SỨ ĐIỆP HÒA BÌNH 2012 : CÔNG LÝ TẠI VIỆT NAM (Tiếp theo)

- Chị Đỗ thị Minh Hạnh, tuy xuất thân từ gia đình có công với cách mạng. Lúc bị bắt, gia đình dựa vào lý do này để cố gắng xin giảm án. Nhưng chị đã khẳng khái từ chối : « Má lấy thành tích cách mạng của gia đình để được hưởng những quyền lợi, để được giảm án, chính là điều làm sỉ nhục đối với con, vô tình làm nhục con. »

Là nhà bất đồng chính kiến trẻ nhất, năm 20 tuổi, chị bị bắt giam ở Hà nội vì giúp đỡ dân oan kêu cứu. Năm 22 tuổi, chị tham gia giúp đỡ và hướng dẫn phong trào công nhân đình công tranh đấu với giới chủ ở nhiều xí nghiệp. Năm 24 tuổi, chị bí mật vượt đường bộ qua Căm bốt và Thái lan để đến Mã lai tham dự Đại hội kỳ 2 của Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam mà chị là phát ngôn viên Ủy ban Hành động vì Dân chủ Việt Nam với bí danh Hải Yến.

Minh Hạnh đã cùng Đoàn h là một việc uy Chương và Nguyễn Hoàng quốc Hùng, Nhận được lời kêu cứu của công nhân, vào cơ xưởng công ty giày Mỹ Phong tại Trà vinh để trợ lực công nhân đình công phản đối chủ ăn chận tiền lương và tiền thưởng tết vào tháng 1/2010. Cuộc đình công kéo dài một tuần và kết thúc thành công đạt điều quan trọng : « Công đoàn công ty phải do chúng tôi bầu ra và chúng tôi sẽ trả lương bằng công đoàn phí đóng hằng tháng. Công đoàn phí phải do chúng tôi quản lý. »

Ngày 18.03.2011, Toà án Nhân dân Trà vinh xử án phúc thẩm : Quốc Hùng 9, Minh Hạnh và Huy Chương 7 năm tù với tội danh ‘Phá rối an ninh trật tự nhằm chống chính quyền nhân dân’, tức y án Tòa sơ thẩm vào tháng 10.2010, dù luật sư vẫn khẳng định cả 3 đã không hề phạm tội như trong bản cáo trạng đã buộc tội họ.

Minh Hạnh, cô gái 25 tuổi, đã chấp nhận thanh thản bản án 7 năm tù cho sự thể hiện lòng yêu nước, thương đồng bào của mình, nói với mẹ: « Con không tin một người công an nào hết, má hãy nhìn thân thể con đi nè. Má ơi, con rất đau buồn, con không buồn thân thể con, ở tù bao nhiêu năm cũng được… Họ bảo con hãy nhận tội đi rồi sẽ được giảm xuống 4 năm, nhưng không, ở đời thì chết chỉ có một lần mà thôi… để cho họ thấy rằng, họ không được phép coi thường tinh thần bất khuất của dân tộc. Mỗi dân tộc, mỗi một con người, nhất là người lãnh đạo đất nước phải biết rằng ‘Đặt quyền lợi và danh dự của tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân của mình chứ…’. (thân thể Hạnh mang đầy xẹo do bị đánh đập để tra khảo… Ngày 23.01.2009, Hạnh cùng mẹ và chị gái đến trụ sở công an để làm lại giấy chứng minh nhân dân. Khi vừa bước vào trụ sở, Hạnh bị nhiều công an bắt lên lầu đánh đập. Nghe tiếng hét, chị gái Hạnh chạy lên thì thấy khuôn mặt em mình đầy máu. Khi cơ quan công an áp giải Hạnh về nhà lục soát, dù đã bị còng tay, nhưng vẫn tiếp tục bị hành hung với những cú đấm vào đầu và mặt….).

