đảm các quyền hạn của người phạm tội cũng như người vô tội. Phải luôn nhớ nguyên tắc pháp lý: không được bắt chịu hình phạt khi tội ác chưa được chứng minh (số 404).
Ước gì những điều được viết trên đây được thực hiện và chúc Đại Hội Dân Chúa được thành công.
Ý nghĩa mục đích: soi sáng và trợ lực cho các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, suy nghĩ, góp ý cho việc gia cố, phục chế, canh tân ngôi nhà chung của mình trên nền đá vững chắc là Lời Chúa (xem Mt 7,24-25), và trên bốn trụ cột vững bền là chân lý và tình thương, hoà bình và công lý (x. TV 85,11; Thông điệp "Tình Yêu trong Chân Lý").
I.- ĐẠI HỘI DÂN CHÚA.
A. Thành phần tham dự.
1.- Đại Biểu (tổng số là 280-300) gồm các Giám mục Việt-Nam (30-40 vị), Ban Thư Ký (20), Linh mục Tổng Đại diện (26), Linh mục Giám đốc Đại Chủng Viện (8), Đại diện Linh mục giáo phận (26), Đại diện các dòng tu (30), Giáo dân đại diện (120-130) ngụ tại Đại Chủng Viện và dòng Phaolô.
2.- Khách mời (20-25) và trọ ở khách sạn gồm:
- Đại diện Bộ Truyền Giáo, Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh, Hội đồng Giáo hoàng về Mục vụ Di Dân, Đức Hồng Y Sepe,
- Đại diện các Hội đồng Giám mục lo mục vụ di dân cho các cộng đoàn Công giáo Việt-Nam hải ngoại (Đức, Pháp, Canada, Hoa kỳ, Úc, Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan, Phi luật tân, Mã lai, Campuchia, Thái lan…)
- Đại diện vài tổ chức Bác Ái hỗ trợ Giáo hội tại Việt-Nam.
B. Tài Liệu Làm Việc (Instrumentum Laboris).
Trang tin điện tử của Hội đồng Giám mục Việt-Nam, ngày 20.10.2010, loan đi bài phỏng vấn Đức cha Phêrô Nguyễn văn Khảm, người đứng đầu Ban Thư ký Đại hội. Sau đây là các điểm chính:
Đề cập đến Tài Liệu này, Đức cha nói: Đại hội Dân Chúa làm việc theo phương pháp của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới. Cụ thể là Hội đồng Giám mục quyết định đề tài và giao Ban Thư ký trách nhiệm khai triển đề tài qua Đề cương Giáo Hội tại Việt Nam: Mầu nhiệm – Hiệp thông – Sứ vụ. Sau khi Hội đồng Giám mục phê chuẩn, đề cương được gởi đến các Đức Giám mục giáo phận, dòng tu và phổ biến cho mọi thành phần Dân Chúa để xin ý kiến. Đề cương là tài liệu học hỏi về Giáo hội trong Năm Thánh 2010.
Ban Thư ký, dựa ý kiến từ các giáo phận, dòng tu,..., đã biên soạn bản thảo đầu tiên của Tài liệu làm việc để gửi đến Ban Thường vụ và các Giám mục trong nhóm soạn thảo văn bản của Hội đồng Giám mục để xin góp ý.
Tài Liệu Làm Việc gồm 2 phần chính:
(1) Nền tảng thần học,
(2) Hướng đi mục vụ, chia ra thành 4 chương:
- Dẫn nhập (số 1)
- Chương I (số 2-10) Mầu nhiệm: Giáo hội Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt- Nam
- Chương II (số 11-17) Hiệp thông: Giáo hội như dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau
- Chương III (số 18-32) Sứ vụ: Giáo hội Việt-Nam và sứ vụ loan báo Tin Mừng
- Chương 4 (số 33-37) Những hướng đi mục vụ.
So sánh với Đề cương, Tài Liệu Làm Việc có đôi nét khác biệt:
Về mặt thần học, ngoài việc trình bày Giáo hội dưới ánh sáng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Tài Liệu quan tâm hơn đến mầu nhiệm Chúa Kitô (Nhập thể và Vượt qua) để đặt nền tảng cho chiều kích nhập thể (tính bản địa, hội nhập văn hóa, đồng hành với dân Việt) và chiều kích vượt qua trong lịch sử và đời sống Giáo hội (Giáo hội lữ hành, sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, ý nghĩa và giá trị của tử đạo cũng như những đau khổ và hi sinh trong đời sống Kitô hữu). Đồng thời, Tài Liệu cố gắng làm nổi bật sự hiệp thông (koinonia) như sợi chỉ xuyên suốt cả ba chiều kích mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ; nhờ đó, tránh sự giản lược hiệp thông theo chiều ngang thuần túy. Theo đó, sự hiệp thông với Thiên Chúa vừa là nền tảng và điều kiện vừa là chuẩn mực cho sự hiệp thông giữa người với người. Cũng từ đây, khám phá ý nghĩa Giáo hội như dấu chỉ và khí cụ xây dựng sự hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau.
Về mặt mục vụ, vì Tài liệu không chỉ là một văn bản thần học trừu tượng nhưng còn hướng đến đời sống và những hoạt động cụ thể của Giáo hội trong hoàn cảnh cụ thể, do đó phần mục vụ cũng được quan tâm nhiều hơn. Trên cơ sở thần học đã khai triển trong các chương trước thuộc phần I (Nền tảng thần học), phần II (chương 4) của Tài liệu làm việc đưa ra những đề nghị mục vụ, nhận định đâu là những định hướng mục vụ, những mối ưu tiên cần quan tâm và những hoạt động cụ thể để đáp ứng.
II. HY VỌNG GỞI VỀ ĐẠI HỘI DÂN CHÚA.
Trong phần ‘Dẫn nhập’, Tài Liệu Làm Việc ghi: sau khi nhìn nhận những thiếu xót đối với Thiên Chúa và chưa yêu mến và phục vụ con người như Chúa Kitô mong đợi, Giáo hội tại Việt-Nam muốn dâng tâm tình sám hối lên Thiên Chúa và xin lỗi mọi người. Nỗi thao thức canh tân thúc đẩy Hội đồng Giám mục Việt-Nam triệu tập Đại Hội Dân Chúa biểu hiện một Giáo hội hiệp nhất, tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa, để hoàn chỉnh những gì còn thiếu sót, đồng thời nghiên cứu và phát huy những phương thức mới, hầu tiến bước vững vàng hơn trong cuộc hành trình đức tin với ý thức ngày thêm sâu sắc về mầu nhiệm Giáo hội, về tình hiệp thông và sứ vụ của đoàn môn đệ Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt-Nam. Nếu Thư chung 1980 đã vạch hướng cho các tín hữu sống đức tin trong chặng đường lịch sử sau năm 1975, thì Đại hội Dân Chúa 2010 được kỳ vọng sẽ mở hướng cho Giáo hội Việt-Nam bước trên chặng đường mới, giữa lòng một đất nước đang đổi thay nhanh chóng trong một thế giới cũng không ngừng biến chuyển.
A. Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục.
Lúc 12 giờ ngày 27.06.2009, tại Sảnh đường Công Nghị, trong dinh Tông Tòa, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gặp gỡ chung phái đoàn Giám mục Việt-Nam nhân dịp ‘Ad Limina’.
Đức Thánh Cha đã nói với các Giám mục Việt-Nam: « … Thư Chung của Hội đồng Giám mục Việt-Nam công bố năm 1980 nhấn mạnh về ‘Giáo hội của Chúa Kitô giữa lòng dân tộc’. Khi đóng góp phần đặc thù của mình - là loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô -, Giáo hội góp phần vào sự phát triển con người về mặt nhân bản và tinh thần, nhưng cũng góp phần vào sự phát triển đất nước nữa. Sự tham gia của Giáo hội vào tiến trình này là một nghĩa vụ và là một đóng góp quan trọng nhất là trong lúc Việt-Nam đang dần dần cởi mở đối với cộng đồng quốc tế. »
‘Giáo hội của Chúa Kitô giữa lòng dân tộc’ là điều hiển nhiên vì trước khi là Kitô hữu, các phần tử của Giáo hội Công giáo Việt-Nam đang là người thuộc dân tộc Việt-Nam. Do đó, các tín hữu Công giáo luôn sống với vận mạng của dân tộc như Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã cảm nghiệm qua bài ca sau:
Con có một Tổ Quốc.
Tiếng chuông não nùng, Việt Nam nguyện cầu.
Tiếng chuông ngân trầm, Việt Nam buồn thảm.
Tiếng chuông vang lừng, Việt Nam khởi hoàn.
Tiếng chuông thanh thót, Việt Nam hy vọng.
Con có một tổ quốc: Việt Nam,
Quê hương yêu quí ngàn đời,
Con hãnh diện, con vui sướng.
Con yêu non sông gấm vóc,
Con yêu lịch sử vẻ vang,
Con yêu đồng bào cần mẫn,
Con yêu chiến sĩ hào hùng.
Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn.
Núi cao cao, xương chất cao hơn.
Đất tuy hẹp nhưng chí lớn.
Nước tuy nhỏ, nhưng danh vang.
Con phục vụ hết tâm hồn,
Con trung thành hết nhiệt huyết,
Con bảo vệ bằng xương máu,
Con xây dựng bằng tim óc.
Vui niềm vui của đồng bào,
Buồn nỗi buồn của dân tộc.
Một nước Việt Nam,
Một dân tộc Việt Nam,
Một tâm hồn Việt Nam,
Một văn hoá Việt Nam,
Một truyền thống Việt Nam,
Là người Công giáo Việt Nam
Con phải yêu tổ quốc gấp bội.