Lần khác, cô nói : « Làm sao để cho mọi người hiểu rằng, trước hết là phải bảo vệ danh dự của dân tộc… họ đánh đập công nhân, lấy giầy ném vào mặt công nhân, làm sao con có thể chịu đựng được,… mà tại sao Nhà nước không bảo vệ công nhân mà lại đi bảo vệ chủ??? để cho họ có quyền đi chà đạp, bắt giam cầm những người công nhân đó… Không thể chấp nhận để người Trung quốc xúc phạm đến danh dự của mình. »

Trên đây chỉ là vài trường hợp trong cả ngàn thảm cảnh khác. Những cuộc đàn áp dân tại Miến điện, thế giới biết vì người Miến ‘biết’ Liên đới và Bổ trợ với nhau (hai nguyên tắc đề nghị bởi ‘Toát yếu về Học thuyết Xã hội Giáo hội’ các số 192… 194 và 185… 187), các vụ sát sinh đồng bào chúng ta bởi nhà cầm quyền cộng sản, người Việt ‘vô cảm’, không lên tiếng thì làm sao thế giới biết tới để bênh vực, đòi Công lý cho mình?

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã ‘nhấn mạnh các giới hạn cần thiết đối với việc can thiệp của nhà nước và nhấn mạnh bản chất công cụ của nhà nước, vì cá nhân, gia đình và xã hội đã có trước nhà nước, và vì nhà nước tồn tại là để bảo vệ các quyền của họ chứ không phải để áp bức họ’ (Centesimus Annus số 11).

« Công dân có nhiệm vụ cùng với các nhà cầm quyền dân sự góp phần vào thiện ích của xã hội, bằng một tinh thần chân thật, công bằng, đoàn kết và tự do… » (số 2239 Giáo lý Hội thánh Công giáo). Đồng thời cũng minh định rõ bổn phận người dân : « ... Việc trung thành hợp tác bao gồm quyền lợi, đôi khi cả bổn phận, phải lên tiếng phản đối một cách chính đáng những gì có vẻ làm tổn hại đến phẩm vị của con người cũng như đến thiện ích của cộng đồng » (số 2238 GLHTCG).

2. Vi phạm tự do tôn giáo.

Ngày 25.09.2008, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã cho phổ biến bản ‘Quan điểm về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay’. Trong đó, các Đức Giám mục đưa ra những nguyên nhân gây ra những khiếu kiện đất đai kéo dài và chưa được giải quyết thỏa đáng vì : luật về đất vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp đà biến chuyển trong đời sống xã hội, đặc biệt là quyền tư hữu chính đáng của người dân. Thêm vào đó, nạn tham nhũng và hối lộ càng làm cho tình hình tệ hại thêm. Sau đó, các Mục tử có những đề nghị cụ thể: Luật về đất đai nên sửa đổi cho hoàn chỉnh, cần quan tâm đến quyền tư hữu của người dân như Tuyên ngôn quốc tế Liên hiệp quốc về Nhân quyền đã khẳng định tại số 17. Các cơ quan truyền thông phải tôn trọng sự thật vì chỉ khi tôn trọng sự thật vì chỉ như vậy truyền thông hoàn thành chức năng thông tin và giáo dục. Một giải pháp thỏa đáng chỉ có thể đạt được nhờ đối thoại thẳng thắn, cởi mở và chân thành, trong hòa bình và tôn trọng lẫn nhau. Người Việt hãy cùng xây dựng đất nước trên nền tảng công bằng, sự thật và tình yêu để quê hương ngày càng giàu đẹp, mang lại hạnh phúc ấm no cho chúng ta.

Gần 40 tháng đã trôi qua, bản ‘Quan điểm...’ này không được nghe nhắc tới... quê hương ngày càng mất về tay ngoại bang, sự giàu nghèo của người Việt ngày càng thêm cách biệt.

Vụ ‘mượn đất không trả’ tại Dòng Chúa Cứu thế (DCCT) Hà nội và Giáo xứ Thái Hà luôn là một thử thách cho Sự thật, Công lý và Hiệp thông. Nhà nước cộng sản coi như đây như là giám điểm để đo mức độ lên tiếng hiệp thông giữa những người Công giáo với nhau ?

Năm 1959, Ủy ban Nhân dân (UBND) Quận Đống đa mời Linh mục Giuse Vũ ngọc Bích và đề xuất vấn đề: chúng tôi muốn MƯỢN nhà của Nhà Dòng. Cha Bích trả lời: ‘Tôi không có quyền cho muợn. Nếu muốn thì liên lạc với cấp Trên ở Sài gòn’. Sau vài phút giằng co, một người trong họ lên tiếng: ‘Ông không có quyền thì chúng tôi có quyền’ (Cha Bích biết thế nào là quyền hạn của ‘người quản lý’). Cha Bích ra về. Hôm sau, họ đến Nhà Dòng với một văn bản định buộc Cha Bích ký, nhưng Cha không có nhà. Thầy Clément Đạt tiếp họ thì họ xin Thầy ký giấy để mượn nhà (sau đó, Thầy bị bắt hôm 09.10.1963 và qua đời trong trại giam ở Yên Bái ngày 07.10.1970). Thầy trả lời : ‘Đó là chuyện của Bề Trên. Họ kéo một cụ cao tuổi tên Cai Trần (ông có chức vụ gì trong Gíao xứ) buộc ký. Chính quyền coi như thế là hợp thức. Hôm sau, họ kéo học sinh vào lập lớp học. Năm 1960, họ dẹp các lớp học và làm bệnh viện. Năm 1972, họ làm cho Cha Bích căn nhà bên cạnh nhà thờ để mượn phần nhà còn lại. Như vậy, chính quyền Quận Đống đa đã MƯỢN nhà đất của Dòng Chúa Cứu thế (DCCT) Hà nội căn cứ theo giấy cho mượn do ông Cai Trần ký, chứ không đúng như Quyết định 2476/QD-UBND ngày 30.06.2008 của UBND Hà Nội nói rằng: ‘Ngày 24.10.1961, linh mục Vũ ngọc Bích đã ký biên bản ‘Hội nghị bàn giao nhà thống nhất quản lý vào Nhà nước’’.

Họ nói ngày 24.10.1961 Cha Bích giao nhà đất cho nhà nước, nhưng sao ngày 30.01.1961 (gần 9 tháng trước), họ đã có quyết định giao đất cho Xí nghiệp Dệt Thảm len Đống đa? Hỏi bằng chứng giấy Cha Bích hiến phần đất này cho nhà nước thì họ trả lời đó là ‘tài liệu mật’. Đến ngày, tài liệu ‘hết mật’ và UBND Hà nội gửi 4 bản phóng ảnh để chứng minh việc chiếm đoạt đất đai của mình. Tất cả đều có điểm đáng bàn cải và, hơn nữa, tại sao có một phần đất phải giao đến 4 lần với 4 thời điểm khác nhau. Do đó, trong phiên họp giữa các linh mục và giáo dân Thái Hà với các lãnh đạo thành phố Hà nội ngày 17.09.2008, khi phía nhà thờ đề cập đến tính bất nhất của những giấy tờ mà phía nhà nước cho là Cha Bích đã ký, thì ông Vũ hồng Khanh, phó chủ tịch UBND Thành phố bảo thuộc cấp: « Thôi thì các đồng chí xem xét bốn giấy tờ ấy, rồi thống nhất chọn lấy một thôi ». Nếu ngày 24.10.1961, ‘Linh mục Bích’ ký bàn giao toàn khu đất (trừ nhà thờ) cho nhà nước thì sao họ không đem biên bản này trước bạ theo qui định của Sắc lệnh số 85-SL ngày 29.02.1952 của Phủ Chủ tịch nước VNDCCH và sang tên trong địa bộ và sổ thuế ?

Từ ngày 18.08.1996, DCCT Hà nội và Giáo xứ Thái Hà đã nhiều lần gửi đơn khiếu nại tới Chính quyền vì đã ‘mượn’ thì phải ‘trả’ là lẽ đương nhiên, khi Thái Hà cần có nơi để phục vụ người nghèo trong xã hội và cử hành phụng vụ với giáo dân mà số người ngày càng tăng. Nhà nước không trả lời, giống như hành động của kẻ cướp vì chúng đã chuyển nhượng và chia chác cho nhau.