Chúa dạy con, Hội thánh bảo con,
Cha mong dòng máu ái quốc,
Sôi trào trong huyết quản con.
Đề nghị chân thành của Đức Thánh Cha tức khắc bị người Cộng sản lợi dụng để tuyên truyền chiêu bài ‘tốt đời, đẹp đạo’, tự nhận là đại diện dân tộc. Nhưng, không bao lâu sau, phần lớn dân tộc đã nhận thức Sự Thật:
- nhà nước không có biện pháp để bảo vệ ngư dân. Chỉ tính riêng năm 2009 đã có 161 vụ với 304 tàu cá, 2.472 ngư dân Việt-Nam bị nước ngoài kiểm soát, bắt giữ, xử phạt;
- bao nhiêu người yêu nước đã bị đánh đập, bắt giữ vì chủ trương ‘Trường Sa, Hoàng Sa của Việt-Nam’;
- những công dân yêu dân chủ tranh đấu đòi tự do, nhân quyền cho dân tộc Viêảt;
- nhà nước trợ giúp các nhà đầu tư giàu có cướp nhà đất dân lành. Đặc biệt, tại Cồn dầu, nhiều giáo dân bị đánh đập, có người tới chết và bị Tòa kết án không luật sư bào chữa;
- như luật sư Lê trần Luật bào chữa cho các giáo dân Thái Hà đã bị nhà nước cộng sản trả thù, luật sư Cù huy Hà Vũ, được sự tín nhiệm của giáo dân Cồn dầu, nhưng bị Chánh án Tòa cấm bào chữa, đang bị trả thù đê tiện;
- nợ của tập đoàn Vinashin ước tính lên tới khoảng 4,3 tỷ mỹ kim, tương đương 4,5% tổng sản phẩm quốc nội Việt-Nam năm 2009 đã làm vài đại biểu Quốc hội chỉ gồm đảng viên và những người do đảng cộng sản giới thiệu đã kiến nghị lập Ủy ban điều tra về Vinashin và bỏ phiếu tín nhiệm ngay với Thủ tướng và một số thành viên chính phủ có liên quan trong vụ này vào cuối kỳ họp.
B. Sự cộng tác lành mạnh giữa Giáo Hội và cộng đồng chính trị.
Đức Thánh Cha nói tiếp: « Cũng như tôi, Anh Em biết rằng một sự cộng tác lành mạnh giữa Giáo hội và cộng đồng chính trị là điều có thể. Về vấn đề này, Giáo hội mời gọi mọi phần tử của mình hãy chân thành dấn thân xây dựng một xã hội công chính, liên đới và công bằng. Giáo hội không hề muốn thay thế các vị hữu trách chính quyền, nhưng chỉ mong muốn có thể tham gia chính đáng vào đời sống quốc gia, trong tinh thần đối thoại và cộng tác tôn trọng, để phục vụ toàn dân. Khi tích cực tham dự vào chỗ đứng của mình và theo ơn gọi đặc thù, Giáo hội không bao giờ có thể chuẩn chước cho mình việc thực thi bác ái trong tư cách là một hoạt động có tổ chức của các tín hữu, và đàng khác, sẽ không bao giờ có một tình trạng trong đó người ta không cần lòng bác ái của mỗi tín hữu Kitô, vì con người, ngoài sự công bằng, vẫn luôn cần tình thương (Deus caritas est, Thiên Chúa là Tình yêu, số 29). Ngoài ra, tôi thấy cần nhấn mạnh rằng các tôn giáo không phải là một nguy hiểm cho tình đoàn kết quốc gia, vì các tôn giáo nhắm giúp mỗi người tự thánh hóa, và qua các tổ chức của mình, các tôn giáo mong muốn quảng đại phục vụ tha nhân một cách vô vị lợi. Ừ
Sự cộng tác lành mạnh này cũng đã được Đức Gioan Phaolô II nhắc lại với các Đức Giám mục Việt-Nam ngày 22.01.2002, nhân dịp đến viếng mộ hai thánh Tông đồ, Phêrô và Phaolô, cùng gặp Đức Giáo Hoàng để tường trình về mục vụ tại Giáo phận mình có trách nhiệm.
Đức Thánh Cha nêu đoạn 76 Gaudium et Spes « Giáo hội, vì sứ mạng và chức năng mình, Giáo hội không lẫn lộn với một cộng đồng chánh trị và không bị gắn liền với bất cứ hệ thống chánh trị nào ». Bởi thế « cộng đồng chánh trị và và Giáo hội độc lập với nhau và tự trị trong lãnh vực chuyên biệt của mình Ừ. Nhưng vì cả hai cùng được mời gọi hoàn tất sứ mạng riêng biệt phục vụ cùng một tập thể con người, sự phục vụ sẽ càng hữu hiệu nếu « cả hai thực hiện nhiều hơn nữa một sự hợp tác lành mạnh với nhau ». Vì ‘sự hợp tác lành mạnh nầy', Giáo Hội mời tín hữu dấn thân cho sự phát triển mọi con người và xây dựng một xã hội công bằng, đoàn kết và bình đẳng. Giáo hội không muốn thay người trách nhiệm của Nhà nước, công việc của cá nhân hay tập thể.