Bước sang năm 2011. Ngày 06.10.2011, UBND phường Quang Trung, quận Đống Đa gửi giấy mời cho Linh mục Chính xứ Thái Hà, Giuse Nguyễn văn Phượng, đến trụ sở Ủy ban lúc 15 giờ ngày 07.10.2011 để nghe ‘Công bố dự án Trạm xử lý nước thải Bệnh viện Đa khoa Đống đa’, nhưng phiên họp đã thất bại vì gặp sự phản đối mạnh mẽ của gần 50 giáo dân trong khuôn viên của Ủy ban phường.

Kể từ khi nhà nước mượn, cơ sở Dòng Chúa Cứu thế Hà nội và Giáo xứ Thái Hà đã bị xử dụng không đúng mục đích, xúc phạm nơi thánh như dùng vào việc nhảy nhót, trụy lạc và nhà cửa bị để hư hỏng, xuống cấp nặng nề. Ngoài ra, thời gian vừa qua, UBND Hà nội có chủ trương đưa các bệnh viện ra ngoại thành : trong số các bệnh viện được đề xuất di dời đợt này chủ yếu là các bệnh viện truyền nhiễm nằm trong khu vực mật độ dân cư quá dày đặc… như Bệnh viện Đống đa.

Lúc 14 giờ 45 ngày 03.11.2011, ‘chính quyền’ giở trò hề ‘quần chúng tự phát’ với cả trăm người tự cho là Cựu chiến binh, là Hội phụ nữ, là Thanh niên… xông vào nhà thờ và có hành vi khi xâm phạm nơi tôn nghiêm, đe dọa giết người trắng trợn, dù được báo chí nhà nước tháp tùng để ghi những cảnh vũ phu, cầm 2 loa tay chửi bới, hành hung các tu sĩ (Phó tế Vũ văn Bằng, thầy Nguyễn văn Tặng), linh mục Lưu ngọc Quỳnh và giáo dân. Đa số người trong họ miệng đầy mùi rượu, say máu đã hung hãn dùng búa tạ đập tung cánh cửa cổng nhà thờ. Do đó, Giáo xứ đã kéo chuông, đánh trống để báo động giáo dân ở khắp nơi đã kéo đến rất đông. Lúc này, đoàn người kia đã tự động rút lui.

Khoảng 22 giờ 45 ngày 16.11.2011, 4 xe cơ động chạy vào khu đất DCCT được mượn làm bệnh viện. 23 giờ 30, các nẻo đường bị phong tỏa. Các nhà dân xung quanh bị an ninh, dân phòng cưỡng chế đóng kín. Sau đó, nhiều trăm công an, cảnh sát cơ động, an ninh đủ loại và nhiều thiết bị bắt đầu chiến dịch làm thay đổi dấu tích, xóa bỏ tu viện để chiếm cướp lâu dài.

Báo ‘La Croix’, phát hành tại Pháp, có trường thuật vụ này, nhưng mô tả như

bệnh viện (một Công Ích) cần làm hệ thống xử lý nước thải, nhưng giáo dân Thái Hà ngăn cản khiến nhà nước phải dùng biện pháp mạnh. Điều quan trọng mà người viết ‘quên’ là tính cách bất thường của giờ thi công (Chuyện gì phải làm vào lúc 23 giờ, đâu phải giờ hành chính ?).

Lúc 16 giờ 45, ngày 20.11.2011, trong Thánh Lễ cho thiếu nhi, một dân phòng, mang bảng tên, dùi cui và điếu thuốc lá trên tay đã xông vào nhà thờ và bước lên cung thánh để lăng mạ hai linh mục Đinh tiến Đức và Martin Vũ đồng Tùng đồng tế và giáo dân, rồi cầm thuốc lá dí vào mặt Cha Tùng. Các huynh trưởng của Giáo xứ đã mời dân phòng này ra khỏi nhà thờ một cách ôn hòa.

B. Phải tôn trọng Công lý đối với Tòa Thánh.

1. Một thí dụ.

Năm 2006, khi Đức Hồng y Jozef Glemp, 77 tuổi, Tổng Giám mục Warsaw (Ba lan) được Đức Thánh Cha Biển Đức 16 chấp thuận đơn từ chức, đã giới thiệu Đức cha Stanislaw Wielgus, 67 tuổi, Giám mục Plock từ năm 1999. Trong 7 năm qua, Đức cha đã tạo được sự tin cậy trong Hội đồng Giám mục Ba lan để là thành viên Hội đồng thường trực, đồng Chủ tịch Ủy ban hổn hợp Chính phủ và Hội đồng Giám mục kiêm Chủ tịch Ủy ban Giám mục về khoa học.

Để tìm hiểu về Đức cha Wielgus khi cứu xét hồ sơ đề cử Tổng Giám mục Warsaw, Đức cha Jozef Kowalczyk, người Ba lan, Sứ thần Tòa Thánh, ngày 02.12.2006, đã nhận được sự thề kín của Đức cha Wielgus là đã không làm gì chống lại Giáo hội dù đã cộng tác với mật vụ. Sau đó, Đức Sứ thần đã làm việc với Bề trên là Đức Hồng y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.

Ngày 06.12.2006, Đức Thánh Cha ký Bài Sai cử Đức cha Wielgus vào chức vụ Tổng Giám mục Warsaw và, bốn ngày sau đó, quyết định được chính thức loan báo. Ngày 02.01.2007, Đức Sứ thần xin viện Tưởng Nhớ nạn nhân Ba lan cung cấp hồ sơ liên quan tới Đức cha Wielgus. Ngày 03 và 04.01.2007, các tài liệu về việc Linh mục Wiegus ký tên và trao lại cho cảnh sát xuất hiện trong các báo Ba lan, dù trước đồng bào, Đức cha tiếp tục chối.

Sáng ngày 05.01.2007, Đức cha vẫn phủ nhận đã từng làm mật báo viên và cho rằng việc tiếp xúc với các cơ quan an ninh Ba lan trong thời cộng sản chỉ là để lấy các giấy phép du học nước ngoài. Buổi chiều, lúc 16 giờ, tại Tòa Tổng Giám mục, việc bàn giao sứ vụ Tổng Giám mục đã được thực hiện và trở thành Tổng Giám mục Warsaw. Sau đó, Ủy ban điều tra của Giáo hội Ba lan, sau khi xem xét các tài liệu của công an, đã công bố rằng có đủ bằng cứ để đi đến kết luận Đức cha Wielgus đã cộng tác với mật vụ cộng sản Ba Lan một cách tự nguyện. Tức thì, Đức cha Wielgus xác nhận : « Sự thật tôi đã có dính líu. Tôi đã gây ra thiệt hại lớn cho Giáo hội, và tôi đã lại gây họa lần nữa trong những ngày gần đây trước một cơn sốt truyền thông khi tôi phủ nhận sự kiện cộng tác này ». Việc từ chức, với sự ‘thúc đẩy’ của Đức Sứ thần và Hội đồng Giám mục Ba lan bắt đầu…

Tối ngày 05.01.2007, một cuộc biểu tình ôn hòa đã diễn ra bên ngoài Tòa Giám mục Warsaw. Những người biểu tình đưa ra biểu ngữ ‘non possumus’ tức ‘Chúng tôi không thể chấp nhận’. Họ cho biết họ không thất vọng về quá khứ của Đức Cha cho bằng cung cách Người hành xử trong những ngày qua: tiếp tục nói dối và chỉ nhìn nhận sự thật sau khi đã tiếp quản được Tòa Tổng Giám mục. Theo ý họ, đối với Đức cha Wielgus, chức vụ Tổng Giám Mục Warsaw có lẽ quan trọng hơn lợi ích và tính chất khả tín của Giáo hội.

Sáng ngày 07.01.2007, một giờ trước Thành Lễ nhậm chức, Đức cha Wielgus đã được Đức Thánh Cha Biển Đức 16 chấp thuận đơn từ chức. Ý nguyện Thành Lễ nhậm chức được thay bằng sự cám ơn Đức Hồng y Jozef Glemp.