Để thực hiện ‘sự hợp tác lành mạnh’ nầy, Giáo hội mong đợi nơi chánh quyền tôn trọng toàn diện sự độc lập và tự trị của Giáo hội mà quyền Tự do Tôn giáo quí giá đã được khẳng định trong Công Đồng Vatican II và trong những Tuyên ngôn và Quy ước quốc tế, cho từng cá nhân và những cộng đồng tôn giáo.
Đức cố Thánh Cha không chỉ ưu tư đến Giáo hội Công giáo mà còn nghĩ đến các tôn giáo khác cũng như cả Dân Tộc Việt-Nam. Mọi người Việt được quyền có đời sống no ấm và hạnh phúc thật sự, Người đã nói đến sự Hợp Tác Lành Mạnh giữa Cộng đồng Chánh trị và Cộng đồng Tôn giáo. Khi Cộng đồng Tôn giáo được độc lập và tự chủ thì mới có đủ tư cách để cộng tác trực tiếp vào việc xây dựng xã hội lành mạnh. Một thí dụ: công tác giáo dục cần thiết cho việc mở mang dân trí. Các tôn giáo không được dự phần vào công tác nầy vì Nhà nước đã chiếm đoạt toàn bộ những trường học của các tôn giáo từ 1975 đến nay.
Trong ‘Tài liệu Học Hỏi trong Năm Thánh’, trang 21, chúng ta đọc:
« Dấn thân phục vụ con người
Trong lãnh vực giáo dục và xã hội, hầu như bất cứ nhà thờ hay tu viện nào cũng kèm theo trường học và tổ chức bác ái từ thiện, như những lớp miễn phí, những bệnh viện hoặc trạm xá, xin đan cử một thống kê của các địa phần miền Trung và miền Nam vào năm 1969 (20). Các nhà thờ và dòng tu đã đảm nhiệm tất cả:
– 1030 trường tiểu học, với 345.756 học sinh (25% không công giáo).
– 226 trường trung học, 152.928 học sinh (46% không công giáo).
– 41 bệnh viện, với 7.000 giường.
– 239 trạm phát thuốc, 36 nhà hộ sinh, 29 nhà dưỡng lão.
– 9 trại phong, với 2.500 bệnh nhân.
– 82 cô-nhi-viện chăm sóc 11.000 em.
Dĩ nhiên những con số ấy cũng chưa nhiều, nhưng cũng đủ nhắc nhở người tín hữu hôm nay, theo cách thế của mình, nối tiếp vào truyền thống mục vụ ấy. »
C. Niềm hân hoan khi đọc Đề Cương Giáo Hội tại Việt-Nam.
1. Mọi thành phần trong Giáo hội, từ vị chủ chăn đến người tín hữu bé nhỏ nhất, đều được mời gọi nên thánh và làm chứng cho sự thánh thiện của Thiên Chúa bằng một đời sống thánh đức. Đồng thời, noi gương Đức Kitô khiêm hạ, Giáo hội Việt-Nam cũng luôn ý thức rằng ơn gọi của mình là yêu thương và phục vụ như Đức Kitô. Các môn đệ của Ngài, dù ở cương vị nào, cũng đều phải khiêm nhường phục vụ mọi người (số 16 Đề Cương Giáo Hội tại Việt-Nam).
2. Về việc xây dựng một Giáo hội hiệp thông, Đề Cương viết: « Chính các Giám mục Việt-Nam đã nói đến nhu cầu cấp bách này trong Thượng Hội đồng Giám mục Á châu như sau: “Cần thiết phải xây dựng Giáo hội như một gia đình của những con cái Thiên Chúa hơn là như một phẩm trật được phú ban với những cơ cấu và luật lệ nghiêm minh. Giáo hội như một gia đình sẽ hòa nhập tốt hơn vào xã hội Việt-Nam” (số 20). Giáo hội Việt-Nam nhận biết “không có kiểu canh tân một chiều của riêng giáo sĩ hoặc giáo dân. Trong một Giáo hội hiệp thông, tất cả mọi người, giáo sĩ cũng như giáo dân, đều liên hệ với nhau và có ảnh hưởng tác động lẫn nhau. Chúng ta cảm nhận cần phải thay đổi cả khối óc cũng như con tim” » (số 21).