Ngày 12.01.2007, các Giám mục Ba lan đã họp phiên khoáng đại bất thường để thảo luận về cuộc khủng hoảng sau khi Đức cha Wielgus bị buộc phải từ chức và tập trung chủ yếu vào việc đề ra một chính sách đối với các giáo sĩ đã dính líu với chế độ cộng sản và những bước cần thiết để thanh tẩy Giáo hội khỏi các phần tử này. Ngoài ra, ngày Thứ Tư Lễ Tro 21.02.2007 được chọn là ‘ngày cầu nguyện và sám hối cho toàn thể giáo sĩ Ba lan’, các Thánh Lễ trên toàn Ba lan được cử hành với ý chỉ xin Thiên Chúa và anh chị em ‘tha thứ cho những sai lầm và yếu đuối’ của hàng giáo sĩ Ba lan trong thời cộng sản.

Ngoài ra, khi nói chuyện thân mật với Đức cha P.X. Nguyễn văn Thuận, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, trong đêm 12.09.1998 tại Strasbourg (Pháp), một thành viên Phong trào Giáo dân Việt Nam hải ngoại mời Đức cha đến dự hoạt động của Phong trào nhân dịp Hè 1999, Đức cha trả lời : Phải chờ xem chương trình lúc đó vì, nếu có lời mời của một Hội đồng Giám mục quốc gia nào mời thì phải đáp ứng trước. Từ lời đáp của Đức cha, chúng ta mạn phép suy diễn Tòa thánh, nói chung, và Đức Thánh Cha, nói riêng, thường đáp ứng lời đề nghị của Hội đồng Giám mục một nước về những vấn đề thuộc quốc gia đó. Do đó, khi chúng ta lên tiếng trách Tòa thánh, nên công bằng xem đó có phải là do yêu cầu của các Giám mục đồng bào mình hay không.

2. Vụ kiện Đức Thánh Cha trước Tòa án Hình sự Quốc tế.

Ngày 13.09.2011, ‘Mạng lưới các người sống sót của những người bị linh mục lạm dụng’ Survivors Network of those Abused by Priests, SNAP) cho biết họ đã nộp đơn tại Tòa án Hình sự Quốc tế (International Criminal Court, tiếng Anh) để tố cáo ‘nhiều chức sắc tại Vatican đã dung thứ, bao che một cách có hệ thống hành động cưỡng bức, xâm hại tình dục trẻ em trên khắp thế giới’, với sự hổ trợ của ‘Trung tâm vì quyền hiến định’ (Center for Constitutional Rights), một hội luật sư phi chính phủ Hoa kỳ. Ngoài Đức Thánh Cha Biển Đức 16, bản cáo trạng còn yêu cầu truy tố các Đức Hồng y Angelo Sodano, Tarcisio Bertone (cựu và đương kiêm Quốc vụ khanh Tòa Thánh) và William Levada, Tổng trưởng Thánh Bộ Tín lý.

Nếu thông luật, các luật sư thuộc ‘Trung tâm vì quyền hiến định’ phải suy nghĩ đến khả năng Tòa án Hình sự Quốc tế có thẩm quyền xét xử không vì nhiệm vụ của Tòa án chuyên xử những tội ác chiến tranh, những tội ác chống lại nhân loại và tội diệt chủng được thực hiện sau ngày 01.07.2002, ngày thành lập Tòa án. Tòa này chỉ có pháp quyền đối với 117 quốc gia, những nước đã thông qua Hiệp ước Rome Statute ngày 10.11.1998 và 12.07.1999, Hoa kỳ và Vatican là những nước không tham gia Hiệp ước.

Việc xử lý những linh mục bị cáo buộc xâm hại tình dục là do các Giám mục Giáo phận bổ nhiệm và phụ trách, không do Tòa Thánh quyết định vì việc phân quyền trong Giáo hội rất rõ ràng. Điều này cũng tương tựa trong các quốc gia, Chánh phủ hay chính quyền địa phương bổ nhiệm các giáo chức, nhưng có bao giờ ai nại vấn đề truy tố các viên chức này không ?

Như vậy, việc làm của các luật sư này chỉ để tự quảng cáo, chứ không phải là một hành động đòi Công lý cho các nạn nhân. Đó chỉ là một việc tự cho là ‘hổ trợ’, nhưng là một việc làm không đúng Sự thật và Bất công.