3. Đề cập đến ‘Sứ vụ mục tử’, Đề Cương viết: « Giáo hội tại Việt-Nam phải chu toàn sứ vụ yêu thương và phục vụ như là cách cai trị của Đức Kitô (x. Mc 10,45; Ga 13,3-5. 13-17). Phục vụ và yêu thương theo gương Đức Kitô là một bài học mà Giáo hội phải học mỗi ngày trong mọi nơi mọi lúc. Giáo hội không có sứ vụ điều khiển và tổ chức xã hội trần thế. Giáo hội không thể và không bao giờ muốn thế chỗ chính quyền. Có được một xã hội công bằng phải là thành quả của chính trị, chứ không phải của Giáo hội. Nhưng, cổ võ cho công bằng, làm cho tâm trí rộng mở theo đuổi công ích, là điều can hệ đến Giáo hội cách sâu xa. Giáo hội không thể và không được ở bên lề trong cuộc tìm kiếm công lý hòa bình.
Quả thế, như những tôi tớ của Chúa và của nhân loại, người Kitô hữu Việt-Nam chúng ta chia sẻ cùng một hành trình với dân tộc mình. Giáo hội không được sai tới để quan sát nhưng để phục vụ anh chị em mình trong hành trình tìm kiếm Thiên Chúa và vươn tới một đời sống nhân bản tốt đẹp hơn; để phân định những công việc mà Chúa muốn phải được thực hiện; để qui tụ mọi người trong gia đình của Ngài. Như tôi tớ của Thiên Chúa và nhân loại, Giáo hội trên hết tìm cách trung thành với Thiên Chúa và với dân tộc mình. Chính vì thế, Giáo hội không đòi cho mình một đặc quyền nào hơn là quyền được phục vụ con người. Giáo hội tại Việt-Nam thâm tín rằng “bác ái trước hết và trên hết là một nhiệm vụ của mỗi cá nhân người tín hữu và cũng là nhiệm vụ của toàn Giáo hội”. Có quan điểm cho rằng chỉ cần xây dựng cơ cấu xã hội công bằng là đủ, không cần đến tình thương và bác ái. Thực ra, luận điệu đó chỉ che giấu một quan niệm quá giản lược về con người: khái niệm cho rằng con người có thể sống chỉ ‘bằng cơm bánh’ (Mt 4, 4; x. Đnl 8, 3), một xác tín làm hạ giá con người và cuối cùng coi thường tất cả những gì là nhân tính » (số 29).
4. Dù hiện nay Giáo hội tại Việt-Nam vẫn chưa thể đóng góp tích cực hơn vào việc giáo dục học đường, thì cản trở đó không thể làm cho Giáo hội lãng quên căn tính của mình là giáo dục con người. Thật thế, giáo dục tiên quyết và tối hậu không phải là trao ban kiến thức khoa học hay kỹ thuật, cũng không phải là đào tạo những người thợ cho nền công nghiệp mới. Trước hết và trên hết, giáo dục làm cho một người trở nên người hơn, biết luôn khao khát chân lý và tự do ôm ấp sự thiện cũng như sẵn sàng mở rộng trước mầu nhiệm cứu độ và đời sống Giáo hội. Giáo dục Kitô hữu bao gồm giáo dục ở bình diện văn hoá (phúc âm hoá văn hoá) và ở bình diện đức tin (giáo dục đức tin). Tin Mừng không chỉ có tính cách thông tin, song cốt yếu có năng lực biến đổi và làm cho con người nên người hơn. Giáo hội tại Việt-Nam sẽ tự hào lớn lao khi cống hiến cho quê hương không chỉ những chuyên viên nhưng là những con người có lương tâm nghề nghiệp. Chính những con người lương thiện mới là kho tàng đích thực của đất nước. Vì thế, phải thực thi « giáo dục bằng phúc âm hoá và phúc âm hoá bằng giáo dục ». Chúng ta phải cho thấy là người Kitô hữu tốt lành không hề nghịch lại với việc là người công dân ngay chính và lương thiện (số 35).
5. Giáo hội tại Việt-Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo anh chị em giáo dân. Nhất là khi vai trò giáo dân được đề cao hơn nữa như Tông huấn Christifideles laici mong đợi. Chính các Giám mục Việt-Nam cũng đã nhận ra nhu cầu khẩn thiết này: « Có một sự mâu thuẫn nội tại nào đó trong chính công việc loan báo Tin Mừng. Một đàng Giáo hội dường như tăng trưởng nhanh, nhất là trước năm 1975 và sau khi nền kinh tế được mở cửa vào cuối thập niên 1980: có một sự gia tăng trong việc xây cất, buôn bán giao dịch đủ loại, các nhà thờ, đền đài, xe cộ, những trang thiết bị hiện đại cũng gia tăng.
Trong khi đó, các tác nhân rao giảng Tin Mừng lại có một trình độ rất giới hạn trong hiểu biết về tín lý, một kết quả còn rất nhiều thiếu sót của việc học tập giáo lý. Tình trạng này xảy ra không chỉ nơi những giáo lý viên không chuyên nghiệp trong các giáo xứ mà còn cả trong một số chủng viện và nhà tập”. Vì thế, Giáo hội tại Việt-Nam cần đẩy mạnh việc đào tạo thần học và giáo lý cho giáo dân cũng như quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo giáo lý viên qua các trung tâm mục vụ của các giáo phận (số 38).
6. Trong dòng lịch sử dân tộc, Giáo hội tại Việt-Nam bằng nhiều cách trong những thời gian khác nhau đã góp phần tích cực vào việc chăm sóc, an ủi những kẻ bất hạnh nhất, bị bỏ rơi và bị gạt ra bên lề xã hội. Dù vậy, Giáo hội tại Việt-Nam vẫn còn nhiều điều để làm trong lãnh vực này. (số 40)
7. Giáo hội tại Việt-Nam cần làm sao để mọi thành phần dân Chúa đều biết học thuyết của Giáo hội Công giáo về xã hội. Đó sẽ là chỉ nam cho các môn đệ Đức Kitô trong xã hội hôm nay cũng như mai ngày.
Giáo hội tại Việt-Nam chắc chắn không làm chính trị đảng phái, cũng không áp đặt quan điểm của mình trên những ai không muốn tiếp nhận đức tin. Nhưng Giáo hội cũng không đứng bên lề xã hội và không thể làm ngơ trước những vấn đề của đất nước; trái lại Giáo hội có bổn phận làm cho các tín hữu ý thức mạnh mẽ về chiều kích xã hội và chính trị của đức tin Kitô hữu, cũng như giúp họ chọn thái độ sống đúng đắn đối với xã hội. Vì vậy, các tín hữu phải có khả năng sống theo sự thật, bình thản và xác tín trả lời cho những ai chất vấn về đức tin và niềm hy vọng của mình. Họ phải cổ xúy tinh thần cộng tác với những ai thiện chí, bất kể tôn giáo, quan điểm, để lo cho công ích (số 41).
8. Di dân. Làn sóng di dân tại Việt-Nam, trong nước cũng như ngoài nước, đang làm thay đổi bộ mặt đất nước, tại cả nơi đi lẫn nơi đến. Một đàng chính những biến động xã hội đã tạo nên làn sóng di dân từ nông thôn lên thành thị hoặc đi lao động tại nước ngoài; đàng khác, tình trạng di dân lại tạo nên nhiều phức tạp về môi trường, xã hội, văn hoá. Dù thế nào chăng nữa, trong tiến trình hội nhập, anh chị em di dân luôn chịu nhiều áp lực về tâm lý, tình cảm, kinh tế, xã hội và cả trong đời sống luân lý đức tin. Họ thật sự cần đến tình thương hiền mẫu của Giáo hội… (số 43).
Thật sự, những vấn đề liên quan đến ‘Di dân’ ra ngoại quốc gặp những khó khăn đều có nguồn gốc từ các tổ chức tuyển đưa công nhân đi làm và cấu kết với các xí nghiệp nước ngoài để bóc lột người Việt. Những người Việt tị nạn hay di dân hợp pháp đều được chính quyền địa phương cấp giấy tờ và các hiệp hội phi chánh phủ giúp đỡ. Cửa nhà thờ rộng mở tiếp nhận các người Công giáo Việt-Nam. Việc cử hành các bí tích Rửa Tội, Hôn Phối được các Linh mục Chính xứ tiếp nhận như các giáo dân tại Giáo xứ.
Bởi thế, cuộc Hội Ngộ Niềm Tin của Cộng đồng Công giáo Việt-Nam qui tụ 3.000 tín hữu Công giáo Việt-Nam hải ngoại khắp năm châu và một phái đoàn đến từ quốc nội từ ngày 25 đến 27.07.2003 tại Rôma. Đề tài chính là mục vụ di dân và số Giáo sĩ ngoại quốc tham dự chỉ có hai vị: Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Thánh Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho Muôn Dân, và Đức Cha Philip Wilson, Tổng Giám mục Giáo phận Adelaide và Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Úc, đại diện cho các Đức Giám Mục tại những Giáo phận có tín hữu Việt-Nam sống và hành đạo.
D. Học thuyết Xã hội Công giáo về Cộng đồng Chánh trị.
1.- Đức Giêsu và quyền hành chính trị
Dù không đồng ý với sự cầm quyền đàn áp và chuyên chế của các nhà lãnh đạo quốc gia, cũng như phản đối tham vọng của họ, nhưng Chúa Giêsu cũng không trực tiếp chống đối các nhà cầm quyền đương thời. Khi đưa ra ý kiến về việc nộp thuế cho hoàng đế (x. Mc 12,13-17; Mt 22,15-22; Lc 20,20-26), Người khẳng định phải trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa và không coi việc nộp thuế cho hoàng đế là chuyện bất công. Người đã phản đối và đã vượt thắng sự cám dỗ của chủ nghĩa cứu thế bằng chính trị. Người là Con Người xuất hiện “để phục vụ và để hy sinh tính mạng mình” (Mc 10,45; x. Mt 20,24-28; Lc 22,24-27) (x. số 379 Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo).
2.- Trong các cộng đồng Kitô hữu sơ khai.
Không phải tùng phục cách thụ động mà ‘vì lương tâm’ (Rm 13,5) đối với nhà cầm quyền hợp pháp là hưởng ứng trật tự do Chúa thiết lập. Thánh Phaolô đã xác định những mối quan hệ và nghĩa vụ mà Kitô hữu phải có đối với nhà cầm quyền là nộp thuế: « Anh em nợ ai cái gì, thì hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính” (Rm 13,7). Thánh nhân cũng không có ý hợp pháp hoá mọi chính quyền khi nói “chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt” (Rm 12,17) (số 380). Khi khuyên Kitô hữu cầu nguyện cho các nhà cầm quyền, cả khi chính mình đang bị bách hại, thánh Phaolô đã gián tiếp cho thấy đâu là điều mà chính quyền phải lo bảo đảm: đó chính là một đời sống thanh bình và yên ổn nhờ sống có đạo đức và phẩm cách (x. 1 Tm 2,1-2) (số 381).
3.- Nền tảng và Mục tiêu Cộng đồng Chánh trị.
a. Cộng đồng chính trị, con người và dân tộc.
Con người là nền tảng và mục tiêu của đời sống chính trị. Vì có lý trí, con người sẽ chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Bản chất cởi mở đối với Đấng Siêu Việt cũng như đối với người khác chính là đặc điểm và là nét đặc trưng của con người.
Cộng đồng chính trị phát sinh từ bản tính ấy của con người; lương tâm con người ‘tỏ lộ cho con người biết và thúc đẩy con người nghe theo’ trật tự mà Thiên Chúa đã ghi khắc trong: ‘một trật tự luân lý và tôn giáo’, chuẩn mực hữu hiệu nhất giúp giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống trong tư cách là cá nhân cũng như là thành viên của xã hội. Đó chính là sự phát triển trọn vẹn mỗi thành viên trong cộng đồng, được mời gọi cộng tác với nhau bền bỉ để đạt được ích chung, dưới sự thúc đẩy của các khuynh hướng tự nhiên hướng con người đến những gì là chân là thiện (số 384).
Cộng đồng chính trị đạt được chiều hướng đích thực của mình là nhờ biết tham khảo nhân dân: ‘cộng đồng chính trị là và cần phải là một đơn vị hữu cơ, có tổ chức của một dân tộc đích thực’. ‘Nhân dân’ không có nghĩa là một đám đông dễ bị điều khiển và bị lợi dụng, nhưng là một tập thể những người, ai cũng có thể có ý kiến riêng về các vấn đề chung và được tự do bày tỏ những quan điểm chính trị riêng của mình, đồng thời tận dụng những ý kiến và quan điểm ấy để làm lợi cho công ích (số 385).
b. Bênh vực và phát huy các quyền con người.
Xem con người là nền tảng và mục tiêu của cộng đồng chính trị có nghĩa là trước hết phải nỗ lực làm cho phẩm giá con người được nhìn nhận và tôn trọng, bằng cách bênh vực và phát huy các quyền căn bản và không thể tước đoạt của con người: « Hiện nay, công ích được bảo đảm cách căn bản là khi các quyền và nghĩa vụ của con người được gìn giữ ». Luật thiết định phải bảo đảm làm sao cho các nhu cầu căn bản của con người được đáp ứng (số 388). Cộng đồng chính trị theo đuổi công ích, khi nó tìm cách tạo ra một môi trường nhân bản, cho phép các công dân thực thi các quyền con người của mình và thi hành trọn vẹn các nghĩa vụ tương ứng của mình. Nếu các chính quyền không có những hành vi thích hợp đối với các vấn đề kinh tế, chính trị và văn hoá, thì các sự bất bình đẳng giữa các công dân sẽ càng ngày càng lan rộng và kết quả là các quyền của con người sẽ trở nên vô hiệu, việc thi hành các nghĩa vụ sẽ bị phương hại (số 389).
Đời sống dân sự và chính trị có ý nghĩa sâu xa không phải trực tiếp từ những bản danh sách liệt kê các quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người. Nhưng đời sống trong xã hội có đầy đủ ý nghĩa khi nó được xây dựng dựa trên tình hữu nghị giữa các công dân và dựa trên tình huynh đệ, các lợi ích của con người được bảo vệ. Phần nhiều, nguyên tắc này chưa được ứng dụng trong hoàn cảnh cụ thể ở các xã hội chính trị hiện nay, chủ yếu là do ảnh hưởng quá lớn của các ý thức hệ cá nhân chủ nghĩa và tập thể chủ nghĩa (số 390). Một cộng đồng có nền tảng vững chắc là khi nó nhắm đến sự phát huy toàn diện của con người và của công ích. Trong trường hợp đó, luật pháp được xác định, được tôn trọng và tồn tại tuỳ theo thái độ liên đới và xả thân cho người lân cận của mình. Con người là một ngôi vị, một bản tính được phú cho trí khôn và ý chí tự do, chứ không chỉ là một cá thể để xây dựng một ‘nền văn minh tình yêu’ (số 391). Để làm cho cộng đồng chính trị thật sự nhân bản bằng cổ vũ ý thức nội tâm về công lý, lòng nhân hậu và việc phục vụ công ích và việc thực thi cách đúng đắn và về các giới hạn của công quyền (số 392).
c. Quyền hành xét như một sức mạnh luân lý.
Quyền hành chính đáng phải được hướng dẫn bởi luật luân lý, tức phải hành sử trong khuôn khổ của trật tự luân lý, vì nhân dân mà quyền hành này hướng tới, nên không thể là một sức mạnh chỉ được đánh giá theo những tiêu chuẩn mang tính xã hội hay lịch sử (số 396). Chính quyền phải nhìn nhận, tôn trọng và phát huy các giá trị nhân bản và luân lý thiết yếu. Đó là những giá trị bẩm sinh, ề phát xuất từ chính sự thật của con người, phản ánh và bảo vệ phẩm giá con người; là những giá trị mà không cá nhân, tập thể hay nhà nước nào có thể tạo ra, sửa đổi hay huỷ bỏ Ừ (số 397). Chính quyền phải ban hành các luật công bằng, tức là những luật phù hợp với phẩm giá con người và phù hợp với những gì lý trí đúng đắn đòi hỏi (số 398).
d. Quyền phản đối theo lương tâm.
Các công dân không bị buộc trong lương tâm phải theo những chỉ thị của chính quyền dân sự nếu những mệnh lệnh ấy trái ngược với những đòi hỏi của trật tự luân lý, trái ngược với những quyền căn bản của con người hay trái ngược với giáo huấn của Tin Mừng. Không được cộng tác, dù chỉ là hình thức, vào những việc ngược với luật Chúa, dù đã được luật pháp dân sự cho phép, đó là một nghĩa vụ quan trọng của lương tâm (số 399).
e. Quyền phản kháng.
Luật tự nhiên là nền tảng và đặt giới hạn cho luật thiết định. Thật chính đáng khi phản kháng những nhà cầm quyền vi phạm các nguyên tắc thiết yếu của luật tự nhiên một cách nghiêm trọng hay liên tục. Thánh Tôma Aquinô viết: « người ta có bổn phận phải tùng phục quyền hành… bao lâu trật tự công lý đòi hỏi điều ấy » (số 400).
Học thuyết xã hội của Giáo Hội đề nghị tiêu chuẩn để thi hành quyền phản kháng: « Phản kháng bằng vũ khí trước sự đàn áp của chính quyền là điều không chính đáng, trừ khi: 1/ có sự xâm phạm các nhân quyền căn bản chắc chắn, nghiêm trọng và kéo dài; 2/ đã sử dụng hết mọi phương thế khác để sửa đổi mà không kết quả; 3/ phản kháng như thế sẽ không gây ra những bất ổn tệ hại hơn; 4/ có hy vọng thành công với những lý do vững chắc; 5/ theo lý trí, không thể dự kiến một giải pháp nào hay hơn » (số 401).
f. Chế tài
Để bảo vệ công ích, chính quyền hợp pháp phải thi hành quyền và nghĩa vụ chế tài theo mức nghiêm trọng của tội ác gây ra, với 2 trách nhiệm: làm thoái chí những người có hành vi gây hại và buộc bồi thường hay trừng trị hành vi tội phạm gây ra (số 402).
Chế tài không chỉ nhằm mục đích bảo vệ trật tự chung và bảo đảm cho con người được an toàn mà còn là một công cụ dùng để sửa chữa người lỗi phạm, một sự sửa chữa cũng mang giá trị luân lý là đền tội nếu người phạm tội tự nguyện chấp nhận hình phạt ấy (số 403).
Các cơ quan có bổn phận xác định trách nhiệm tội phạm cần cố gắng tìm kiếm sự thật một cách kỹ lưỡng và tiến hành công việc với sự tôn trọng đầy đủ đối với phẩm giá và quyền lợi của người bị điều tra. Điều này có nghĩa là phải bảo đảm các quyền hạn của người phạm tội cũng như người vô tội. Phải luôn nhớ nguyên tắc pháp lý: không được bắt chịu hình phạt khi tội ác chưa được chứng minh (số 404).
Ước gì những điều được viết trên đây được thực hiện và chúc Đại Hội Dân Chúa được thành công.